Chồng cũ

Thứ ba, ngày 18-03-2025, 09:16| 1.433 lượt xem

Truyện ngắn của Bùi Thị Mai Anh

 

 

 

 

 

Thằng Thành ngồi trước mặt bố, mồ hôi mồ kê nhễ nhại trên khuôn mặt đen nhẻm vì chạy nắng. Anh thương con quá, bật quạt cho con mát, đi pha cho con cốc nước chanh, rồi hỏi:

- Con ăn sáng chưa?

- Con ăn rồi! Hôm nay chủ nhật, được nghỉ học, con lên chơi với bố. À… bố ơi!... - Thằng bé nhìn quanh, rụt rè.

- Sao con? - Anh dừng tay quấy cốc nước chanh, quay sang nó.

- Nhà mẹ… đêm qua gió to… nên hàng rào bị đổ… Tối hôm qua, con… với mẹ phải lấy áo “bi mưa” che lên đình màn, lấy chậu hứng nước mưa trên giường… Trong nhà đầy nước bố ạ. Sáng nay, chắc… mẹ đang dọn nhà ạ.

Anh “hừ” một tiếng trong cổ họng rồi đưa cho con cốc nước chanh:

- Uống đi con! Chiều bố xuống dọi lại mái nhà và sửa hàng rào cho!

Thằng bé “dạ” một tiếng sung sướng rồi ngửa cổ tu một hơi hết cốc nước chanh đá bố nó vừa đưa. Anh lôi cái điếu cày ra, rít một hơi thật sâu, ngửa cổ phả khói trắng, nhắm mắt, nén một tiếng thở dài trước mặt con. Hai cái nét vạc bên mép anh hằn sâu xuống. Cục yết hầu nhô lên hạ xuống gấp gáp như cố nuốt xuống một cái gì đó thật ghê gớm. Thằng Thành nhìn thấy mẹ kế đang cho em bé ăn bột dưới bếp thì lí nhí chào “Cháu chào cô!” rồi nó lúng túng, chả biết làm gì trong cái không gian chật chội ấy. May quá, con Lê nghe tiếng em, chạy từ bên hàng xóm về cùng cô con riêng của vợ anh, mấy chị em ríu rít chơi với nhau, thế là thằng Thành quên luôn cái lúng túng, ngượng nghịu vừa xong.

Cơm trưa xong, khoảng hơn một giờ chiều, anh đạp xe cùng con về nhà vợ cũ, mang theo tấm giấy dầu và hơn chục viên ngói dạo làm bếp còn thừa, vẫn để đấy. Nói là nhà nhưng đó là một gian trong khu tập thể cũ kỹ, xây cấp bốn từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước nên nó đã xuống cấp trầm trọng. Tường nhà loang lổ những đám vữa tróc hết lớp áo, nham nhở chỗ đen, chỗ nâu, chỗ trắng. Thậm chí, trên bờ tường sau nhà đầy rêu còn có mấy cây dương xỉ gầy guộc bám rễ, rủ mấy cái lá xanh ngắt, dài ngoằng xuống sát bờ rào. Ngói trên mái đã mủn, sũng nước càng thâm đen lại. Nhà nào trong khu tập thể cũng phải phủ lên phần mái nhà mình nào là giấy dầu, lá cọ, khiến khu tập thể đã cũ trông càng nhếch nhác tợn. Nếu có xin được ít ngói thừa ở đâu đó, họ cũng chẳng dám leo lên mái nhà mà dọi lại, vì sợ cái đám cầu phong li tô cũ kỹ, đã trải qua thời gian có thể sập xuống bất cứ lúc nào. Trận gió tối hôm qua đã làm cho cái hàng rào nứa ọp ẹp đổ xô về một phía, mấy cái dèo đỗ cũng đổ gập xuống luống rau muống xanh non đang cố lách qua những tay tre cùng những cây nứa mục gãy mấy khúc.

Thấy anh về, hàng xóm xung quanh đang dọn dẹp nhà cửa ríu ran chào anh, anh cũng vui vẻ chào lại họ. Mấy người còn thì thầm: “Gớm, ông này chu đáo thật đấy! Bỏ nhau mà cứ có việc gì cần, ông ấy lại về hộ!” “Thì chuyện! Ông ấy cũng chỉ nghĩ đến con thôi!” “Chẹp! Rõ khổ!”… Anh nghe thấy hết nhưng lại làm như chả nghe thấy gì cả.

 Trong khi anh đứng ngoài sân ngó nghiêng, đánh giá thiệt hại và nghĩ cách khắc phục cho gian nhà của hai mẹ con thằng Thành thì nó nhanh nhảu dựng xe, chạy vào nhà gọi to:

- Mẹ ơi! Bố xuống dọi nhà cho mình này!

Mẹ nó dừng tay lau nhà, quay ra, không biểu lộ gì với thông tin mà nó vừa thông báo, chỉ đứng tránh sang một bên, không nhìn anh, bảo:

- Anh vào nhà đi!

Anh không nói gì, bước vào nhà. Mọi thứ trong nhà quen thuộc đập vào mắt anh. Vẫn cái tủ lệch anh đóng sau khi có cô con gái lớn để ngay gian khách. Bộ bàn ghế sa lông cải tiến nhỏ xinh anh mua năm thằng Thành tròn hai tuổi vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Gian nhà nhỏ, hẹp, chạy sâu hun hút chia ba phòng: phòng khách, phòng ngủ, phòng bếp, có nhắm mắt lại, đi qua đó, đảm bảo anh không va vào bất cứ vật gì trên đường. Chỉ là một gian nhà tập thể cũ kỹ nhưng trong nhà, mọi thứ gọn gàng ngăn nắp vẫn giống hồi anh ở đó. Trên cái giường ngủ, cái vỏ chăn con công dạo đi biên giới công tác, anh mua về vẫn được gấp vuông vức, để gọn dưới cuối giường. Cái tủ đứng bằng gỗ lát anh đóng năm thằng Thành vào lớp Một, dựng ngăn cách gian khách và gian buồng ngủ vẫn đấy. Có chăng, đó là bức ảnh trên tường, chỉ có ba mẹ con mà không có anh đứng đó. Một cảm giác vừa bồi hồi vừa đau đớn dâng lên, khiến anh phải hít một hơi thật sâu trong căn phòng quen thuộc ấy.

Anh ra sân, lấy miếng giấy dầu to cùng mấy viên ngói đã chuẩn bị trước mang vào. Anh gọi thằng Thành hộ bố giữ thang rồi nhanh nhẹn leo lên, nhẹ nhàng dỡ từng viên ngói mục, dọi lại chỗ dột hôm qua rồi lại nhẹ nhàng đặt lại mấy viên ngói mang theo vào đó. Anh còn cẩn thận ngó nghiêng hết mọi chỗ trên mái xem còn chỗ nào dột nữa không rồi mới từ từ xuống thang.

Ra đằng sau nhà, thấy hàng rào đã quá mục nát, anh quay ra gọi con:

- Thành! Đi với bố!

Dù chẳng biết đi đâu nhưng thấy bố bảo thế, thằng bé thích lắm, “dạ” to một tiếng rồi nhảy phốc lên gác ba ga xe đạp Phượng Hoàng cánh chả của bố nó. Bố nó đưa nó cầm con dao rựa mài rất sắc, sáng loáng, rồi phóng đi.

Hai bố con đến miếng đất mua đã lâu, trồng đầy tre, mai gần vườn Thánh. Thằng Thành đứng ngoài, vặt mấy cái tay tre quay lấy quay để, trong khi bố nó hí húi vào chặt mấy cây tre thau tháu, đám tay tre cứng ngắc bó làm hai bó, buộc vào đuôi xe, rồi hai bố con rong về tận nhà. Vốn con nhà lao động, anh làm rất nhanh và gọn gàng. Anh hì hục một mình chặt, pha, đóng cọc, buộc bẹt, rào lại vườn rau, dựng đám dèo đỗ lên. Đám tay tre còn lại, anh buộc gọn lại, dựng lên gần cái lán để củi đã rất sập xệ, phòng lúc cần dùng đến. Mãi đến hơn bảy giờ tối, anh mới làm xong. Rửa qua tay, không nhìn cốc nước chè xanh (thứ nước anh thích uống nhất) vợ cũ rót ra để sẵn trên bàn, anh quay ra bảo thằng Thành:

- Bố về nhé! Có việc gì, nhớ bảo bố!

Không chào vợ cũ, anh lên xe đạp thẳng về nhà.

Đêm đó, anh mất ngủ.

Anh từng có một tình yêu đẹp như tiểu thuyết. Cả hai người đều cao ráo, trắng trẻo, chị lại có tài ăn nói nữa. Anh đẹp trai, cười rất tươi, đặc biệt rất khéo tay, việc gì anh cũng làm được, từ cấy hái đến đục đẽo làm nhà làm cửa. Những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, cả hai anh chị đều xung phong đi bộ đội. Trong mười năm ấy, anh còn luôn xin được cấp trên cho chị đi cùng đơn vị với anh. Họ thường được bạn bè trong quân ngũ khen đẹp đôi. Sau khi miền Nam giải phóng, ra quân, họ mới làm đám cưới. Anh được cả nhà họ ngoại quý vì cái tính ít nói nhưng chu đáo, nói là làm của anh. Có việc gì, bố vợ anh cũng bắt phải gọi anh xuống bằng được.

Từ quân ngũ trở về nên mọi thứ trong gian nhà tập thể chật chội được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp. Đến cả cái chỗ để củi, anh cũng dựng một cái lán nhỏ, kê thật gọn ở góc vườn để củi không ướt, cho vợ con tiện lấy, bên trên, còn có mấy cái ổ gà đẻ đặt vững chãi. Lần lượt hai đứa con một gái một trai ra đời, giống hệt bố mẹ cao ráo, trắng trẻo, ngoan ngoãn. Hai anh chị cùng làm việc ở một cơ quan ngay gần khu tập thể. Ở cùng khu tập thể, anh luôn được hàng xóm lấy làm gương ông bố chăm chỉ, chiều vợ chiều con, thân mật với hàng xóm.

Bước ngoặt lớn nhất trong cuộc đời anh xảy ra theo cái cách không ai ngờ tới.

Hôm ấy, anh vừa trên quê về, lỉnh kỉnh đủ thứ trên xe cả đằng trước lẫn đằng sau. Anh sững người khi thấy rất đông người đang tò mò xúm lại trước cửa gian nhà bé tí của vợ chồng anh. Vợ anh ngồi ôm đầu trên cái ghế nhỏ. Thụ, người bạn thân từng vào sinh ra tử trong những năm đi bộ đội cùng nhau, làm ở cơ quan thương nghiệp đang bị còng tay, đứng đó cùng mấy đồng chí công an.

Rồi anh cũng hiểu. Thì ra, do mâu thuẫn với giám đốc, bạn anh đã lấy trộm toàn bộ đám tem phiếu để trên bàn ông ấy, gói ghém cẩn thận thành một bọc, mang đến nhà anh nhờ cất hộ cách đây mấy hôm mà không nói nó là cái gì. Lúc ấy, anh đang giở tay, bảo bạn anh để đâu thì để, cũng chẳng hỏi nó là cái gì. Ông bạn mang bọc tem phiếu ra chỗ cái lán nhỏ để củi, giấu xuống dưới mấy cái ổ rơm cho gà đẻ rồi ra về. Chuyện nhanh chóng vỡ lở. Bạn anh buộc phải đến nhà anh để lấy lại cái bọc đã gửi. Trước mặt công an, cái bọc được mở ra, toàn tem phiếu đã đóng dấu. Anh nhìn bạn, bạn anh cúi gằm mặt, không dám nhìn anh. Anh bị công an đọc lệnh phạm tội chứa chấp đồ ăn cắp. Thụ chịu án bảy năm, anh cũng bị án năm năm. Mọi thứ đổ sụp trong tích tắc.

 Những năm trong tù, thời gian dài đằng đẵng. Anh thương vợ anh phải vất vả gánh nước từ cái giếng dưới chân đồi lên nhà, phải bổ củi, phải nấu cơm…, những việc bình thường, anh không để chị mó tay. Anh thương chị hàng ngày phải chịu đựng lời ra tiếng vào vì có chồng ăn cắp, bị đi tù. Anh thương hai đứa trẻ ngơ ngác, chả hiểu có chuyện gì mà bố nó đi lâu thế không thấy về, mà hàng ngày lũ bạn cùng trang lứa chả đứa nào chơi cùng… Hàng đêm, anh thức trắng, không ngủ được vì cái tội danh không hiểu sao lại rơi xuống đầu anh vô lý như thế. Rồi anh cũng được tha tù sớm trước hai năm do quyết tâm cải tạo tốt.

Ra tù, chưa kịp vui mừng ngày đoàn viên, ngay đêm hôm đầu tiên, vợ anh đưa anh cái đơn ly dị. Chị không chịu được một ông chồng có án như thế trong khi sự nghiệp của chị đang lên như diều. Anh chết lặng. Biết tính chị kiên quyết, anh không nói năng gì,chỉ thở dài rồi cầm bút ký. Thì anh đúng là một thằng tù vừa mãn hạn mà. Tài sản chả có gì ngoài hai đứa con, anh nhận nuôi con lớn, chị nuôi thằng bé.

Mất hết tất cả, anh về trên quê, hàng ngày hùng hục làm tất cả mọi việc để mưu sinh, để quên đi nỗi đau đớn hơn cả việc anh bị đi tù. May là trên quê còn rất nhiều đất, anh em nhường anh một khoảnh để làm nhà, trồng cấy. Hai cái sọt to sau chiếc xe đạp Phượng Hoàng màu cánh chả luôn đầy ắp các thứ theo mùa rong ruổi từ quê ra thị xã cũng đủ cho bố con anh sống tùng tiệm. Khuôn mặt điển trai của anh giờ đanh lại, đầy những nét vạc hằn sâu, sạm đen mưa nắng. Cái tính hay cười hay nói giờ đã biến mất. Anh luôn có cái nhìn hằn học, chua cay trong mỗi lời nói, ánh nhìn.

Qua những người bạn và gia đình bên ngoại, anh biết Lan, vợ anh, đã không còn chung thủy với anh. Khi anh đi tù, ông giám đốc đã hứa với cô ấy rất nhiều mà cái thành quả nho nhỏ ngay lúc đó là cái chức Trưởng phòng Hành chính. Sự đổi chác tình - chức ấy nhanh chóng kết thúc bởi bà vợ ông ta đánh ghen tơi bời và ông ấy bị chuyển đi cơ quan khác. Rồi, chẳng bao lâu, cơ quan đó bị sáp nhập với một đơn vị khác, thừa ra cái chức Trưởng phòng của chị. Chị đành xin nghỉ hưu non. Anh không hiểu vì sao vợ anh có thể quên những ngày ác liệt nơi chiến trường, lúc nào hai người cũng luôn ở bên nhau, anh luôn che chở cho cô ấy. Anh cũng không biết vợ anh hiểu hay cố tình không hiểu cái án mà anh phải chịu hoàn toàn không phải do anh tự gây ra. Anh cũng không hiểu được vì sao Lan có thể dễ dàng đánh đổi gần hai mươi năm hạnh phúc để lấy những thứ phù phiếm thế kia. Nước mắt chảy ngược vào trong làm anh càng ngày càng khắc khổ, đen sạm đi. Từ đó, anh càng ít nói hơn nữa.

*

Được bà chị họ mối lái, anh quen và quyết định đi bước nữa cùng Ngân, một cô giáo Tiểu học còn trẻ, chồng cũng mất mấy năm rồi. Thế là, bố con anh về ở cùng với hai mẹ con cô ấy trong một căn nhà gỗ ba gian do chính anh tự tay đục đẽo, dựng lên bằng gỗ xoan, tre pheo trong vườn nhà. Rồi họ có thêm một thằng cu.

Anh cũng vẫn chiều vợ mới như thế, anh vẫn làm tất những việc nặng, vợ anh chả phải làm gì ngoài ăn uống, đi dạy, chăm con. Có hôm, vợ anh đòi đi lấy củi cùng anh, anh chuẩn bị đồ ăn, nước uống, hoa quả từ tối, sáng hôm sau, hai vợ chồng lên rừng. Đến nơi, anh tha hết các thứ đã chuẩn bị lên trước rồi quay lại cắp vợ lên sau. Để vợ ngồi với đống đồ ăn ở đấy, anh đi lấy củi. Lúc lấy củi xong, anh lại vác củi xuống trước rồi lên cắp vợ xuống. Lần sau, vợ anh không dám đòi đi theo nữa vì sợ chồng vất vả quá.

Mặc dù đã ly dị vợ nhưng khi con trai anh cần, anh đều xuống và giúp nó tất cả. Thậm chí, năm nào cũng như năm nào, ngày tết, anh còn tranh thủ mang thịt, gạo, tiền xuống sớm cho con khỏi mong. Đầu năm học, anh xuống đưa con đi mua quần áo mới, sách vở, không bao giờ để vợ cũ kêu, con nhắc, nhưng vẫn không bao giờ nói một lời nào với vợ cũ cả. Bọn trẻ con nhà anh chỉ gọi Ngân, vợ mới của anh là cô nhưng Ngân cũng không buồn vì điều đó. Rất may, cô con gái nhỏ của Ngân rất yêu quý anh và anh cũng luôn yêu thương nó như con đẻ.

Lần ấy, con lợn nhựa của con Thúy (con riêng của vợ anh) bị mất, trong khi đứa con gái lớn đang học lớp Chín của anh lại có tiền mua quần áo, giày dép mới. Ngân nói với chồng, hỏi con gái xem thế nào. Anh gọi con, hỏi, nó bảo mẹ nó cho tiền. Rồi nó bù lu bù loa đổ cho Ngân ghét nó mà đổ điêu cho nó. Nó đùng đùng bỏ về nhà mẹ đẻ. Chả biết nó nói gì với mẹ mà chiều hôm đấy, bà vợ cũ phóng xe đưa con Lê lên nhà anh, chỉ tay vào mặt Ngân, quát:

- Cô đừng có bắt nạt con bé. Nó không bao giờ ăn trộm của ai cái gì, Con tôi, tôi biết! Cô bảo ông ý có nuôi nổi con Lê không hay để tôi nuôi tất?

Ngân chưa kịp nói gì thì anh từ trong bếp đi ra, lạnh

lùng nói:

- Cô không biết gì thì im đi! Bấy lâu nay, cô có quan tâm gì đến con bé đâu mà biết với chả không biết. Nó bảo cô cho nó tiền để sắm quần áo mới đấy, cô trả lời đi! Cô mà cho nó tiền để mua được từng ý thứ thì tôi đi đầu xuống đất. Vì nó là con tôi nên tôi phải chịu đấy thôi. Cô hỏi con Lê xem, nó có đồng ý để cô nuôi không? Liệu mà ăn nói, kẻo nó lại …

Mặt bà Lan từ đỏ chuyển sang trắng bệch vì xấu hổ, đùng đùng dắt xe bỏ về. Con Lê bước ra, lí nhí:

- Con xin lỗi bố! Cháu xin lỗi cô!...

*

Cuộc sống cứ thế trôi đi. Rồi con gái anh lấy chồng. Mặc dù nó ở với anh nhưng vợ cũ của anh nhất định đòi tổ chức cho con ở dưới nhà của chị ấy. Anh đồng ý. Vì hạnh phúc của con, anh cũng chẳng cần câu nệ làm gì, miễn con anh vui. Trên cái thiếp mời, chị vợ cũ tai quái đặt tên mình trước tên anh, anh cũng không cần tranh cãi. Hôm đám cưới, anh vẫn ăn mặc chỉnh tề, tươi cười đứng trước cửa rạp cùng chị xúng xính áo dài rực rỡ đón khách. Anh đi từng mâm, mời khách, mừng cho con gái xong, anh về, không ăn một miếng nào.

Khi con gái anh từ Hà Giang về nhà chồng sinh con, mẹ đẻ nó đón xuống nhà chăm một tháng. Nhưng chỉ được vài hôm, con Lê nằng nặc đòi về trên nhà anh. Thì ra, hai mẹ con chẳng hợp nhau, mẹ đẻ nó khó tính đã đành, lại còn cổ hủ trong chế độ ăn uống cho bà đẻ, con gái anh không chịu được. Anh cùng vợ xuống đón mẹ con nó về trên nhà. Sợ mất mặt với Ngân, bà Lan nhất định không đồng ý cho mẹ con con Lê đi. Nhưng nó đòi đi bằng được. Vợ anh khéo léo, nhẹ nhàng, biết cách chăm sóc mẹ con nó nên tình cảm mẹ kế con chồng khá lên rất nhiều, con Lê đã gọi vợ anh là bà trẻ thay con.

Thỉnh thoảng, vợ cũ của anh cũng lên thăm cháu. Những lúc ấy, anh đều tránh ra vườn làm gì đó, không ngồi lại cùng hai người đàn bà. Sau vài lần như vậy, vợ cũ của anh cũng mở lòng với Ngân:

- Anh ấy nóng tính nhưng sống chu đáo, tình cảm. Tôi với anh ấy không có duyên để đi tiếp cùng nhau. Cô đằm tính hơn tôi, cô cố gắng chiều anh ấy một tý nhé!

Chả biết vợ anh nói gì mà thấy chị vợ cũ chăm lên chơi, có hôm còn ở lại ăn cơm, nghỉ lại buổi trưa cùng con gái và cháu ngoại rồi mới về. Mà cũng chả biết vợ anh nói gì mà thấy chị vợ cũ chủ động nói chuyện với anh. Sau từng ấy năm, chị biết mình có lỗi với anh rất nhiều. Vì vậy, sau chuyện với ông giám đốc, chị không có ý định yêu ai và quyết định ở vậy. Chị mong anh tha thứ, chỉ xin được đi lại, giữ lại tình bạn bè cho các con đỡ tủi. Anh im lặng, cũng chẳng biết nói gì.

Hôm chia tay để hôm sau, mẹ con con Lê đi Hà Giang, chị Lan còn mời hai vợ chồng anh về dưới nhà ăn cơm. Cứ thế, hai nhà đi lại với nhau, vui vẻ hơn rất nhiều. Sau khi thằng Thành lấy vợ, có cháu nội thì hai nhà đã trở nên thân mật lắm rồi. Các con anh biết yêu quý Ngân hơn, luôn miệng gọi bà trẻ, bà trẻ. Bốn đứa con giờ như anh em một nhà, Tết nào cũng quây quần bên nhau, ăn hết nhà dưới đến nhà trên.

*

Vợ cũ của anh vẫn ở trong cái gian nhà tập thể cũ kỹ ấy. Khi chị quyết định xây nhà trên miếng đất được cấp gần khu tập thể cũng là lúc chị đổ bệnh. Thấy mẹ xanh xao, hốc hác, các con anh đưa chị đi khám ở Hà Nội. Kết quả, chị bị K dạ dày. Bọn trẻ không dám nói với mẹ, lên nhà bố bàn. Anh và vợ bảo bọn trẻ đưa mẹ lên Hà Giang chơi, đừng nói gì với mẹ về bệnh tật, toàn bộ việc xây nhà ở dưới này, anh sẽ giúp. Hàng ngày, anh đi xe máy xuống, trông coi thợ thuyền, đốc thúc công việc để ngôi nhà của vợ cũ xong càng sớm càng tốt. Rồi cũng đến ngày chị vợ cũ về nhà mới. Chị Lan cảm ơn vợ chồng anh qua hàng nước mắt giàn giụa. Các con anh làm việc trên Hà Giang, chia nhau về trông mẹ. Những ngày nhỡ nhàng, chúng nó không về kịp, không anh thì vợ anh xuống chăm chị Lan…

Hôm vợ cũ anh mất, cả hai vợ chồng anh xuống, cùng các con lo hậu sự cho chị đầy đủ. Dù cố gắng tỏ ra bình tĩnh nhưng nén hương trong tay anh khi thắp cho người vợ cũ vẫn run lên bần bật.

Sau đám tang, các con anh thu dọn đồ đạc, di vật mẹ chúng để lại. Trong một cái hộp sơn mài đã tróc sơn, có một gói nhỏ. Con Lê mở ra. Trong ấy là chiếc lược do chính tay anh cắt mảnh đuy - ra máy bay, tỉ mẩn cưa từng chiếc răng lược, khắc lên trên đó chữ cái tên hai người lồng vào nhau cùng ngày tháng năm họ ở chiến trường, bên ngoài là chiếc khăn tay chị tự thêu, có đôi chim bồ câu đan cánh vào nhau ở góc khăn. Trong đó còn có cuốn sổ tiết kiệm mang tên anh trị giá bảy mươi triệu đồng. Con Lê và thằng Thành mang ra đưa cho bố. Anh nhìn chiếc lược rất lâu, gấp lại trong chiếc khăn tay rồi bảo con Lê cất đi. Còn cuốn sổ tiết kiệm, anh bảo:

- Thành, con cất đi! Bố không cần dùng đến! Để lúc có việc thì lấy mà lo cho mẹ!

 

B.T.M.A

Minh họa của Tân Hà

Tin tức khác

Thơ

Bờ sông ký ức

29-12-2025| 445 lượt xem

Tình người tình đất Tuyên Quang

26-12-2025| 419 lượt xem

Dạm ngõ

26-12-2025| 40 lượt xem

Chiều cuối năm bên mẹ

26-12-2025| 38 lượt xem

Miền mây trắng

26-12-2025| 18 lượt xem

Văn học nước ngoài

Guillaume Apollinaire

11-04-2024| 3.119 lượt xem

Thơ ca cần sự chỉ dẫn đúng cách

29-02-2024| 3.642 lượt xem

Đồ tể

20-11-2023| 3.756 lượt xem