Bóng núi đổ dài

Thứ năm, ngày 23-10-2025, 10:10| 408 lượt xem

Truyện ngắn dự thi của Nguyễn Phú

 

 

 

 

Quả bí cuối cùng được mẹ lấy từ gác xuống. Cái gác này treo phía trên bếp lò, làm từ gốc cây luồng già, giờ nó đen bóng vì ăn khói. Nâng quả bí lên ngang mặt, mẹ nhìn như hút vào da bí xỉn vàng. Mẹ buông tiếng thở dài... Những cơn gió bên ngoài cào lên từng mỏm đá tai mèo lạnh lẽo, khô rộc. Đã hai tháng vùng này không có mưa. Người khát. Vật nuôi khát. Cây cỏ khát. Đất đá càng khát... Ngô không mọc được, cỏ không mọc được. Bò dê ngựa không có cỏ ăn, nước uống nên xơ tóp, chết dần chết mòn. Vật nuôi, cây cỏ không sống được thì người sống sao nổi đây? Ngày qua ngày, đàn ông, đàn bà, người già, con trẻ cứ nhìn nhau bằng con mắt xám bạc, u sầu rồi thở dài. Trên bờ rào đá, từng đám rêu khô cũng bở ra, rơi lả tả trong gió khô. Tường trình đất của những nhà được làm dày nhất còn nứt toác hoác, nắng chiếu vào tận bên trong như muốn thiêu đốt thêm niềm hi vọng của con người. Thung lũng Vần Chín được bốn bề núi dựng, quây kín. Người già bảo bóng núi đổ dài, đè lên mỗi phận người ở thung lũng này, từ lúc chào đời cho đến khi về với ông bà tổ tiên. Hạn, nắng nóng làm thung lũng thành cái chảo lửa. Người, vật nuôi như đàn kiến trong cái chảo ấy...

Cụ Vàng Seo Tăng năm nay một trăm linh hai tuổi, là người già nhất ở thung lũng Vần Chín, bảo từ lâu lắm rồi, dễ đến chín mươi năm lẻ nay mới lại có một trận hạn hán kéo dài khủng khiếp đến thế. Năm cụ Tăng chín, mười tuổi từng chứng kiến một trận hạn như muốn thiêu đốt tất cả. Mặt trời như gã hung thần lừ lừ trên bầu trời, lia cái lưỡi lửa gớm ghiếc xuống mọi ngóc ngách dưới mặt đất. Nắng đến nỗi lông dê ngựa cháy xém, cháy xèo xèo cả vào da. Có người đàn bà cho con bú, giọt sữa vương, chưa kịp rơi xuống đất đã bốc hơi... Sau đợt hạn, người trong vùng chỉ còn một nửa. Những cái mả mới mấp mô trong đá, làm khu rừng mả rộng ra, tưởng như vô tận. Thế nhưng lạ là chả có dòng họ nào bỏ cái thung lũng chết khô chết khát mà đi... Ông nội bảo với bố cụ Tăng: “Người Mông mình chạy khỏi sự truy đuổi của kẻ thù đã nhiều đời. Không đâu tốt như ở nơi này... Nắng hạn rồi cũng đến lúc phải hết. Họ Vàng ta cứ ở lại thôi...”. Mùa thu năm ấy, trời trong mát lạ kỳ, thi thoảng có một đợt mưa ấm lất phất bay. Cây cỏ cựa mình tách vỏ, lá hoa bừng lên như giữa mùa xuân. Trong nhà còn hạt giống nào đàn ông hô đàn bà, đàn bà thúc trẻ con cùng nhau đi tra hạt. Vụ ngô đó, nhà nào nhà nấy không còn chỗ chứa ngô trắng, ngô vàng. Có nhà còn treo lủng lẳng những túm ngô dưới mái ngói âm dương bên trên chiếc cổng gỗ.

Đợt hạn hán xa xưa là như thế, đợt này thì không ai biết được sẽ kéo dài đến bao lâu. Cụ Tăng đã được tổ tiên họ Vàng gọi đi năm ngày rồi. Người nhà họ Vàng chẳng còn lòng dạ nào làm ma tươi cho cụ. Người con trai trưởng cụ Tăng không đủ sức để vác cây súng bắn báo hiệu, vì ông cũng quá già yếu. Thế là Vàng Khái Pó, cháu nội cụ Tăng phải làm việc đó thay bố. Thầy cúng trong vùng đã bỏ cõi người đi trước đó một tháng, người họ Vàng phải tự làm lễ để rước cụ về với tổ tiên.

***

Xoẹt... xoẹt... xoẹt... Mẹ thái từng miếng bí trễ nải, rời rạc. Không biết mẹ nghĩ gì. Thằng Chùa và con Pàng đùa nghịch một lúc mệt quá đã ôm nhau ngủ góc giường. Chị Den đang ngồi quấy nồi cháo ngô. Lúc chiều, khi mẹ sai chị lấy bột ngô để làm bữa tối, tôi thấy tay chị rụt nhanh như sờ vào lửa khi vừa chạm vào đáy thùng nhựa. Những hạt gạo, sợi mì cuối cùng của đợt hỗ trợ đã hết từ lâu. Mẹ và chị phải lấy những hạt ngô giống còn lại được cất kỹ trong thùng gỗ, rồi cùng nhau hì hụi quay cối đá. Bây giờ thì những mảnh bột ngô cũng đã cạn đến đáy thùng.

Chị Den vừa quấy cháo ngô vừa tước những sợi lanh dài. Công việc này chị đã làm gần hai tháng, khi vụ lanh được thu hoạch. Dường như đây là công việc chị thích nhất. Chị có thể ngồi từ sáng đến trưa, từ trưa sang chiều, đến tối, thậm chí là qua đêm để tước lanh. Con gái ở vùng này biết tước lanh, dệt vải từ khi lên chín, lên mười. Và năm mười hai, mười ba tuổi có thể làm váy áo cưới để chuẩn bị cho cuộc đời đi làm dâu của mình. Năm nay, chị Den đã bước sang tuổi mười bốn, chị lớn hơn một chút so với ngày mới đến ở nhà tôi, nhưng vẫn thua tôi một cái đầu, dù tôi kém chị ba tuổi. Chị có nước da tái xanh, mái tóc hơi hung đỏ và đôi mắt to đen, lúc nào cũng như muốn khóc. Dù không mang họ Sùng, nhưng chị vẫn là máu mủ nhà tôi. Mẹ từng nói với tôi như thế sau một lần chị bị bố đánh vì làm lạc mất một con dê. Mẹ chị Den là chị gái ruột của bố. Bố chị đã chết từ lâu, chị gái chị theo nhà chồng vào mãi tận Lâm Đồng, còn mẹ chị sang bên kia biên giới hơn một năm chưa thấy trở lại. Tôi còn nhớ ngày đầu tiên chị đến nhà tôi. Đó là một buổi sáng sớm mùa xuân, trời lạnh lắm, thi thoảng có một vài bông tuyết bay trong gió. Chị mặc bộ váy áo cũ kĩ, có một miếng vá dưới gấu váy. Đầu chị đội chiếc khăn đã bạc màu. Trên tay chị ôm một con gà trống màu đỏ tía và theo sau chị là con chó mực gầy lòi xương. Có lẽ chị đã đứng rất lâu trước cổng nhà tôi. Khi mẹ mở cổng đi cắt cỏ voi thì thấy chị như một tảng đá trồi lên từ lòng đất. Con gà lim dim trên tay chị và con chó nằm ép sát vào bàn chân chị. Mẹ gọi toáng lên, bố chạy vụt ra, bọn trẻ chúng tôi thì giật mình, rồi cũng kịp bám theo chân bố. Vừa nhìn thấy bộ dạng của chị, bố lắc đầu, quay ngoắt vào nhà. Còn mẹ, bản năng của một người mẹ như dòng suối mát cần tưới tắm cho muôn cây đã thúc giục mẹ dang rộng đôi tay ôm chị vào lòng. Bấy giờ chị Den mới nấc lên... Lúc sau, chị Den đưa cho mẹ một tờ giấy gấp nhàu, trong đó bác gái tôi nhắn rằng bác phải sang bên kia biên giới làm thuê, gửi chị ở nhà tôi, khi nào bác về thì sẽ đón chị. Nhưng rồi bao ngày chị chờ mà bác không về, có thể ngày mai, ngày kia cuộc ra đi của cả nhà tôi sẽ không có chị. Bố tôi đã định đoạt rồi, mẹ sẽ không thể làm khác được...

***

Đêm sâu ngun ngút. Trăng đỏ ối như bát tiết gà mới cắt. Vài tiếng dế vừa cất lên bỗng nghẹn lại, im bặt. Chỉ tiếng bầy quạ quà... quà... quà... khản đặc thi thoảng lại rít từng hồi. Nóng bức bối, nóng điên người và tiếng quạ làm tôi không ngủ được. Cả nhà chỉ thằng Chùa và con Pàng đã vào giấc. Tôi nghe tiếng bố mẹ rì rầm ở giường bên.

- Bố thằng Sênh định để con Den ở lại thật à? - Tiếng mẹ nhẹ như một hơi gió từ phía ngoài lọt vào trong nhà, nhưng gió thì nóng hầm hập, khô cháy còn tiếng mẹ thì buồn, hoang lạnh và như có nước.

- Đưa nó đi sao được chứ? Ngựa không mang nổi đuôi ngựa lại lo cho dê... Nhà đã năm người rồi...

- Không còn cách nào tốt hơn à? - Mẹ lại hỏi.

Bố nói như gắt:

- Hỏi gì mà hỏi lắm thế! Đã bảo là không. Nghĩ nát gan ruột cả tháng nay chứ có phải không nghĩ đâu...

- Thế con Den sống thế nào?

- Không phải lo, đã mua hai bao ngô và gửi ba con dê bên nhà Trọ rồi.

Trọ là chú tôi, em kế bố tôi, nhà bên Sán Tủng Thài. Chú lấy vợ bên đó và ở bên nhà vợ đã bảy năm. Thi thoảng, nhất là vào dịp tết, chú thường dẫn vợ và hai đứa con sang chúc tết nhà tôi. Năm trước, tôi và chị Den được mẹ dẫn sang bên đó chơi, là khi ấy vợ chú mới sinh đứa con thứ ba. Vậy là bố đã sắp đặt cả rồi. Cũng phải, chị Den không thể đi theo nhà tôi được, chị còn phải đợi mẹ chị về. Vả lại, chỉ có một chiếc xe máy, sáu người làm sao có thể cùng cưỡi lên được. Nhưng mỗi lúc nghĩ phải dời ngôi nhà này mà đi tôi buồn lắm. Núi rừng, nương ruộng bàn chân tôi đã quen bước. Hoa cải vàng, hoa tam giác mạch trắng hồng, hoa pằng nảng đỏ, cây lanh mướt xanh, bắp ngô chín vàng mắt đã quen nhìn. Tiếng mõ trâu lốc cốc, tiếng chuông bò leng keng, tiếng lạc ngựa rúc rắc... tai đã quen nghe. Bao đời họ Sùng nhà tôi ở đây, rễ người đã cắm sâu hơn rễ đá xuống đất này. Nói đi là đi, dễ như rút chân khỏi đống than bỏng hay sao? Tôi chưa biết cả nhà sẽ đi đâu. Bố bảo người ta đi, mình cũng phải đi. Bố đã có người lo cho mọi chuyện ở bên kia rồi. Ở lại không chết nóng, chết khát thì sẽ chết đói. Không ai hỗ trợ mình, cứu mình, cho mình mãi được, tự mình phải tìm lối mà kiếm cái ăn, cái sống thôi.

***

Tôi biết chị Den chưa ngủ mà chị cố nằm im, vì hẳn là chị biết tôi còn thức. Phận ở nhờ nên lúc nào chị cũng khép nép, sợ sệt và buồn tủi. Mẹ thương chị. Tôi và hai đứa nhỏ nhất nhà thương chị. Nhưng bố thì không thương chị nhiều, vì lúc uống rượu say là bố lại lè nhè chửi chị, bảo chị đến cho cái nhà này thêm khổ. Ấy thế, khi tỉnh rượu là bố hỏi chị, vì sợ chị bỏ đi mất. Trời cho chị Den cái đầu óc sáng láng và đôi tay khéo léo nên chị biết làm nhiều thứ lắm. Chị tra hạt thoăn thoắt. Chị làm cỏ ngô nhoay nhoáy. Chị băm rau lợn phầm phập. Những sợi lanh chị tước chả bị đứt bao giờ, nhỏ tí, trăm sợi như một. Chị thêu tấm vải nào tấm vải ấy biến thành bức tranh lộng lẫy, reo vui.

Chị Den trằn trọc, xoay qua xoay lại mấy lần, những dát nứa bên dưới lưng chị rít lên ken két. Có lẽ chị nghĩ tôi đã ngủ thiếp đi rồi. Và tôi nghe thấy tiếng khóc của chị, rất khẽ, bị kìm lại trong cổ, thành tiếng nấc, bức bối và uất nghẹn. Vậy là một lần nữa chị sẽ bị bỏ rơi. Có một hôm bố nói với mẹ: “Con Den lớn chút nữa gả chồng là vừa. Mẹ nó không về nữa đâu, chắc lấy chồng bên kia rồi...”. Mẹ không tin là bác tôi có thể bỏ đứa con đứt ruột đẻ ra để đi lấy chồng khác. Mẹ nghĩ một ngày không xa bác sẽ trở về đón chị. Điều ấy làm mẹ yên lòng hơn khi bố quyết định để chị ở lại.

***

Gió thông thốc thổi. Và nắng như kéo cả bầu trời ụp xuống thung lũng. Những tảng đá tai mèo nhấp nhô trơ dưới nắng như những tử tù trước giờ hành quyết. Con chó mực nằm rên hừ hừ bên cạnh cối xay ngô. Chiếc cối này đã mòn vẹt. Bố bảo từ ngày cụ tổ về đây thì anh em cụ cùng đẽo nên cái cối. Qua bao đời, không biết bao hạt ngô đã bị nghiền nát giữa hai thớt cối. Đời nối đời những người con họ Sùng lớn lên nhờ mèn mén, từ cái cối này. Bố nhìn rất lâu vào cái cối, rồi ngồi xuống quay vài vòng. Tiếng hai thớt đá nghiến vào nhau cồng cộc. Bố nhấc cây khèn treo trên vách, tay run run lần sờ những ống trúc. Cây khèn nâu bóng này còn hơn cả tuổi tôi. Năm mười lăm tuổi, bố được ông nội tôi chỉ cho cách làm ra nó. Và chính âm thanh bay bổng, réo rắt, da diết của nó đã làm mẹ không thể chọn chàng trai nào khác ngoài bố. Khèn đã đưa hồn ông bà tôi về lại đất Dương Châu, đưa bao hồn người ở Vần Chín này về cố thổ. Bố đặt môi vào ống trúc, nhưng rồi bố khựng lại, tay buông xuống. Bố đặt lại cây khèn lên vách. Bố đứng trước nó cúi đầu. Hình như đôi vai bố hơi rùng một cái. Bố quay ra, tôi không dám nhìn vào mắt bố. Từ trước đến giờ nhà tôi không ai dám nhìn vào mắt bố. Hai con mắt đỏ đòng đọc máu, ánh lên sự giận dữ khi bố không bằng lòng việc gì đó.

Nắng vẫn như hắt lửa xuống từng đợt. Tất cả đã sẵn sàng. Chúng tôi chỉ chờ màn đêm trùm xuống. Mọi hành động sẽ được đêm đen che phủ. Và ngày mai hoặc ngày kia, người ta mới biết có một nhà đã dời Vần Chín. Mấy ngày trước, đại diện chính quyền và cán bộ trên đồn biên phòng đã đến nhà. Tôi chắc rằng họ đến để khuyên bố mẹ tôi đừng bỏ đi như nhiều nhà khác. Họ nói gì bố cũng chỉ nghe, rồi cười hì hì, bảo: “Không đi đâu. Nhất định là không đi đâu cả...”.  Trước khi ra về, họ nhìn mặt từng người, lại nhìn khắp nơi trong nhà tôi như thăm dò, đoán định. Họ ra tới cổng, bố nói với theo: “Không đi. Nhất định là không đi mà!”. Ông Phó Chủ tịch Lò Văn Bường cười cười: “Tin nhau mà. Lời nói của chủ nhà là dao khắc trên đá rồi...”. Ngay buổi tối hôm đó, bố gọi người đến mua con trâu và đàn dê. Trong nhà, chỉ còn con chó mực và một con gà mái. Buổi trưa, bố đã tóm chân con gà, định cắt tiết, mẹ ngăn lại. Chắc mẹ nhớ lúc đến nhà tôi, chị Den có ôm theo một con gà, chỉ khác nó là gà trống. Thế nên, bữa trưa đó chúng tôi chỉ ăn chút cháo tam giác mạch và sáu con cá khô, vừa cho mỗi người một con.

- Den à, nhà này không đưa con theo được đâu. Đừng buồn, đừng khóc người đi mới yên cái bụng mà đi được. - Mẹ nói với chị Den sau bữa ăn.

- Con sẽ ở lại đợi mẹ con về. Mọi người đừng lo gì cả... - Chị nói thế  nhưng mắt chị đã ầng ậng nước.

- Cứ ở vài ngày rồi cậu Trọ sẽ sang đón. Đúng là như thế đấy!

- Con không muốn sang với cậu Trọ đâu. Mẹ con về đây tìm, không thấy con thì mẹ lại đi mất... - Chị gạt nước mắt đã ướt hết cái cằm nhỏ nhắn, trắng muốt của chị.

- Cậu Tếnh đã nhờ người sang bên kia biên giới tìm, nhắn mẹ con rồi... - Mẹ nói rồi ôm chặt lấy chị và đưa cho chị một bao tam giác mạch.

Bao hạt này mẹ mới được bên ngoại tận Cao Mã Pờ gửi cho. Mẹ cùng chị Den đã tách vỏ một nửa và làm mấy cái bánh. Bánh hấp chín, chúng tôi sẽ mang theo trong chuyến đi của mình. Từ hôm nghe được lời bố mẹ nói với nhau về một miền đất mới, ruột gan tôi thi thoảng nhói lên một cái, như ai lấy gai châm vào.

***

Đạp cần khởi động đến lần thứ năm chiếc xe Wave Tàu mới nổ phành phạch. Trong ánh sáng vàng yếu ớt của chiếc đèn pha, tôi thấy gương mặt bố đanh lại, mắt quắc lên những tia giận dữ. Tôi sợ rằng, chiếc xe không nổ có thể sẽ bị bố lấy đá hoặc chày gỗ choảng cho đến nát tươm.

- Đi! - Bố gằn lên như ra lệnh.

Bố ngồi giữ thăng bằng trên xe. Tôi leo lên ngồi trước bố, phía sau đầu xe. Chuẩn bị cho chuyến đi, bố đã hì hụi làm hai cái giá bằng gỗ, lắp vào hai bên hông xe. Trên đó đã chằng buộc mấy túi quần áo, nilon, một ít đồ khô, cái nồi và mấy bộ bát đũa. Thằng Chúa được đặt ngồi lên hai túi quần áo, người nó được quấn bằng một cái địu, buộc cố định lại trên giá. Con Pàng, bé nhất được mẹ bế trên tay. Vừa mới tối nó đã ngủ. Hình như trước khi ăn, bố đã cho thứ thuốc gì đó vào bát cháo của nó, vì nghe được gì đó nên trước khi ăn nó cứ khóc ngằn ngặt, đòi phải đưa chị Den đi cùng.

Mẹ không dám ngoái đầu lại. Mẹ sợ nhìn chị Den, nhìn căn nhà với bao nhiêu đồ vật gắn với quãng đời làm dâu hơn mười năm của mẹ. Mẹ ôm siết lấy con Pàng. Tôi cũng không dám ngọ ngoạy, sợ bố cốc vào đầu như những lần chở cả nhà xuống chợ. Tôi biết chị Den đứng dựa cột nhà nhìn hun hút vào đêm. Con đường như một sợi lanh ngoằn ngoèo, uốn lượn trên lưng núi. Phía dưới thung là đá, trên đầu chúng tôi là đá. Lớp lớp đá. Trùng trùng đá. Nhờ nhợ trong bóng đêm. Những khối đá hay những kiếp người lặng câm mọc lên từ lòng đất? Mẹ bảo đá cũng có linh hồn như con người, vì mẹ từng thấy đá đổ mồ hôi, đá khóc. Đêm nay, đá có khóc vì năm con người ở cái thung lũng khô khát này dời đi, không hẹn ngày trở lại? Gió lùa vào đá âm âm, u u. Gió tấp vào mặt chúng tôi ràn rạt. Và bầy quạ lại gào lên những tiếng quà... quà... quà... buồn thảm, rợn lạnh... Tiếng quạ làm tôi nhớ một đêm đầy ám ảnh ở thung lũng này. Đó là đêm mùa đông năm trước, cả nhà tôi bị đánh thức bởi tiếng súng kíp nổ, tiếng hờ khóc, tiếng quạ gào thê thiết từ phía đầu bản dội lại. Tiếng chân người rầm rập, huỳnh huỵch... Bố mẹ dậy, tôi và chị Den cũng chạy theo người lớn. Và rồi chúng tôi khựng lại trong khoảnh sân đầy cỏ dại nhà Mua Sìn Lảo. Mặt vàng ệch như được phủ một lớp bột nghệ, Lảo ngồi bất động. Dưới ánh trăng mùa đông nhờ nhợ, lạnh buốt, già trẻ lớn bé đang xúm vào cái chiếu cuộn tròn giữa sân. Một đầu lòi ra mái tóc dài bê bết đất, đầu kia là hai bàn chân sưng phù, tím đen. Qua tiếng à ồ, rì rầm thì người trong cái chiếu là Mua Thị Sòng, em gái Lảo. Bố mẹ Lảo mất đã lâu, Lảo mới cưới vợ; em gái chưa kịp gả chồng thì phát bệnh suy thận. Nghe bảo mỗi tháng đều phải xuống bệnh viện tỉnh lọc máu. Chữa bệnh cho em, nhà Lảo chả còn gì. Biết không qua khỏi, Sòng cứ đòi anh trai cho về nhà. Lảo chở em gái bằng xe máy, sợ em ngã phải lấy cái áo cũ quàng qua lưng em, rồi buộc túm hai tay áo trước bụng mình. Đi được mươi cây số, Lảo thấy lạnh toát phía sau lưng, quay lại hỏi em gái mấy câu mà chẳng thấy trả lời. Lảo dừng xe kiểm tra, em gái đã tắt thở từ lúc nào. Lảo chạy như điên dại vào một nhà gần đó xin tấm chiếu cũ cuộn em gái, chằng lên xe rồi chở về nhà... Nghe kể, vợ Lảo vừa nhìn thấy chồng dựng xe ở sân đã rú lên, ngất lịm. Bà thím gần bên chạy sang chỉ kịp gào: “Giời ơi, sao khổ quá mà...”, rồi cũng đổ phịch như cây chuối bị chém ngang thân. Đêm đó, cả nhà tôi không ngủ, cả bản không ngủ. Ba hôm sau, trong bữa ăn, mẹ gắp hai cái chân gà đen nấu canh dưa chia cho tôi và chị Den. Khi vừa đưa cái chân gà lên miệng cả tôi và chị cùng ọe, rồi quẳng vội cái chân gà tím đen cho con mực. Bố vằn mắt nhưng dịu ngay lại. Có lẽ bố biết chúng tôi nghĩ đến cái gì... 

***

Đã ba ngày người anh em tốt của bố và chiếc xe máy của nhà tôi vẫn không thấy trở lại. Căn lều tạm của chúng tôi lá héo rũ, úa vàng. Chỉ còn năm gói mì tôm. Qua một ngày nữa, người anh em kia không quay về đón, chúng tôi sẽ phải đào củ, hái quả rừng cầm hơi. Ai cũng thấy không yên cái bụng nhưng không dám nói ra. Thời gian căng như dây cung trong tay gã thợ săn lực lưỡng. Ngày nắng, đêm mưa. Cả hai đêm mưa. May là mẹ đã chuẩn bị mấy tấm nilon mang theo nên chúng tôi không bị ướt. Ở đây đang là mùa mưa, nhưng con suối vẫn cạn trơ lòng. Đất người ngay trước mặt, chịu khó luồn lách, chúng tôi sẽ đến nơi cần đến. Nhưng bố tôi không dám dẫn vợ con sang, nếu không may, cả nhà sẽ rơi vào tay bọn buôn người, mọi sự sẽ kết thúc.

Đêm. Lại mưa. Căn lều chỉ đủ chỗ nằm, đặt ba túi quần áo và một nồi nhôm cùng mấy cái bát nhựa. Trước khi đi, bố đã vứt bỏ tất cả những gì mà bố nghĩ là không cần đến, dù với sự lo toan đàn bà mẹ đã gói ghém lại. Bố bảo sang bên kia biên giới, làm cho người ta rồi sẽ có tất cả. Tôi không biết người anh em của bố hứa những gì nhưng tôi thấy lo sợ quá. Đêm trước, hầu như bố không ngủ, bố quấn thuốc hút cho tới sáng. Nhưng khói thuốc của bố không xua được lũ muỗi, vắt bị bỏ đói lâu ngày. Năm con người trở thành bữa tiệc của muỗi và vắt. Hai lần tôi tỉnh giấc vì bị vắt chui vào tai, cắn chảy máu mồm. Chân con Pàng và thằng Chùa tím đỏ tím đen vì vết muỗi cắn. Mẹ ngồi bó gối nhìn ra màn mưa, thở dài. Những người đàn bà quê tôi chỉ biết thở dài cùng sự bất lực của mình, lớn bé mọi việc trong nhà là do đàn ông quyết định. Đôi khi những tiếng thở dài đầy cam chịu sẽ được kết thúc bằng những chiếc lá ngón.

- Con Pàng sốt rồi. - Tay mẹ vừa chạm vào trán con Pàng đã rụt ra như phải nước sôi.

- Còn thuốc đây, cho nó uống đi! - Bố lấy trong túi áo vỉ thuốc đưa cho mẹ.

Con Pàng giãy giụa khóc gào. Cạy miệng mãi nó mới chịu nuốt cho tí nước thuốc. Mẹ ôm nó khóc nấc lên.

- Khóc gì mà khóc! Ruột đang như mớ lanh rối đây...

- Hay là quay về!

- Im đi! Đi đến đây rồi lại bảo quay về...

Tôi biết cả nhà sẽ không quay về được nữa. Trâu bò dê gà nương ruộng đã bán hết cả rồi. Cả căn nhà và mảnh đất tổ tiên bố cũng đã nhượng lại cho chú Trọ. Chúng tôi không còn gì ở nơi cũ nữa.

Bốn ngày đêm, năm con người ròng rã trên chiếc xe rách nát, lúc nắng lúc mưa biết bao khổ ải. Nắng đổ lửa, mưa hắt nước, mệt thì nghỉ, đói khát thì dừng ăn uống quấy quá. Đêm tối quây tạm tấm nilon bên đường... Chúng tôi lướt qua trước những ánh mắt tò mò, trôi tuột qua những cái nhìn dửng dưng. Cuộc sống vốn vậy mà, mỗi kiếp người như một chiếc lá, một ngọn gió ngang qua nhau. Chả bận tâm làm gì... Có lần bố đã nói với tôi như thế khi tôi đứng trân trân nhìn con bé lang thang bị người ta xua đuổi trong chợ thị trấn...

***

- Đứng lại! Đề nghị anh chị cho chúng tôi kiểm tra giấy tờ!

Tiếng quát làm tôi run bắn người. Bố định kéo mẹ chạy nhưng không kịp nữa rồi. Mấy anh Bộ đội Biên phòng đã đứng vây quanh chúng tôi. Một anh có vẻ là đội trưởng kéo bố ra gốc cây vả nói gì đấy làm mặt bố tái dại đi. Bố gật gật đầu, mặt cúi gằm xuống. Một anh lớn tuổi nhất đến bên mẹ, con Pàng vẫn sốt từ đêm qua chưa khỏi. Anh ta sờ vào trán con Pàng rồi thốt lên: “Chết thật! Con bé sốt cao thế này”.

Chúng tôi được đội công tác nhanh chóng đưa về đồn Biên phòng. Cả nhà tròn mắt khi thấy một người. Người đó là anh em tốt của bố, tay đang bị còng, trước mặt là chú bộ đội có nhiều sao trên vai áo, vừa hỏi vừa ghi chép. Một lúc sau, chú bộ đội đi ra, nói với anh đội trưởng vừa dẫn chúng tôi về. Và rồi, những gì anh đội trưởng nói làm tôi thấy như có ngọn núi đổ ụp vào mình. Thì ra, Giàng Văn Cháng, người anh em tốt của bố là tay buôn người. Hắn ta đã câu kết với người bên kia biên giới để lừa bán nhiều nạn nhân. Nếu hắn dẫn được cả nhà tôi sang phía bên kia, chúng tôi sẽ bị bán đi bốn nơi. Chiếc xe máy cũ của nhà tôi đã bị hắn bán mất rồi. Hắn ném tiền vào những cuộc đỏ đen ở bên kia biên giới...

- Giàng Văn Cháng! Tao giết mày! - Bố lồng lộn định lao về gian phòng tạm giữ Cháng. Nhưng anh đội trưởng đã nhanh tay giữ bố lại.

- Trời ơi, nó ác quá mà,... - Mẹ nấc lên.

***

Sau khi người cán bộ quân y tiêm một mũi cho con Pàng, tối muộn nó ăn được nửa bát cháo. Giờ nó không còn sốt và đã ngủ ngon. Cả nhà tôi được nghỉ qua đêm trong căn phòng không rộng rãi nhưng khá sạch sẽ. Trăng cuối tháng như một con mắt buồn treo giữa đỉnh trời. Gió rừng ràn rạt thổi vào phòng. Tiếng khèn từ đâu vọng lại:

“Bài hát muốn hết lại không hết

Như dãy núi đá hoa qua rặng núi đá ong

Buồn lòng mình ta gỡ không xong

Sầu lòng mình ta gỡ chẳng nổi”(*)

- Bố thằng Sênh tính thế nào? - Suốt từ chiều giờ mẹ mới lên tiếng.

- ...

- Bố thằng Sênh tính thế nào? - Mẹ hỏi lại.

- Khổ nhất ở Vần Chín, nhớ đến đứt ruột cũng ở Vần Chín. Về nhà chứ còn đi đâu nữa...

Nói xong câu ấy, nhìn gương mặt bố, tôi thấy bố như trút được một tảng đá lớn đè lên ngực. Và hai giọt nước khó nhọc bò ra từ khóe mắt bố. Lần đầu tiên tôi thấy bố khóc. Cũng là lần đầu tiên tôi thấy đôi mắt bố đen thẫm, đen như những bóng núi đổ dài trong đêm.

                                                                                              N.P

 

 (*): Theo Doãn Thanh.

 

Minh họa của Quảng Tâm

Tin tức khác

Thơ

Bờ sông ký ức

29-12-2025| 197 lượt xem

Tình người tình đất Tuyên Quang

26-12-2025| 102 lượt xem

Buổi sáng mùa đông trên phố

29-11-2025| 183 lượt xem

Bài thơ tháng 5

25-11-2025| 188 lượt xem

Viết cho mùa thu này

25-11-2025| 400 lượt xem

Văn học nước ngoài

Guillaume Apollinaire

11-04-2024| 2.920 lượt xem

Thơ ca cần sự chỉ dẫn đúng cách

29-02-2024| 3.433 lượt xem

Đồ tể

20-11-2023| 3.514 lượt xem