Gặp gỡ bên hồ

Thứ tư, ngày 20-05-2026, 08:54| 968 lượt xem

Truyện ngắn của Hồng Giang

Hôm ấy Quỷnh hết sức ngạc nhiên khi hắn đưa anh ra thăm vườn rừng của hắn. Đây vốn là vạt đất làm nương của người Dao đỏ bỏ lại, toàn cây xuyến chi, cây chó đẻ, dây mắc hùm chằng chịt, um tùm. Quỷnh chưa thấy ở đâu trong vùng trồng các loại cây như ở đây. Xung quanh vườn là những cây ngót rừng thân gỗ. Muốn hái ngọn rau này phải trèo lên cây mới vặt được. Giữa vườn là thảo quả, cây tam thất và vài giống cây khác, Quỷnh không biết là cây gì. Bên cạnh vườn dó bầu, thứ cây trích ghép trầm hương. Thông thạo việc nhà nông mà Quỷnh chả biết anh ta trồng những loại cây quái quỷ này để làm gì. Đến khi nghe Khoa khoe anh ta vừa bán được tiền tỷ từ vườn dó bầu Quỷnh cứ há hốc mồm nghe. Thì ra làm việc gì cũng có kiến thức. Chả phải ngẫu nhiên mà xưa nay các cụ hay có câu: “Ăn vóc, học hay”. Người có ăn có học hay đi đó đi đây nhiều, dù có làm việc gì cũng hơn người học ít hoặc vô học. Bôn ba từng trải như tay này biết nhiều là lẽ đương nhiên. Chỉ có điều anh ta dáng dấp như học trò, thư sinh như thế sức lực ở đâu mà làm nên khu vườn ngay cả người chịu khó, lam làm cũng chưa chắc nổi? Lạ hơn nữa, ngoại tứ tuần rồi vẫn đơn thân là tại sao? Ngoại hình, tính cách, cư xử như này mà chưa vào mắt cô nàng nào thực là điều khó hiểu? Thực ra nhân vô thập toàn, ông trời quả thật éo le. Có những chuyện theo lẽ thường sẽ không hiểu nổi!
Quỷnh nhớ đến con người này nhờ lần gặp nhau ngẫu nhiên trên hang Thẳm Boòng ấy. Hôm đó Quỷnh đi tìm tắc kè, còn hắn đang đi tìm những mảnh đá có khắc chữ mang hình ngọn lửa. Hắn tự giới thiệu mình tên là Khoa. Còn có tên là “Khoa đẩu”. Duyên do là hắn hay hỏi người ta có thấy ở đâu có những mảnh đá khắc chữ này không? Hắn nói với họ đó là chữ viết chính hiệu cổ xưa của người Việt mình. Ngàn năm trước giặc bắc phương sang đây cướp nước, học giả, nhân sĩ bị giết hết, sách vở cũng bị truy lùng, tiêu hủy hết nên chữ viết cổ này đến thời bây giờ đã không còn. 
Mục đích hắn theo đuổi cùng với vài căn nguyên vớ vẩn đã làm hại hắn có liên quan đến chữ nghĩa, hạn văn vở dở hơi của chính mình. Thời u u, minh minh lâu rồi, thiếu gì chuyện chưa ngã ngũ. Hắn bảo thôi, hắn buông tất, chả trách ai cả. Có trách thì tự trách mình còn ngu ngơ, thiếu căn cơ thận trọng. Ai trong đời mà chẳng có thiếu sót sinh ra tự bản thân? Việc gì qua rồi thì cho qua. Ngoái lại, chua chát hay ân hận, day dứt mãi chỉ làm khổ mình, hại bản thân trước hết. Thiên hạ vô tình chả ai công đâu để ý mãi đến quá khứ của bất kỳ ai, của kẻ chưa đến đầu đến đũa, công chưa thành và danh chưa toại. Được sống tự do giữa thiên nhiên, giữa sông núi muôn vàn ưu tú này như bây giờ là phúc lắm rồi. Dù kém may mắn, dẫu nguyện ước không thành vẫn lành chân, khỏe tay là hạnh phúc rồi. Còn sống ngày nào giúp ai được việc gì dù nhỏ hắn nghĩ mình nên và phải sẵn sàng. 
Khổ nỗi người đời vốn không ít người vẫn sống bằng định kiến. “Kẻ ở tù ra, dù sao vẫn phải phòng!” Điều này đôi khi hắn thấy nhoi nhói trong lòng. Âu cũng là cái nghiệp phải mang, trách ai được!
Hắn hỏi Quỷnh có gì ngại khi chơi với nhau không? Quỷnh nói “không”. Hắn lại bảo “Tôi cũng biết làm vài việc vặt như đốt gạch, nung vôi, lấy lá thuốc. Khi nào cần tới bác cứ bảo.”
Thằng này mặt đẹp, tóc loăn xoăn xòa vầng trán rộng. Y chả giống ai ở vùng này. Thời buổi khó khăn, người ta ăn mặc xuềnh xoàng thì y lúc nào cũng chân giày chân dép, áo bỏ trong quần. Y nói năng như nhà hiền triết, đôi mắt mơ màng như ở cõi trên, chả màng đến thực tại. Nhìn cái vẻ bề ngoài ấy Quỷnh thấy ngài ngại, chưa tin lắm. Những anh ba hoa chích chòe gần đây xuất hiện hơi nhiều. Người ta chả biết họ từ đâu ra. Hay là đến người tốt dần vơi, ít đi. Chẳng biết có đúng không, nên từ buổi ấy Quỷnh cũng thưa qua lại. Có việc ghé qua ngôi nhà kỳ dị của hắn, Quỷnh cũng chỉ dăm câu ba điều cho phải phép chứ không ngồi chuyện lâu.
Đúng là nhắc đến ai là đụng vào linh tính người đó. Khoa đẩu đang dắt cái xe Sim Sơn màu ớt đỏ chót của anh ta vào. Đương thời con xe này có giá bằng con trâu mộng. Cả xã này duy nhất Khoa đẩu sở hữu. Ngoài ra chẳng còn ai. Tay Lợi rượu nhà gần chợ cũng chỉ có con Min khù khờ, đèn còi không có, đen thủi đen thui. Khoa bảo: 
- Em có việc xuống Tiêu Sơn, Phú Lộc dưới Đoan Hùng. Mãi chẳng sao, cái xe hôm nay dở chứng. Hình như cháy bugi thì phải. Dắt ra thợ thì xa, ở đây không có ai bán thứ này. Bác cho em mượn chiếc xe đạp ra ngoài đó mua có được không?
- Xe máy thì tôi không có, nhưng xe đạp vô tư đi, cần cứ lấy.
Khoa vội vã đi ngay. Mấy cái địa chỉ mà Khoa nói Quỷnh có đôi lần ghé qua. Đấy là vùng trung du, bán sơn địa, cư dân đông nhất là người Dao, Cao Lan ở xen kẽ với người Kinh. Anh cũng quen biết đôi ba người từ hồi họ ở dưới đó lên đây làm bè nứa, mua củ nâu mang về xuôi bán. Nhưng đã lâu không gặp vì lâm sản họ tìm được ở đây hiếm dần nên người ta qua xứ khác.
Đến khi Khoa về Quỷnh mới hỏi:
- Có việc gì mà chú đi xa thế? Mấy chỗ chú nói cách Đoan Hùng ba bốn chục cây chứ ít à. Liệu con Mukich này có chịu nổi không?
- Chịu tốt, em vẫn đi mà. Có hôm hứng lên phi luôn về Hà Nội chơi vài ngày, có sao đâu! Lần này em về đón cô bạn lên chơi ít ngày. Nhân tiện nhờ cô ấy ở lại giúp một tay làm vườn. Ở dưới đó nông nhàn, rỗi việc. Người ở chơi không chả có việc gì làm. Đàn ông thì đánh bài chơi cờ, đàn bà mót sắn bâm chả có việc gì kiếm ra tiền.
Đó là những ngày tháng thập niên tám mươi, sau chiến sự biên giới phía bắc. Đất nước ngặt nghèo trong cơn bĩ cực của các loại cấm vận từ bên ngoài. Ở đâu cũng khổ. Riêng vùng núi này may nhờ đất thưa người, rừng còn thiên nhiên ưu đãi, lại thêm rừng nguyên sinh bao năm tồn lại. Dân sở tại không ai bảo ai, tranh thủ làm màu có thêm thu nhập, còn hơn vùng dưới Khoa vừa nói tới.
Quỷnh nảy ra một ý:
- Đằng nào chú cũng về dưới đấy. Hay là nhân tiện chú tìm giúp cho anh mấy người. Công xá cứ nói ở mức vùng mình vẫn thuê, liệu có được không?
- Tìm người làm chắc được. Nhưng việc của bác thuê mướn công xá thế nào tốt nhất bác về cùng em, trao đổi trực tiếp. Tránh tình trạng sau này anh em lại mắc nhau.
- Chú cẩn thận quá, không phải tôi ngại mà là vì tôi không có xe máy. Đạp xe theo cùng chú sao được.
- Khi đi em chở bác. Còn khi về bác đi cùng với họ bằng xe buýt. Lên đến thị xã đón thuyền Cole về trên này có gì khó.
Nghe hắn nói có lý. Chiều hôm đó Quỷnh chuẩn bị tiền nong, sửa lại đôi giày. Chỉnh lại cúc áo, khuy quần. Hai anh em hẹn nhau đi sớm cho nó mát.
***
Nhà nàng ở bên hồ, một ngôi nhà kỳ dị chẳng giống bất cứ nhà nào ở vùng này. Ngôi nhà chỉ có hai gian, một gian làm phòng ngủ, gian kia bán hàng. Kể cả cột kèo, vách bưng đều bằng tre luồng, thứ tre đốt thẳng, lóng dày. Cột và vách phía trước đều được đánh véc ni, quang dầu sáng sủa. Mái nhà lợp lá gồi xén tỉa kỹ càng. Một lối đi nhỏ dẫn xuống hồ hai bên trồng hoa cúc, hoa mười giờ. Màu vàng của cúc điểm xuyết màu hồng, màu đỏ của mười giờ nom rất đẹp mắt.
Lạ lùng là ngôi nhà nhỏ nhắn này chỉ có duy nhất, trơ trọi một mình, xung quanh không một bóng nhà nào khác. Phải là người gan góc, lỳ lợm hay đặc biệt lắm mới dám ở một nơi như thế này.
Khác biệt nữa, nếu có hiểu biết chút ít về phong thủy người ta sẽ không cất nhà như vậy. Không ai làm nhà chỉ có hai gian vì người ta kiêng nó đúng vào chữ thế hai, là chữ “Cực” trong bốn chữ theo kinh nghiệm dân gian là: Bĩ, Cực, Thái, Hòa. Nhưng cũng có thể nàng là gái, không biết điều này cũng là sự thường. Hơn nữa, chỉ là cái quán, dựng vậy cũng chẳng sao.
Dọc đường xe của Khoa lại bị hỏng. Chờ thợ sửa thay cho cái xích cam hết mấy tiếng đồng hồ. Tiệm của anh ta không có sẵn. Anh ta phải chạy mấy chỗ mới tìm được để thay cho khách.
Khi hai người đến trời đã đổ về cuối chiều. Hoàng hôn đã đổ bóng vàng rực phía núi Tiêu Sơn phía xa xa.
Một cô bé ngoài hai mươi pha trà mời hai người. Khoa hỏi:
- Cô Hoa có nhà không?
- Dạ có. Mẹ cháu chạy ra ngoài chợ mua hàng về mai bán.
Cái chợ cóc ven đường quốc lộ hai thì Khoa biết. Lúc ngang qua đấy anh không để ý nên không thấy Hoa Vinh. Nếu để ý đã gặp cô ở đấy vì chợ rất vắng, chỉ họp người quanh đấy, không mấy khi đông.
Mọi khi chỉ có mình Hoa Vinh ở đây một mình. Sao giờ lại thêm cô bé này, lại gọi cô là mẹ? Điều này khiến Khoa ngạc nhiên. Cô ta có con tự khi nào mà anh không biết? Bao lần gặp nhau, quen biết tự lâu mà đâu thấy cô nàng nói về con cái gì đâu? 
Khoa hỏi: 
- Cháu về đây từ khi nào mà lần trước đến đây chú không gặp?
- Cũng được ba tháng rồi ạ. Mời các chú uống nước đi, cháu xin phép!
Con bé trả lời qua loa rồi chui tọt vào buồng, không biết nó làm gì trong đấy. Hai người ngồi uống trà một lúc lâu mà Hoa Vinh vẫn chưa về. Cả hai bảo nhau đi dạo cho đỡ sốt ruột. 
Đây là một hồ nước nhân tạo dưới chân núi Tiêu Sơn có con suối nhỏ chảy về. Người ta chặn suối lấy nước làm thủy lợi. Nó không rộng mênh mang như hồ Đại Lải, nhưng cũng đủ rộng, đủ chiều lòng người để mắt đến nó. Phía xa xa cũng có một nhà bè ghép bằng tre, mái làm bằng tôn, thêm cái thuyền nhỏ buộc bên cạnh. Mặt nước ven hồ trồng rất nhiều sen đang mùa trổ ngó. Khoa bảo hồ này người ta thả thầu, mỗi năm cũng thu hàng chục tấn cá. 
Vùng này vốn cằn cỗi, đất đồi ba bề bốn bên, chỉ thấy trồng toàn bạch đàn không có cây gì khác ngoài những bụi sim, mua hoang dại mọc ven ven. Nếu không có cái hồ xanh ngắt này, quanh cảnh ở đây chẳng khác gì vùng đất chết, ốm o khô hạn.
Nhớ đến mục đích của chuyến đi, Quỷnh thấy có cái gì đó không ổn. Nó vô lý quá. Người như Hoa Vinh dù anh chưa gặp, chắc chắn là không dám bỏ hàng quán cho con bé anh vừa gặp để theo hai người lên rừng làm đỡ công việc dù là ít ngày.
Trả lời thắc mắc của Quỷnh Khoa nói:
- Trước lúc đi em cũng đã gọi điện cho cô ấy rồi. Có chắc chắn em mới dám nói với bác chứ.
Nói rồi anh ta lấy trong túi ra cái di động Nokia hai màu xanh đen. Hồi ấy chỉ có điện thoại đen trắng, chưa có màn hình cảm ứng như bây giờ. Người ta chỉ có thể gọi, nghe chứ không nhìn thấy mặt. Sóng di động của nó lại rất yếu, nhiều khi không đủ vạch tín hiệu. Khoa bấm máy định gọi nhưng không được, anh đành bỏ vào túi. Hai người quay trở lại. 
Đã thấy trước tấm biển có dòng chữ “Cà phê quán” Hoa Vinh dựng xe và đang gỡ đồ mang vào nhà.
Cuộc rượu tối hôm đó chủ nhà đãi hai khách phương xa đĩa lạc rang, đĩa đậu phụ chấm mắm tôm và canh rau ngót. Thời buổi khó khăn được như thế đã là thịnh soạn lắm rồi. Câu chuyện đầu tiên Hoa kể cho hai người nghe là đứa con nuôi của cô mà hai người thấy nó lúc buổi chiều. Nó có hoàn cảnh khá éo le. Nhà nó mãi dưới Việt Trì chứ không phải người vùng này. Bố nó mất sớm. Mẹ nó lấy chồng khác. Nó gọi bằng bố dượng. Đó là người đàn ông to lớn, râu xồm, trông vẻ ngoài đàng hoàng, nhưng lại rất bẩn tính. Hắn làm nghề bốc vác ngoài bến tàu Đoan Hùng. Về nhà lúc nào hắn cũng sực nức mùi rượu. Mẹ nó thường phải thức cả đêm để hầu hạ hắn. Chỉ cần bà ấy buồn ngủ quá, xoa bóp không đúng chỗ hắn muốn là hắn đạp vào mặt bà lăn từ trên giường lăn xuống đất. Có hôm bà lỡ quá tay, nêm muối canh hơi bị mặn, hắn thẳng tay hắt cả bát canh nóng vào mặt bà. Con bé còn khổ hơn. Nó làm việc gì không vừa ý hắn là vớ được cái gì là phang vào người con bé. Một lần nửa viên gạch hắn choang làm con bé toạc miếng da đầu, phải khâu mấy mũi. Chỉ khổ thân thế thôi con bé có thể cắn răng chịu được. Dù gì nó cũng không muốn để mẹ nó ở lại một mình với người đàn ông hung dữ này. Nhưng rồi một đêm nó ngủ say như chết sau một ngày làm việc vất vả. Nó chợt tỉnh giấc, hốt hoảng nhận ra có bàn tay to lớn, và cái bóng đen xì khác thường chặn lên ngực mình. Nó vùng bỏ chạy vào đêm tối.
 Từ buổi ấy nó không dám về nhà. Nó quen được đám bạn vừa trai vừa gái bụi đời. Mỗi đứa có một hoàn cảnh, nhưng cùng khổ như nhau. Ban ngày chúng phe vé tàu. Buổi tối theo tàu về Hà Nội, lên Lào Cai. Từ một bé gái lành hiền nhút nhát nó bị bắt khi người ta truy quét, lập trật tự xã hội với tội danh “lưu manh trộm cắp”. Chưa đủ tuổi thành niên, nó được đưa đến trại tập trung cải tạo thiếu niên hư. Thời gian ấy Hoa Vinh cũng bị giữ trong trại người lớn gần đấy. Cô là phạm nhân được lao động tự giác. Hàng ngày chăn đàn bò gần chỗ đội vườn rau của nó. Thấy con bé xinh xắn, ngoan ngoãn cô rất có cảm tình, nhận nhau là mẹ con kết nghĩa. Hai người hẹn nhau ngày về sẽ tìm gặp nhau, dù không cùng quê quán. 
Hoa Vinh được tha về trước. Nó ra sau. Không rõ địa chỉ, mãi gần đây nó mới tìm ra chỗ cô ở. Một câu chuyện buồn làm không khí trong căn nhà nhỏ trầm hẳn xuống như có người đang ốm cần sự tĩnh lặng.
Không nhớ lúc đó Quỷnh nghĩ gì. Đột nhiên lúc ấy buông ra một câu:
- “Con người ta cái tóc cái tội”. Dù sao chuyện cũng qua rồi. Tôi chỉ thắc mắc là cả hai cô chú mỗi người một phương xa cả trăm cây số làm sao quen được nhau?
Hoa Vinh chỉ gượng cười. Cô lắc nhẹ mái tóc cắt tém lảng sang chuyện khác.
Mãi sau này Khoa mới kể cho Quỷnh nghe chuyện oan khuất của cô và việc hai người làm quen nhau như thế nào. Hôm đó Khoa có việc đi ngang qua khu đồi rậm gần K phạm nữ. Khoa không ngờ đây chính là cuộc gặp gỡ định mệnh, anh gặp và có mối lương duyên giữa anh và Hoa Vinh sau này.
Ông Việt phó ban giám thị trại của Khoa bị bệnh gan, chữa hết viện này đến viện khác không khỏi. Bác sĩ bảo cần kết hợp chữa bằng thuốc Nam. Có anh quản giáo phụ trách đội xây dựng của trại báo cáo với ông rằng đội anh phụ trách có một phạm nhân biết và giỏi thuốc nam. Anh được gọi lên gặp ông giám thị. Ít ngày sau Khoa được chuyển sang tổ tự giác. Ngày ngày làm các công việc dọn dẹp phòng làm việc, phục vụ nước nôi các phòng ban. Khi cần tìm hái lá thuốc chữa bệnh cho cán bộ và phạm nhân trong trại. Nghề thuốc gia truyền của ông nội anh tưởng đứt đoạn ở đời bố anh, sau bất hạnh của mình, Khoa có cơ hội tiếp nối từ đây.
Cũng là buổi Hoa Vinh đi đào củ khúc khắc, mai thục trên đồi. Cô là nữ phạm của K. vừa nói. Hai người hai cảnh ngộ, quê quán khác nhau nhưng họ có buổi trò chuyện ăn ý ngay tự buổi ban đầu. Nó không chỉ đơn giản do thiếu thốn tình cảm hay ẩn ý giới tính bị kìm hãm quá lâu. Hơn hẳn thế, họ có sự đồng điệu trong suy nghĩ và hoàn cảnh. Thứ mà sau này người ta nói là tần số của tri thức, kinh nghiệm, của rung động tinh thần.
Đúng là cái duyên trời se, cái que trời buộc. Ra tù không khó để họ tìm đến nhau. Cô không thích nơi Khoa đang ở. Nơi đó vắng vẻ, xa vắng đời sống con người. Thứ mà cô rất sợ và khát khao cuộc sống sinh hoạt nơi có có con người. Cô chọn chỗ ở này, không xa quá mà cũng không gần quá với cộng đồng đông đúc dân cư. Nơi niềm vui dễ tìm nhưng tai vạ, phức tạp cũng không ít. Những ai từng tổn thương trong đời hiểu hơn ai hết những biểu hiện này. Phần nữa cô có người anh họ đang bao thầu cái hồ trước ngôi nhà làm quán tạm của cô bây giờ. Vốn liếng, cây que làm quán này cũng từ người anh chu cấp lo liệu. Ông ta bảo khi nào làm ăn được, trả ông sau.
Chính cái dịch vụ “Câu cá thư giãn” do ông ấy nghĩ ra trước đó đã giúp cái quán nhỏ chỉ có vài mặt hàng sơ sài của cô có môi trường tồn tại. Quán chỉ có hai gian, sau bữa cơm, cái khó là chỗ ngủ của bốn con người? Cô nhất định nhường cho hai ông khách. Còn mình cô bảo cô ngủ trên cái ghế bố cũ, như mọi khi, vừa bán hàng cô vẫn vừa nghỉ ngơi như vậy. Còn con bé, nó chả nói gì, nó lẳng lặng leo lên cái võng bạt đầu hồi nhà sau khi dọn dẹp xong bát đĩa.
Đường xa, mệt mỏi, Quỷnh chìm vào giấc ngủ rất nhanh. Nửa đêm thức giấc, anh không thấy người bạn nằm bên cạnh đâu. Anh xỏ dép đi ra ngoài. Ngọn đèn búp măng vẫn sáng một mình đặt trên mặt chiếc bàn tre giữa gian. 
Từ phía ven hồ trước mặt có ánh lửa lập lòe ai đó đang hút thuốc. Có tiếng cười con gái nghe nhỏ mà rất trong. Từ ngoài chiếc bè cá giữa hồ có tiếng đài Cát-sét vọng về. Một câu ca không biết vô tình hay hữu ý vọng về lúc này: “…Ai mang bụi đỏ đi rồi…”
Đêm khuya tĩnh lặng, không trăng, chỉ vài ngôi sao thưa thớt. Làn gió mang hơi nước từ mặt hồ về làm anh tỉnh táo. Không gian sơ sài mà bí hiểm, cuộc gặp gỡ những con người hoàn cảnh mỗi người muôn nỗi khiến anh nghĩ ngợi. Không phải ngẫu nhiên, họ gặp nhau và anh có mặt lúc này ở đây hẳn phải có sự sâu xa nào đó.

H.G

Tin tức khác