Truyện ngắn của Phù Ninh

Thoáng chốc mặt trời đã khuất sau rặng núi. Chút hơi ấm ban ngày nhanh chóng theo đi. Heo may lẩn quất đâu đó chờ đợi. Ban đầu thoang thoảng, mon men chốc sau thành luồng hun hút, lay động hàng cây quanh làng khiến lá rụng ào ào. Khí lạnh tràn về lấn chiếm hết không gian. Màn đêm đồng lõa bao trùm khắp nơi. Cả ngày yên ắng, giờ này làng bắt đầu rục rịch. Tiếng bước chân đi về, lao xao tiếng người trò chuyện.
Làng nằm gọn trong diện tích khiêm nhường, chừng nửa cây số vuông. Phía sau làng là một đồi cao, có lẽ cao nhất vùng. Xa xa trước một dòng suối nhỏ bốn mùa đầy nước trong veo. Những con cá suối lưng vằn nhao lượn ngược xuôi, thoắt ẩn thoắt hiện, khuấy động mặt nước những làn sóng lăn tăn. Trời sinh ra thế, để dân làng quanh năm có đủ nước dùng. Họ đáng được thụ hưởng. Song cho dù thiên nhiên và con người dành tặng bao nhiêu chăng nữa cũng chẳng bao giờ đền bù những mất mát hi sinh của họ.
Đâu phải ngẫu nhiên người ta lập làng ở đây. Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, đại diện Hội Cựu chiến binh, các đoàn thể chính trị xã hội nhiều ngày đi lại ngắm nghía, đo đạc, xem xét hình sông thế núi, chọn tầm long mạch, tránh xa đứt gãy gây mầm địa chấn mới định vị. Làng được thế “tựa sơn đạp thủy”, cát lợi âm dương. Đứng ở bất cứ điểm nào trong làng cũng quan sát được mọi động tĩnh lành dữ xảy ra trong vòng bán kính vài cây số. Nếu khi xảy ra chiến sự chắc chắn làng là một cao điểm lợi hại cho cả phòng thủ lẫn tấn công. Có thể ví làng này như những cao điểm phía Đông hay Đồi A1 trên chiến trường Điện Biên năm xưa.
Xung quanh làng có tường bao xây gạch. Tường thấp, kiễng chân là dễ dàng bước qua. Xây tường để chỉ rõ ranh giới của làng, âm dương cách biệt chứ chẳng phải để ngăn ngừa cấm cản chi ai. Cổng làng luôn rộng mở. Khách gần tới chuyện trò tâm sự; khách xa về thăm thú. Nhà nhà trong làng xây cùng một kiểu, khiêm nhường giản dị đến mức tối thiểu mà bền chắc thiên thu. Hướng nhà cũng vậy, chỉ một, như sự đồng lòng nhất trí của mọi cư dân. Nhà nào cũng duy nhất một thành viên, không người già, trẻ nhỏ cũng không. Gọi là làng mà giống hệt phố, số sách đàng hoàng. Số nhà, tên chủ nhà công khai minh bạch ngay trước cửa. Tên làng được đặt theo tên huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Dân cư làng này trước đây nằm trong quân số đơn vị chiến đấu bảo vệ cửa khẩu Tà Lùng. Sau những tháng ngày quần nhau với đối phương, một phần ba quân số đơn vị đã ngã xuống. Ngày đó, các liệt sĩ được hung táng phía sau trận địa hòa bình rồi mới cải táng về nghĩa trang này.
Đa phần quê quán của cư dân là người mấy tỉnh miền núi phía Bắc: Lạng Sơn, Cao Bằng rồi Hà Giang, Tuyên Quang, lại cả Thái Nguyên, Bắc Kạn. Còn có cả người quê miền trung du, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ.
Khắp nơi trên dải đất hình chữ S có những ngôi làng như thế. Chỉ khác nhau về diện tích lớn nhỏ, số dân nhiều ít mà thôi.
*
Rừng vắng lặng. Không tiếng thú chạy, không tiếng chim hót. Bờ bắc con sông nhỏ, xe tải chở đá chất cao một khoảng dài như chiến lũy. Mục đích của việc này là gì? Một dấu hỏi chưa tìm ra câu trả lời. Vùng biên như thùng thuốc nổ. Chiến sự sẽ bùng lên khi ai đó châm ngòi hành động. Hiển nhiên, đó chỉ có thể là phía muốn lấy thịt đè người. Chẳng lẽ họ đắp lũy đá nhằm ngăn bộ đội Việt Nam tràn sang? Chuyện không bao giờ xảy ra, ngoại trừ hơn một ngàn năm trước, Lý Thường Kiệt đem mười vạn quân đánh châu Ung, châu Khiêm phá hủy căn cứ quân sự của nhà Tống chuẩn bị xâm chiếm nước ta.
Đại úy Tùng chỉ huy đại đội trấn giữ phía nam cửa khẩu Tà Lùng. Cửa khẩu từ lâu đã đóng lại. Vị trí đồn biên phòng ở bình độ thấp, rất bất lợi cho phòng thủ. Bộ đội biên phòng được lệnh rút ra khỏi đồn, biên chế chung vào đại đội.
Đại úy Tùng nhìn đồng hồ đeo tay, kim năm giờ kém hai mươi. Sương mù dày đặc. Nghe thấy những tiếng động lạ tai, như tiếng xích chà sát trên đá phát ra từ bên kia biên giới. Một điều rất lạ là không thấy đối phương bắn pháo dọn đường.
Chợt trinh sát tiền tiêu điện qua bộ đàm:
- Báo cáo bên bờ sông xuất hiện bốn xe tăng dàn hàng ngang hướng sang đất ta.
Đại đội trưởng lệnh:
- Toàn đơn vị sẵn sàng chiến đấu!.
Tổ hợp nghe phát tiếng rành rọt:
- Báo cáo xe tăng ủi đá xuống sông. Phán đoán, chúng lấp sông làm đường cho xe tăng qua.
Bây giờ thì đã rõ ra tại sao mấy ngày nay đối phương cho xe tải chở đá sắp sẵn ở bờ sông.
Đại đội trưởng lệnh:
- Theo dõi sát mọi hành động của đối phương, nhất là hành tung của xe tăng.
Báo cáo kịp thời.
Đối phương dùng xe tăng tác chiến trên địa hình rừng núi. Điều hiếm thấy xưa nay. Xe tăng chỉ có thể tác chiến trên địa hình bằng phẳng như thảo nguyên, đồng bằng, hoặc nơi có xa lộ. Kiểu này là đối phương định gây bất ngờ cho ta, đồng thời dùng pháo đặt trên xe tăng tạo hỏa lực mạnh đánh phủ đầu. Cũng có khó khăn đối phó với bất ngờ này. Đại đội chỉ được trang bị hai khẩu B40. Điện từ trinh sát:
- Báo cáo. Xe tăng đối phương đã vượt sông. Do trên đất ta đường hẹp, xe tăng chuyển đội hình hàng một.
Nhìn rõ bộ binh địch bám theo những chiếc tăng như ruồi bâu, đại đội trưởng lệnh:
- Xạ thủ B40 chú ý! xe tăng địch đã tràn sang. Bình tĩnh chờ chúng vào thật gần. Hết sức tiết kiệm đạn.
Đúng lúc đó, đối phương phát hỏa, pháo trên xe tăng phóng những luồng lửa về phía trận địa ta. Tiếp theo là tiếng nổ của những loại đạn khác nhau. Với cự ly này ngoại trừ pháo, đại liên, trung liên bắn đều không hiệu quả. Xe địch hành tiến xe nọ cách xe kia hơn mười mét. Quan sát thấy xe đầu đã vào tầm bắn, đại đội trưởng lệnh:
- Nhằm trúng mục tiêu. Mỗi quả đạn diệt một xe tăng. B40 bắn!
Tiếng nổ của đạn các cỡ, của lựu đạn, phá tan yên tĩnh bấy lâu.
Đối phương áp dụng chiến thuật “biển người” cho lính theo sau xe tăng ùn ùn tiến lên. Quan sát được, đối phương đưa một trung đoàn tấn công vào hướng cửa khẩu Tà Lùng. Trong khi ta bố trí ở đây chỉ một đại đội. Quân số hai bên chênh lệch gấp mười lần.
Có tiếng hào hển trong tổ hợp:
- Báo cáo, một xe trúng đạn đứt xích đã khựng lại.
Đại đội trưởng nhìn rõ lính đối phương nhảy xuống bám vào những chiếc khác. Liền đó đối phương dùng hai xe sau, quay ngang đẩy chiếc tăng đứt xích dạt vào bên đường rồi tiếp tục hành tiến. Đúng lúc đó, bất ngờ một quả pháo rơi trúng chỗ đại đội trưởng và chiến sĩ thông tin mang bộ đàm 2 oát. Chiến sĩ bị dập ngực, vỡ tim, máu tràn ra xối xả. Đại đội trưởng gãy đùi chân phải, ngã khụy xuống. Cứu thương cấp tốc băng bó cho đại đội trưởng và chiến sĩ thông tin đã tắt thở lui về tuyến sau. Nằm trên cáng, trước lúc dời đi, đại đội trưởng giao cho đại đội phó thay mình chỉ huy đại đội. Đường hẹp và nhiều ổ gà địa hình đất ta hiểm trở xe tăng đứng một chỗ dễ làm mục tiêu cho B40 tiêu diệt. Cuối chiều xe tăng đối phương quay đầu Đại đội phó trao đổi với chính trị viên ra lệnh cho bộ đội rút về tuyến hai phòng thủ ngăn không cho đối phương vào sâu thêm trên đất ta. Những chiến sĩ hi sinh chôn cất ven rừng mộ chí chỉ được đánh số đồng thời ghi tên ứng với số hiệu trong sổ của sĩ quan quân lực. Ngày đầu chiến đấu đại đội có mười chiến sĩ hi sinh. Đêm xuống trận địa pháo địch bắn cầm canh thưa thớt. Ngày mai cuộc chiến đấu sẽ còn ác liệt hơn. Toàn đơn vị xây dựng quyết tâm giữ vững trận địa.
Một tốp ba người, hai nam, một nữ đến từ chiều hôm qua. Cả ngày hôm nay họ liên hệ những nơi cần thiết: Huyện đội, phòng Lao động- Thương binh và Xã hội... để làm thủ tục chuyển hài cốt liệt sĩ về quê. Chiều muộn, những thứ đồ đem theo được chuyển xuống, từ chiếc xe 7 chỗ đậu trước cổng nghĩa trang. Một tấm bạt lớn, vải đỏ, vải che mưa, đèn, nhang, hoa thắm, quả tươi và những xấp tiền âm phủ. Hai mươi giờ năm phút là giờ khai nấm. Khung giờ do một ông thầy có thâm niên quân ngũ mười năm xem cho. Người đàn ông đứng tuổi, dáng cao lớn, quân phục bạc màu vẻ mặt trang nghiêm trang, tay cầm bó nhang lớn để một người ít tuổi hơn bật diêm. Trời lặng gió nhưng quẹt que diêm vào vỏ bao tráng thủy dày năm bảy lần mà không phát lửa.
- Hay tại diêm ẩm. Thay bao khác đi - Người đứng tuổi nói.
Bao diêm thứ hai được chuyển đến. Lại bật trầy tróc hết thủy vẫn như bao diêm trước. Mọi người bắt đầu lo lắng, tự nhớ lại xem trong quá trình tổ chức chuyến đi có điều gì sơ suất. Trước lúc khởi hành nhà đã sắm lễ khấn xin tổ tiên ông bà phù hộ cho đi đến nơi về đến chốn. Dọc đường ai nấy nói năng gìn giữ, không có điều gì phạm đến thánh thần, đến vong linh liệt sĩ. Người ít tuổi chợt nhớ trong túi còn có chiếc bật lửa, vội lấy ra. Bật lửa đầy xăng, nghĩ lần này chắc lửa sẽ lên. Quả nhiên như vậy. Người đứng tuổi chờm vội nắm hương lên thì từ đâu gió nổi làm ngọn lửa phụt tắt, cứ như có bàn tay nào cầm quạt phẩy vào. Không thể cắm nhang chưa cháy. Không thể khấn khi chưa cắm nhang. Người đứng tuổi đành khấn suông:
- Em Khẩn ơi! Anh Vinh con bác cả này, em Khoản này, người em yêu hồi chưa nhập ngũ nữa đến để đưa em về quê. Em mau trở dậy mở cửa. Đừng để anh và hai em đứng hứng gió lạnh mãi thế này.
Dường như lời khấn thấu cảm đến linh hồn. Thử bật lại, diêm cháy. Mọi người dần yên tâm. Khi Vinh bảo, khơi cửa mộ đi, lại một cơn mạnh khiến nhang tắt lụi. Vinh đành lại lần nữa khấn suông:
- Hay là em giận chuyện gì thì anh xin lỗi. Ở quê bố mẹ em, ông Khuân, bà Kính ngày đêm mong nhớ. Bố em năm sang tuổi chín mươi, chân run, mắt mờ bảo với anh: “Đưa nó về cho tôi gặp một lần trước khi nhắm mắt”.
Luyến nói với yêu người xưa mấy lời đi em:
- Anh Khẩn ơi! Là em, là Luyến của anh ngày xưa đây. Anh giận em đến bao giờ nữa mà không chịu về quê. Về quê ngày Tết, ngày giỗ em còn thăm anh, thắp cho anh nén nhang. Chứ ở trên này xa xôi cách trở, đi lại tàu xe kích dích là em mãi xa. Chồng em anh đâu có xa lạ gì, là Quyến cùng đơn vị. Trước khi nhắm mắt, anh chẳng bảo với Quyến, ra quân thì xây dựng với Luyến. Chúc cho hai đứa hạnh phúc mỹ mãn. Nhớ ăn ở tử tế với Luyến, ở thế giới bên kia là tao mãn nguyện. Vậy mà bây giờ sao anh lại giận em, mà giận lâu thế?
Bật lửa châm lại. Nhang bắt lửa, cả nắm ngún đỏ. Khoản chạm dụng cụ vào cửa mộ sơn, gạch y nguyên. Tất cả sững lại, nghe lời thoảng trong không trung: “Thế gian còn đầy bất ổn. Ai dám chắc tiếng súng sẽ không bao giờ nổ nữa. Cây muốn lặng gió chẳng đừng. Âm phù dương trợ mới làm nên sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù. Người xưa chẳng đã nói, giữ nước từ sớm từ xa đó sao. Thế nên dù thân xác không còn, Khẩn cũng không về đâu”.
Mọi người sửng sốt, nhìn nhau lặng lẽ. Tình huống này biết ứng xử thế nào?
Người anh tên Vinh thắp nhang tiếp, bảo: “Chú Khoản đứng vào khấn đi”. Khoản quì xuống ba lần vái, rồi khấn:
- Anh không về, bảo em biết nói với bố mẹ
thế nào?
Thoảng trong tiếng gió lao xao:
- Thân xác anh đã hóa cả vào đất. Hơn bốn chục năm, ngắn ngủi gì đâu.
Em hãy lấy ở đây một nắm đất đưa về táng vào nghĩa trang liệt sĩ ở quê nhà. thế là anh trung với nước hiếu với nhà thế chẳng là vẹn cả đôi đường sao. Anh ở lại cùng đồng đội bảo vệ Tổ quốc. Không còn sớm nữa, em với anh Vinh, cả em Luyến nữa, sửa soạn xe về đi. Đến giờ đơn vị sinh hoạt rồi anh phải có mặt. Điểm danh thấy vắng không có lý do, chỉ huy sẽ phê bình.
*
Ngày ấy, ở quê tổ chức lễ truy điệu liệt sĩ Nguyễn Đình Khẩn. Đúng phút mặc niệm có con bướm trắng cánh mỏng tang bay vào nhà, đậu xuống chiếc tiểu sành. Anh Vinh, người đi Cao Bằng hôm trước nói:
- Chú Khẩn về đấy cả nhà ạ.
Mọi người giật mình. Ai đó nói:
- Đúng có bướm trắng vừa bay vào nhà lượn mấy vòng giờ không thấy đâu nữa.
- Chú ấy về chào bố mẹ, anh em họ hàng làng xóm giờ chắc là đã trở lại đơn vị rồi.
Hoàng thôn, một ngày tháng Bảy.
P.N
Minh họa của Lê Cù Thuần
17-12-2024
17-12-2024
17-12-2024






.jpg)

