Bút ký của Tạ Bá Hương

Ông Súy là em trai ông nội tôi. Nhà có bốn anh em, nhưng mất vãn, chỉ còn lại ông nội tôi và ông chú Súy. Hồi lên khai hoang nơi bến Hang Mang, cả hai ông cùng đi. Nhưng ông nội tôi lên trước, ông chú Súy lên sau. Ngày ông nội tôi lên quê mới, ông Súy còn đang ở bên Thái Lan. Ông vốn người làng Đông Hội, rồi theo người ta đi làm phu ở khắp nơi. Xô đẩy thế nào, ông dạt sang Thái Lan và định cư tại đó. Sau này ông lấy vợ, người vùng Hà Tĩnh. Hai ông bà ở với nhau, mãi chả có con. Sống nơi xứ người, kể cũng vất vả, nguy hiểm, ăn ở tằn tiệm mà cũng chả dư dả gì. Đắn đo mãi, cuối cùng ông quyết định trở về nước, trở về cái làng Đông Hội vùng chiêm trũng nơi ông đã sinh ra, với quãng đời tuổi thơ cơ cực. Dù sao nơi đó là quê nhà, là nơi chôn nhau cắt rốn, đói hay no cũng chấp nhận ăn đời ở kiếp với làng. Nhưng bao năm xa quê đằng đẵng, không tin tức, nên ông không thể hình dung cuộc sống nơi thôn quê vào thời điểm đó ra sao. Nhưng, khát vọng trở về quê cũ nó vẫn giống như ngọn gió thổi mát vào cuộc đời ông, nhất là khi ông nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc. Tiếng gọi những người con xa xứ trở lại xây dựng quê hương trong những năm miền Bắc đang bắt tay vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Vậy là cả hai ông bà theo chuyến tàu dời ga từ đất nước Thái Lan xa xôi, nhọc nhằn về lại làng Đông Hội. Tưởng như nơi đó sẽ là dấu chân cuối cùng trong cuộc đời lưu lạc của ông. Vậy mà, về quê thì hay tin cô em út đã mất. Còn một anh trai, tức là ông nội tôi thì đã dời quê, theo đoàn người khai hoang lên tận mạn ngược Tuyên Quang. Nơi đó ông chưa từng đặt chân đến, chỉ tưởng tượng thôi cũng thấy nó thực sự hoang vu, xa lạ.
Hỏi han thông tin, biết ông nội tôi đang sinh sống nơi bến Hang Mang, ông Súy đăng kí xin với địa phương để có danh sách cử đi khai hoang, phát triển miền núi. Chờ đợi mãi, cuối cùng ý nguyện của ông mới được đáp ứng. Ngày chia tay quê cũ, thấy quê nhà xao xác gió, cảnh người làng li tán, ông không khỏi xót xa. Nguyện vọng về Tổ quốc, chấm dứt nửa đời lưu lạc nơi xứ người của ông tại quê nhà không trở thành hiện thực. Ông chấp nhận đánh đổi cuộc đời mình vào một chuyến đi mới, đầy sự bất trắc. Ông mang theo bà, ngồi chuyến xe khách nhồi nhét toàn người, đồ đạc và cả súc vật để lên miền ngược. Tiếng trẻ con khóc, tiếng than vãn của đoàn người chật cứng trong thùng xe, khiến ông phần nào thấy cám cảnh về cuộc đời trong những năm đất nước còn gian lao, khốn khó. Đường lên mạn ngược cứ một chiều đi heo hút, toàn ổ voi, ổ gà hoắm sâu, chiếc xe nhiều lúc như muốn hất văng cả đoàn người xuống đất. Đánh vật với những cung đường đất đá lởm chởm, sau mấy ngày đói khát, cuối cùng ông bà Súy cũng đặt chân lên được bến xe Tuyên Quang, một bến xe nhỏ nằm nép mình bên bờ sông Lô. Từ đây, cả hai ông bà cuốc bộ, bắt đầu hành trình mấy chục ki - lô - mét nữa mới đến được bến Hang Mang.
Thời còn sống, có lần ông Súy nói với tôi:
- Tưởng chết mấy phen đấy.
- Sao vậy, ông?
- Xe đổ.
Người ta dẫn ông bà và mấy người nữa, bám dọc tuyến Quốc lộ Hai mà đi. Lên đến bến Hang Mang, ông Súy và ông nội tôi gặp được nhau, mừng không tả siết. Anh em cứ bám rịt lấy nhau, ôn lại bao thương nhớ của những ngày xa cách. Nhưng đời sẽ không cho phép ông chú và ông nội tôi cứ mãi chìm đắm vào những cảm xúc cá nhân, phía trước của họ là cuộc sống lâu dài trên quê mới. Sẽ bắt đầu từ đâu với hai bàn tay trắng? Đặt chân lên đây, ông Súy cũng chả có của nả gì, chỉ có mấy bộ quần áo cũ kĩ, mấy cái nồi và dụng cụ lao động. Ông nội tôi thương em, nhường lại một phần đất để hai ông bà Súy dựng tạm lấy một nếp nhà. Ông bà được bổ sung nhân khẩu vào danh sách và trở thành xã viên Hợp tác xã Hồng Thái, đi làm theo công điểm, giống như các lao động khác trong làng. Tuy vất vả, nhưng vui, vì toàn người làng Đông Hội lên cả. Thời ấy, mọi người chỉ lo miếng cơm, manh áo, lo sao đủ thóc gạo mà nuôi những miệng ăn trong gia đình, chứ cũng không có mấy bon chen. Cuộc sống cứ êm đềm diễn ra như vậy. Hai ông bà Súy hàng ngày vẫn chia nhau đi ra đồng làm lụng, mọi thứ đều có Nhà nước lo sẵn cho. Bà Súy vì chồng mà chấp nhận lên đất này, gắn bó nửa phần đời còn lại với dòng sông, với bến ghềnh Hang Mang như một sự đã rồi.
Bà Súy vốn nghiện ăn trầu. Bà có thể bỏm bẻm nhai liên tục cả ngày. Hết miếng này bà lại têm thêm miếng khác. Một hôm, vào chính ngọ, bà một mình ra bến, nơi đó có cây phách cổ thụ, thân rễ mọc chờm ra cả mặt nước. Nghe làng đồn, khu vực này thường có thần linh canh giữ, nên người làng không ai dám động đến. Bà Súy vốn bán tín, bán nghi, nhưng trong những miếng trầu têm, không thể thiếu loại vỏ của cây phách. Có nó, miếng trầu sẽ đủ vị, ngon hơn, đậm đà hơn. Mấy ngày mưa gió liên miên, số vỏ cây phách bà tích trữ được để dùng, giờ không còn.
Vậy là bà đành lần ra gốc cây phách, vung dao, đẽo lấy vạt vỏ về dùng. Cả thân cây bất ngờ rung lên, những chiếc lá trên ngọn đung đưa như có luồng gió mạnh thổi tạt qua. Bà Súy hét lên một tiếng, rồi đổ ụp người xuống gốc cây. Lúc bà tỉnh dậy thì không còn nhớ đường về nhà nữa. Sự việc này tôi không được chứng kiến vì lúc đó tôi còn quá nhỏ, sau thấy người làng bảo, ngay buổi trưa hôm ấy, bà Súy phát bệnh ra rồ. Từ đấy bà đâm ra sợ người, chả dám đi đâu, chỉ ru rú ngồi trong xó nhà, nói cười điên dại một mình. Hễ gặp ai đến chơi, bà trở nên sợ hãi, như người đó đang đến bắt bà đi. Ông Súy vốn chật vật cả ngày ngoài đồng áng, giờ lại thêm gánh nặng chăm sóc bà vợ điên dại của mình, đâm ra quẫn trí. Ông xót xa phận mình bao nhiêu, lại càng xót xa cho số phận của bà bấy nhiêu. Sống với nhau cả một quãng đời dài, bà chưa một lần được sinh nở lấy một lần. Còn ông, cũng chưa một lần được làm bố, được nghe tiếng trẻ gọi bằng cha, dù chỉ một lần. Nỗi khao khát ấy cứ luôn được giấu kín trong lòng, không dám nói ra, sợ bà Súy buồn. Giờ bà ra nông nỗi này, ông biết xoay sở thế nào cho phải nhẽ. Nhiều đêm hoang vắng, bà chợt hét lên, tiếng hét man dại, khiến ông đành bỏ dở giấc ngủ.
- Làng nước ơi, người ta đến giết tôi.
Những lúc như vậy, ông lại lặng lẽ đến ngồi bên bà, an ủi, vỗ về. Người vợ tào khang của ông đã cùng ông vượt qua những tháng năm dài khốn khổ. Cứ ngỡ nơi bến Hang Mang này sẽ là điểm dừng chân cuối cùng của vợ chồng ông, nơi đó sẽ mang lại hạnh phúc, sự no đủ cho cả hai người. Nhưng niềm hi vọng đôi khi lại không giống như những gì mình nghĩ. Cuộc sống vốn phức tạp, khiến con người phải trải qua nhiều thử thách và cả sự hi sinh. Dẫu khát vọng về một đứa con cho căn nhà vợi bớt đi nỗi cô quạnh, là niềm an ủi duy nhất lúc tuổi già, nhưng mãi ông bà vẫn không thể nào thực hiện được. Đó là một nỗi đau, nỗi đau ấy thầm kín, khó có thể chia sẻ cùng ai. Tuy bà Súy không có khả năng sinh nở, song tình yêu và thử thách qua năm tháng gian truân cũng đủ để ông bà gắn bó bên nhau, động viên nhau xây dựng sản nghiệp vững chắc bên bến sông. Giờ bà ra nông nỗi này, ông đành chấp nhận gánh thêm phần vất vả. Dù sao thì nơi quê mới vẫn còn ông nội tôi và bà con làng xóm đỡ đần, ít nhiều cũng làm ông vợi đi tâm lí túng quẫn.
Bà Súy bị điên, bệnh mỗi ngày một nặng, mấy năm sau thì mất. Người làng Khánh An thương tiếc cho bà, một số phận kém may mắn. Vậy là đã xong một kiếp người. Nhưng người làng chép miệng bàn tán:
- Bà ấy mất, ông Súy đỡ vất vả hơn.
- Thì đã đành là vậy.
Cuộc sống biến đổi nhanh chóng. Cung cách làm “đánh trống ghi điểm” từ thời còn quy mô Hợp tác xã cũng không còn nữa. Nhà nước bắt đầu giao đất cho dân tự canh tác, tự chịu trách nhiệm với thành quả lao động và đóng thuế theo quy định. Với cách làm mới này, thời điểm ấy gọi là “khoán mười”, giúp nông dân chủ động hơn và có trách nhiệm hơn trên mỗi thửa ruộng Nhà nước giao. Ông Súy cũng nằm trong cái vòng biến đổi đó. Nhưng, nhà người ta đông lao động, bước vào mỗi vụ gieo trồng, người ta làm một nhoáng là xong. Đằng này, ông chỉ có một mình, từ việc gieo mạ, cày bừa, cấy hái đều một tay mình lo cho mình cả. Anh em họ hàng, bà con lối xóm có giúp đỡ thì cũng chỉ phần nào thôi, chứ ai mà giúp mãi được. Hơn nữa, dịp ấy nhà nào cũng đẩy nhanh tiến độ để lên đồng sớm. Ông Súy một mình cứ lầm lũi trên thửa ruộng mình, ai nom thấy cũng đều đôi phần ái ngại.
Bà Súy mất, ông Súy ở vậy một mình trong căn nhà mái gianh nằm ở đầu làng Khánh An. Sau này ông chuyển nghề, đi buôn rượu. Ngày tôi còn bé, vẫn thấy ông đi chân đất, đội cái nón rách và một cái đòn gánh, rồi dời làng. Ông thường đi từ đầu giờ chiều, đến nhọ mặt người mới thấy trở về để kịp gánh ra chợ phiên vào sớm hôm sau. Hóa ra ông đi mua cất rượu của người dân bên kia sông, thuộc các làng ở Chiêu Yên về bán dạo cho người hay rượu. Tôi thường được ông Súy nhờ trông nom giúp nhà cửa. Đổi lại, mỗi buổi như vậy, tôi được ông mua cho cái bánh tẻ, thỉnh thoảng còn được dúi vào tay dăm đồng bạc lẻ để mua sách vở học tập. Ông vốn có dáng người to lớn, nước da lúc nào cũng đỏ như đồng thau. Tính ông ít nói, cứ lầm lũi sống. Được cái ông rất thương người và ngại làm phiền ai khác. Chỗ để dựa dẫm tinh thần lớn nhất của ông trên quê mới Khánh An là người vợ và ông nội tôi. Nhưng cả hai đều đã mất cả, ông trở nên côi cút một mình trong căn nhà lá tuềnh toàng. Đôi khi ông cũng vời tôi sang ngủ cùng cho căn nhà đỡ hiu hắt.
Nhà ông Súy cách nhà tôi chỉ một bờ rào. Nhiều đêm khó ngủ, ông trải manh chiếu cũ ra giữa khoảng sân, rồi hai ông cháu nằm ngắm sao trời. Trăng sáng vằng vặc, những chòm sao nhấp nháy trên cao soi tỏ lên mặt đất, ánh sáng như mê dụ. Ông vốn có chút kiến thức về thiên văn, biết xem các chòm sao để biết về mưa gió, nắng hạn. Ông chỉ cho tôi biết đâu là sao Thần Nông, đâu là sao cân nước. Mỗi ngôi sao, hoặc chòm sao trên trời đều có ý nghĩa của nó. Biết xem sao sẽ biết được ngày mai mưa hay nắng. Đó là kinh nghiệm của ông, được đúc rút từ trong dân gian, nó giúp ích rất nhiều cho con người. Kinh hãi nhất là có lần ông kể cho tôi nghe câu chuyện về con giải ở ngoài bến Hang Mang. Dưới những phiến đá nhấp nhô, chằng chịt ấy có một cái hang ngầm. Cửa hang này rất rộng, chảy ngầm dưới lòng đất vài cây số, thông ra tận bến Lù. Nơi đó có một con giải sinh sống. Nó rất khát máu người. Thuyền bè đi qua đây, gặp lúc thời tiết nổi dông gió đều gặp tai nạn cả. Không ít người đã bỏ mạng nơi bến Hang Mang, xác cuốn vào hang mất tích một cách bí hiểm. Ông tả, con giải nó giống như con ba ba, mà không phải ba ba. Nó có đôi mắt mở to, đỏ như máu cắt. Hai bên mai là những viền vàng như miệng sáo non. Những đêm trở trời, con giải thường chui ra khỏi hang, nằm nghỉ ngơi, đầu ghếch lên phiến đá, nom thân hình nó to bằng mấy cái nia đựng thóc. Nom nó dữ tợn lắm. Người nào ra bến Hang Mang vào đêm trở trời, vô tình gặp con vật dữ tợn này, sẽ bị nó lấy mất hồn. Có những khi người ta còn bắt gặp nó bơi ngược sông, miệng phát ra tiếng thở nặng nhọc, nghe như tiếng trâu phì dưới nước.
Sau này, nghe đâu có một lão ngư dân chuyên đánh câu giăng đã bắt được con giải ở khúc sông Gâm, đoạn qua soi Trinh trên Chiêm Hóa. Sự kiện ấy xảy ra vào năm một nghìn chín trăm năm mươi tám. Con giải vô tình mắc phải lưỡi câu sắc lẹm của ngư dân. Nó vật lộn hòng thoát thân, khiến cả khúc sông bung ra từng đợt sóng trào. Con thuyền nan của ông lão dập dềnh trên sông nước, phút chốc đã bị sóng nhấn chìm. Phải mất rất nhiều công sức, cuối cùng ông lão ngư dân mới kéo được chiếc thuyền nan và con giải vào bờ. Con giải chết vì kiệt sức, ông lão đóng bè nứa, lật ngửa mang giải, đặt lên cái bè nứa, theo dòng xuôi về bến Pha Lô, một bến sông phía bên kia thị xã. Ông lão vốn là dân nhà bè, quanh năm sống dập dềnh trên mép sóng, nên với sông nước, ông rất thạo nghề. Nghe tin ông lão đánh bắt được con giải, dân hai bên bờ sông kéo nhau đến xem đông lắm, không chỉ người Tuyên Quang mà còn cả bên Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái cũng đổ về bến Pha Lô xem một loại động vật dưới nước mà họ chưa nom thấy bao giờ, nghe đâu nó chỉ xuất hiện trong truyền thuyết và trong câu chuyện dân gian. Ông lão ngư dân xẻ thịt con giải, chia cho từng người, nhưng chả ai dám ăn, vì họ chưa từng thấy loài động vật dưới nước nào kì lạ như vậy. Một thời gian sau, khi câu chuyện bắt được con giải lắng xuống, thì bất ngờ ông lão ngư dân ấy hộc máu mồm, rồi chết. Thằng cháu trai mới ba tuổi cũng chết đuối ngay sau đó không lâu. Gia đình thấy vậy, kinh hãi quá, đành bỏ nhà bè, kéo nhau lên bờ, chọn đất làm nhà, mấy đời sau không ai dám trở lại xóm nhà bè sinh sống như thời cha ông của họ.
Chẳng biết con giải mà ông lão ngư dân ở bến Pha Lô đánh bắt được có phải là con giải ở bến Hang Mang mà ông Súy kể hay không, nhưng nó đều mang lại những câu chuyện hãi hùng với người dân sống bên mép sóng. Có một điều lạ là, ngay bến Hang Mang có ông Thủy chở đò. Người làng Khánh An muốn sang Chiêu Yên, buộc phải đi qua đò này. Một chiếc đò nan nhỏ dại, vẫn hàng ngày neo bám vào bến sông. Ông Thủy chở đò ban ngày, nhưng người làng có việc đi đêm, ới ông một tiếng, ông sẵn sàng chở mà chả một câu phàn nàn. Nhiều khi chở đò muộn, ông cột đò vào bến, một mình đánh trọn giấc dài.
Tôi hỏi ông Suý:
- Ông Thủy không sợ con giải bắt hồn đi sao?
- Cũng sợ, nhưng vì miếng cơm cả.
Tôi nghe ông Súy kể vậy, từ đó sợ chả dám một mình ra sông.
Trong số các cháu, ông Súy đặc biệt quý tôi. Có lần tôi thấy ông đứng bên bờ rào tre gai, bắc giọng gọi:
- Sang đây ông bảo.
Tôi đang trông em, nghe gọi thế, liền lạch bạch chạy ra đầu ngõ:
- Ông gọi cháu à?
- Chả gọi cháu thì gọi ai.
Tính ông là vậy. Có miếng nào ngon ông đều để dành. Lúc thì cái bánh lá, lúc vài viên kẹo bột, tuy giản đơn, thời ấy trẻ con được ăn thứ đó là cả một niềm hạnh phúc lớn lao. Nhưng hôm nay sang nhà ông, không có kẹo bánh, chỉ là một tấm vải đỏ, ông mua cho tôi ngoài chợ phiên. Ông bảo, cầm về đưa mẹ tôi cắt cho manh quần. Mảnh vải đó mẹ tôi cắt thủ công, khâu may lại, cuối cùng nó cũng trở thành manh quần rộng thùng thình. Tôi sung sướng vì có có manh quần mới, chạy đi khoe khắp nơi. Lúc gặp anh Thành nhà bác Cận, anh trêu:
- Lêu lêu… anh Nô. Anh Nô…
Tôi đâm ngượng, sau cũng không mặc lại cái quần
ấy nữa.
Ông Suý vẫn hàng ngày đi cất rượu về bán. Ông không bao giờ đi dép, toàn thấy đôi chân trần cuốc bộ. Da dưới lớp chân trần dày lên như chiếc mo nang. Chỗ nào phồng rộp, sẽ lên sẹo. Lớp sẹo này đè lên lớp sẹo khác. Vậy mà chả nom thấy ông ốm bao giờ. Ngày nào người ta cũng thấy ông gánh đôi can rượu, mỗi can hai mươi lít, vị chi số rượu trong hai can đó chừng bốn mươi lít cả thảy. Phiên chợ nào ông cũng đều có mặt từ sớm. Chợ Thái Hòa, chợ Hùng Đức, hay chợ Thái Sơn, Bình Xa… đều có bóng dáng của ông. Hôm nào bán hết thì ông về nhà sớm nghỉ ngơi. Còn hôm nào bán ế, ông chấp nhận gánh rượu đi vào các làng để đổi rượu lấy lương thực. Giờ ngồi ngẫm lại, tôi cứ thấy bùi ngùi thương ông, một mảnh đời đã trải qua bao nhiêu biến cố, đau buồn. Trong kí ức của tôi, tiếng rao bán rượu của ông vẫn văng vẳng ở đâu đó, trong sâu thẳm tâm hồn. Tiếng rao khản đục, chất chứa nhiều nỗi đời đã trải qua nhiều biến cố.
- Ai mua rượu… đ… ê…đê.
Mãi sau này, khi bố mẹ tôi bán nhà ở Khánh An để chuyển ra Ao Vệ, ngôi làng nằm giáp đường cái quan cho tiện, ông Súy cũng bán nhà cho bà Bẩy và theo bố mẹ tôi ra đó ở. Đồ đạc ông mang theo, ngoài dụng cụ cần thiết phục vụ sản xuất, sinh hoạt cá nhân ra, ông Súy vẫn không quên mang theo cả đôi quang gánh và chiếc đòn càn. Dụng cụ đó neo bám vào cuộc đời ông từ cả chục năm nay trên cái hành trình chạy chợ bán rượu. Đoạn đường từ nhà tôi sang Chiêu Yên, giờ lại xa hơn nhiều so với thời còn ở Khánh An. Bởi vậy, sau mỗi buổi trưa, cơm nước xong, ông lại quẩy đôi quang gánh lên vai, cuốc bộ đi mua cất rượu để còn kịp buổi chợ vào sớm mai. Thấy công việc của ông đang làm vất vả quá, trong khi tuổi ông đã cao, bố mẹ tôi cấm tiệt, không cho ông chạy chợ nữa. Từ đấy ông đành bỏ nghề, nhưng tuần nào cũng thấy ông một mình lững thững đi chơi chợ. Ông chả mua bán gì, chỉ đến khi vãn chợ ông mới trở về, trên tay xách theo vài cái bánh tẻ cho các cháu. Dường như ông thuộc về nơi đó, bởi nó là một phần kí ức của ông, chẳng dễ gì bỏ được.
Tôi lớn lên, đi học Sư phạm ở tỉnh. Ra trường, tôi ngược lên Yên Thuận dạy học. Đó là vào năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy, lúc đó ông Súy đã tròn chín mươi tuổi. Nếu giờ ông còn sống, cũng đã gần một trăm hai mươi tuổi đời. Thời ấy, râu tóc bạc phơ, người quắc thước, săn chắc, nom ông giống như một lão nông tri điền. Thời ấy nhà tôi nghèo, ăn uống kham khổ, nhiều bữa ăn muối rang với cơm độn sắn, nhưng ông vẫn lầm lũi ăn ngon lành. Đến mãi dịp hè năm sau, tôi về quê thì hay tin ông Súy vừa mất. Thời ấy chưa có điện thoại, mọi liên lạc giữa vùng này với vùng kia chỉ bằng cách biên thư. Mẹ tôi bảo, ông đi nhẹ nhàng lắm. Hôm trước ông kêu mệt, hôm sau thì mệt hẳn. Trong cơm mê sảng, ông liên tục nói những điều quái gở. Có lúc ông hét lên một mình.
- Các ông bà ơi, chờ tôi với. Tôi về đến cầu Gián rồi.
Cầu Gián là địa danh ở Ninh Bình, nơi chuẩn bị dẫn vào làng Đông Hội. Có lẽ, con người ta trước khi chết, bao giờ phần hồn của mình cũng muốn trở về cố hương. Trở về cố hương để sống lấy một lần, dù chỉ một lần trong ý niệm nào đó, rồi thanh thản ra đi. Ông Súy cũng vậy. Ngỡ tưởng hơn ba mươi năm xa quê, theo anh trai ngược lên Tuyên Quang, ông đã có thể quên đi góc quê nghèo túng của mình. Nhưng không, nó vẫn còn in đậm trong ông, để một lần nào đó, ông sẽ trở về. Nơi đó là cái núm nhau của mình được cha mẹ chôn xuống vạt đất nâu; là quãng đời tuổi thơ; là mồ mả ông bà nằm lạnh lẽo trên cánh đồng làng bời bời sương gió. Ngày thứ hai ông liên tục gọi tên làng cũ, dẫu khi sống không có điều kiện mà trở về. Bước sang ngày thứ ba thì ông Súy mất, mộ phần chôn ở làng Ao Vệ. Trước khi mất, ông chả kịp trăn trối điều gì. Mộ phần của bà Súy thì chôn tại làng Khánh An. Trước đây, bố mẹ tôi có ý quy tập mộ bà về ngoài này cho tiện hương khói, nhưng ông Súy không chịu. Ông bảo, cứ kệ bà nằm lại đấy để có bà con lối xóm quen thuộc cho bà ấy đỡ hưu quạnh. Giờ ông ra đi với bà, mang theo cả một chặng đường đầy bất hạnh trên nhân gian. Âu cũng là một kiếp người. Dù khó nhọc, nhiều biến cố, hay hạnh phúc, no đủ thì ông đã sống trọn một đời với nó, với những câu chuyện ma mị của làng. Ông cũng mang theo câu chuyện về con giải nơi bến Hang Mang đi theo. Và, ở một nơi nào xa lắm, ông có còn gánh những gánh rượu trên vai trần của mình?
T.B.H
Minh họa của Quảng Tâm

.jpg)






