Con đường mùa xuân năm ấy...

Thứ ba, ngày 17-12-2024, 09:54| 3.159 lượt xem

Bút ký của Lê Na

 

Mùa lúa chín ở Đường Âm, Bắc Mê.  Ảnh của Lê Na

 

 

Năm một chín bảy tám, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc chuẩn bị diễn ra. Nắm bắt trước tình hình, trung ương Đảng đã quyết định cho tỉnh Hà Tuyên, mở con đường nối từ Bản Lãm, trước đây thuộc xã Đà Vị (nay thuộc xã Khau Tinh, huyện Na Hang) ngược lên tiểu khu Bắc Mê thuộc huyện biên giới Vị Xuyên. Chiều dài con đường chiến lược này khoảng một trăm kilomet. Một vùng núi rừng đại ngàn, cư dân thưa vắng, chủ yếu là đồng bào Tày, Dao, Mông. Đây là con đường mòn duy nhất cho người đi bộ hoặc đi ngựa. Đường len lỏi qua những khu rừng rậm, ken dày cây cổ thụ, qua rừng vầu, tre nứa bạt ngàn, qua những triền núi đá gan gà và nhiều chỗ phải lội qua suối.

Đúng vào thời điểm cả nước hướng về biên cương, dồn sức người, sức của cho mặt trận biên giới phía Bắc. Tại tỉnh Hà Tuyên khi đó, những người có sức khỏe ở các huyện phía Nam, được tổng động viên đi phục vụ chiến đấu. Hàng ngàn dân công hỏa tuyến đi bạt núi, băng rừng, mở đường; xây dựng phòng tuyến an ninh vững chắc. Làm đường Quyết Thắng là những đoàn viên, đảng viên, nông dân của bốn huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hóa và Na Hang. Khoác ba lô lên đường như người lính, họ bỏ lại sau lưng mẹ cha, vợ hoặc chồng và con nhỏ lên đường.

Tôi gặp lại ông Nguyễn Mạnh Hùng, sáu mươi bảy tuổi, ở thôn hai, xã Kim Phú, thành phố Tuyên Quang, người đã từng hơn nửa năm nằm rừng, ngủ lán. Công việc của các ông ngày đó là dùng mìn phá đá, mở tuyến. Những vách đá treo leo; từng vạt núi gan lì, khô khốc. Lao động thủ công, dùng sức người là chính. Đôi tay trần, bỏng rát vì quai búa, đục choòng. Những cánh rừng đầy muỗi vắt, còn ám ảnh đến tận bây giờ. Ông nhớ lại một tai nạn thương tâm xảy ra khi dùng mìn phá đá. Không chỉ mồ hôi, nước mắt mà cả xương máu của những người mở đường đã đổ xuống nơi rừng sâu, núi vắng. Đó là trường hợp anh Lý Văn Viên, dân tộc Cao Lan, quê tại xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn tử vong do bị đá rơi trúng đầu. Khi đó anh Viên mới ngoài ba mươi tuổi. Sức khỏe ông Hùng nay đã yếu, nhưng trí nhớ vẫn tường tận. Vài năm trước ông bị tai biến nên phải ngồi xe lăn, hàng tháng đi bệnh viện kiểm tra sức khỏe và lấy thuốc. Ông còn nhớ như in những đêm mưa rừng, nước xối xả mái lán. Tuổi trẻ được đem sức mình cống hiến cho tuyến đầu Tổ quốc, không có niềm vui nào bằng. Gió vùng sâu thổi hun hút giữa rừng.

Trong chiến dịch này, xã Kim Phú, lúc đó thuộc huyện Yên Sơn, có một trăm năm mươi người tham gia. Dân công được biên chế theo A, B và C như đơn vị quân đội. Những ngôi lán cột vầu, mái nứa, dựng tạm ven đồi. Phên liếp, cỏ cây chắn che gió thổi vùng sâu. Đang ngồi trò chuyện với ông Hùng thì một người bạn cũ của ông đến thăm. Ông là Lương Văn Đông, sáu mươi lăm tuổi, cùng đợt đi hỏa tuyến với ông Hùng. Ông Đông lên biên giới đúng vào ngày thành lập Đảng, mồng ba tháng hai năm bảy chín. Ba ngày sau thì vợ ông ở quê sinh con gái đầu lòng. Mọi việc gia đình nhờ anh em, bà con hàng xóm giúp. Nửa tháng sau, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ. Và, cũng mãi sau, có người từ quê lên, ông mới hay tin vợ mình đã vượt cạn thành công.

Đất nước sau ngày miền Nam giải phóng, khó khăn chồng chất, thiếu thốn đủ đường. Cả hai miền chung sức gồng lên vượt qua đói nghèo sau chiến tranh. Vừa mới hân hoan niềm vui hòa bình, dân công hỏa tuyến lại lên đường nhận nhiệm vụ mới. Gia tài xếp trong ba lô, lên xe tải hướng phía biên giới. Một ngày đường cho hơn hai trăm cây số. Phía trước là mịt mùng sương giăng, heo hắt nơi rừng thiêng nước độc. Họ bắt đầu chặt cây, san nền làm lán trại. Tự tìm nguồn nước, chặt nứa tre dẫn nước trên núi cao về nơi ở. Cơm gạo nhà nước nuôi, nhưng phải đi bộ lấy gạo từ tiểu khu, cách công trường hơn hai chục cây số. Những thanh niên khỏe mạnh thường được phân công đi gùi, cõng lương thực. Mỗi người cũng chỉ mang được không quá hai mươi kilogam. Ông Đông nhớ lại mỗi khi trèo đèo lội suối đi lấy gạo mà ngán ngẩm. Trèo qua rừng vầu, vượt qua đèo Bảy Trăm và dốc Ngất (tên đèo dốc do anh em tự đặt) mà muốn xỉu luôn.

Bà Lâm Thị Thục, xã Kim Phú, ngày đi hỏa tuyến chưa đầy hai mươi tuổi. Khi đất nước cần là tuổi trẻ xung phong. Chẳng biết đi đến đâu, chỉ biết đi mở đường biên giới, là tình nguyện nhận nhiệm vụ. Lần đầu tiên cô xa nhà đến bốn tháng liền. Những cô gái trẻ ở lán công trường phải trải qua nhiều khó khăn và thiếu thốn. Đói và rét. Mọi giờ giấc, sinh hoạt đều phải theo mệnh lệnh của chỉ huy. Có khi ăn bột mì luộc hoặc hạt bo bo thay cơm. Thực phẩm đều trông vào rừng và suối. Hết giờ trên công trường chị em lại đi kiếm rau rừng. Măng đắng, rau dớn, lá rừng là thực phẩm chính. Ốm đau, sốt rét thì nghỉ làm. Hết cơn sốt lại ra công trường, mưa cũng như nắng. Đêm đêm nhớ nhà, nghe tiếng nai tác, lợn rừng kêu, hay tiếng chim từ quy gọi bạn... mà lòng dạ xốn xang. Từ mùa xuân qua mùa hạ, mãi rồi họ cũng thành quen...

Tôi biết ông Nguyễn Công Suất, cách đây sáu năm. Ông Suất sinh năm một chín bốn tám, hiện trú tại phường An Tường, thành phố Tuyên Quang. Lần ấy ông cùng bạn là ông Nguyễn Gia Cát, nguyên Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện Bắc Mê, trở lại con đường xưa, thăm người thân cũ. Nay ông Cát đã mất. Đó là vào năm hai ngàn không trăm mười tám. Bước sang tuổi bảy mươi, ông Suất quyết định thực hiện chuyến ngược Bắc Mê. Ông chuẩn bị khá kỹ, mua chăn áo tặng những gia đình ngày xưa đã đùm bọc giúp đỡ cán bộ giao thông.

Là một cán bộ của Sở Giao thông Hà Tuyên, suốt thời trai trẻ ông đã có mặt tại đây. Ông đã ăn miếng cơm, hạt ngô, củ sắn của dân, ngủ nhà sàn nhiều đêm lạnh rét. Nghĩa nặng tình dân ông làm sao dám quên. Đó là gia đình ông Hứa Văn Kim và ông Nguyễn Văn Quỳnh ở bản Loòng, xã Đường Âm.

Chúng tôi đã được chứng kiến cuộc gặp mặt đầy cảm động. Xe ô tô chạy bon bon từ huyện lỵ Bắc Mê. Đi đến đâu, ông lại giới thiệu chi tiết từng bản làng, từng con đèo, khe suối. Thay cho các cột mốc là từng kỷ niệm đóng dấu thời trẻ trai của ông. Bản Loòng của người Tày, hiện ra trong chiều cuối đông. Những mái ngói âm dương mờ trong sương mỏng. Nơi đây ông đã ở ròng rã nhiều năm liền khi mở đường Quyết Thắng. Sắp Tết, cây mận bung hoa trắng muốt, bên những cành đào cánh hoa phớt hồng. Ông Suất không nhận ra ngôi nhà cũ mà ông đã từng ở. Nhà xây, nhà sàn bê tông đã mọc lên nhiều hơn, xúm xít bên nhau. Ông phải hỏi thăm mới đến đúng nhà. Bước lên cầu thang nhà sàn, chủ nhà không nhận ra khách. Đôi ánh mắt nhìn nhau để tìm về quá vãng gần nửa thế kỷ trước. Chỉ đến khi khách nói tên, chủ khách mới choàng tay ôm nhau cười. Bếp lửa nhà sàn, chuyện râm ran thâu đêm...

Nhớ lại, năm một chín tám tư, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Tuyên chính thức được thành lập và đi vào hoạt động. Cũng ngay sau đó, tôi được điều chuyển công tác, tăng cường cho huyện vùng sâu của tỉnh. Công tác an ninh trật tự ở thời điểm đó là ổn định nơi ở mới của đồng bào sơ tán từ các xã biên giới Vị Xuyên về; tuyên truyền để bà con nâng cao cảnh giác, bảo vệ làng bản và đấu tranh chống các hoạt động phá hoại của kẻ xấu; bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan... Tôi được tăng cường cho xã và sau đó làm cán bộ tổng hợp của công an huyện.

Con đường nối hai huyện Bắc Mê và Na Hang đã hiện lên hình hài nhưng còn dang dở. Nhiều đoạn bị sạt lở, nhất là đoạn qua suối Nặm Vang (Nước Vàng), thuộc xã Đường Âm. Nước suối hầu như quanh năm có màu vàng. Những năm tám mươi, chín mươi, người dân địa phương và tứ xứ về đây khai thác vàng. Có chuyện, người dân khi mổ vịt thả trên suối, còn được cả vàng thật. Vào thời điểm ấy, ô tô, xe máy đã có thể đi qua hai huyện.

Tôi là người thật may mắn. Sau khi rời công tác ở Bắc Mê năm một chín tám bảy, đã có nhiều lần quay trở lại nơi đây. Năm một chín chín mốt, hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang được tái thành lập. Những người đã từng công tác ở Bắc Mê, hiện ở Tuyên Quang đã lập một nhóm mang tên Hội Cựu cán bộ Bắc Mê. Anh chị em trong nhóm đã quyên góp chăn màn, quần áo, sách vở và đồ dùng học tập cho đồng bào và học sinh xã Giáp Trung, xã Đường Hồng. Con đường nhựa đã nối liền hai huyện và bây giờ là hai tỉnh anh em. Từ năm hai ngàn không trăm mười bảy, theo đề nghị của cử tri Tuyên Quang, Nhà nước đã quyết định đổi tên đường tỉnh Một Chín Mươi thành Quốc lộ Hai Tám Mươi. Quốc lộ này có tổng chiều dài một trăm bảy ba kilomet, kết nối các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn và Cao Bằng.

Tháng mười năm ngoái, tôi cùng ông Nguyễn Quốc Trí, nguyên phóng viên Báo Hà Giang lại được rong ruổi xe máy trên Quốc lộ Hai Tám Mươi. Từ thị trấn huyện Na Hang, ngược Thượng Giáp sang Đường Âm, Đường Hồng huyện Bắc Mê. Con đường nhựa êm ro, tuy còn nhiều đoạn quanh co, đèo dốc. Chúng tôi đều có cảm giác thanh thoát khi lượn qua những đồi chè, nương lúa ruộng bậc thang đang chín vàng. Bộ mặt nông thôn mới ở một vùng sâu xa, vùng có nhiều khó khăn đã bắt đầu khởi sắc.

Đường dẫn chúng tôi được trở về với thiên nhiên trong lành, về với bản làng bình yên. Bên đường, những ngôi nhà sàn, khói bếp quấn quýt lan tỏa. Cái màu ngói thâm trầm, ấm áp từ cổ xưa. Trâu đàn, dê núi chạy đùa trên đồi cỏ. Vịt bầu, món ngon truyền thống của Bản Loòng, tung tăng trên suối Nặm Vang. Từ Quốc lộ, con đường bê tông chia về các ngả đường, như cánh tay vươn xa tận thôn bản. Sản phẩm chè của Khuổi Luông, xã Đường Hồng đã cất cánh bay xa. Cây quế, quả hồng, của Phiêng Luông, Yên Phú, Yên Cường hay hạt gạo nương thơm dẻo của Bắc Mê đã có nhiều đường về xuôi, lên ngược.

Khi tôi đang bài viết ký này thì nhận được điện thoại của ông Suất. Ông rủ tôi ngược Bắc Mê. Cảm xúc bỗng như dâng trào, tôi nhận lời và hồi hộp chờ giờ lên đường. Mùa xuân như cũng đang về với huyện vùng sâu Bắc Mê. Đoạn xuống dốc Tảm Mò, xã Yên Định, nơi cách đây hơn bốn tháng một vụ sạt núi, làm nhiều người bị vùi lấp thương tâm. Nay các máy ủi, máy cuốc đang hối hả mở rộng mặt đường và hạ thấp độ dốc. Quốc lộ Ba Mươi Tư nhiều đoạn đã được bạt núi, mở rộng vòng cua. Mùa đông, ngô, thóc phơi vàng khắp nhà sàn. Nương ruộng chỉ còn thấp thoáng bóng trâu bò. Rừng Bắc Mê biếc xanh bên dòng Gâm, mặt nước dâng tràn.

Anh Nông Văn Tuyến, bốn mươi mốt tuổi, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện đón chúng tôi như người thân trong gia đình. Anh được sinh ra vào năm trước khi thành lập huyện mới. Bố anh, ông Nông Văn Khoách từng làm Giám đốc cửa hàng Thương nghiệp, sau đó là Chủ tịch huyện. Anh nói với chúng tôi về phương hướng phát triển kinh tế, xã hội của Bắc Mê; Về Di tích Căng Bắc Mê vừa được đầu tư, tôn tạo và nâng cấp trang thiết bị phục vụ du khách; Và, lại nói về con đường mùa xuân năm ấy, nhiều hơn cả tuổi của anh.

Từ Căng Bắc Mê, xe chúng tôi xuôi Quốc lộ Hai Tám Mươi. Đường xuyên qua rừng quế, đồi chè, nương ruộng bậc thang. Thỉnh thoảng ông Suất lại bảo dừng xe để chụp ảnh. Những người năm xưa bao bọc, chở che cho ông và dân công hỏa tuyến nay đã thưa vắng nhiều. Nét mặt ông trĩu nặng khi nghe tin ông Kim, ông Quỳnh người Bản Loòng cũng đã về trời mấy năm trước.

Xe qua Nà Phiêng, một bản của người Dao Đỏ, ông Suất ghé vào ngôi nhà ven đường hỏi thăm về ông Bồn Văn Hiền. Đó lại là gia đình anh Bồn Văn Quyết, cháu nội ông Hiền. Anh Quyết cho biết ông nội của mình mất đã lâu. Nà Phiêng xưa chỉ có chục hộ, nay đã lên năm mươi sáu hộ. Những mái nhà đất, mái ngói nâu tập trung ở thung lũng, chỉ có đôi ba nhà mới dựng bên đường. Con đèo Mạ Thai (ngựa chết) dài mấy cây số, ôm vòng lấy bản.

Trời đã chuyển lạnh. Gió vùng sâu đang thổi rào rạt dọc đường. Từng vạt hoa dã quỳ vàng rực nở. Hoa kiêu hãnh khoe màu sắc dọc con đường rừng. Dã quỳ mọc tự nhiên và cứ thế sinh sôi, như những đám mây vàng óng, xào xạc trong nắng gió. Chẳng mấy chốc chúng tôi đến Pom Cút, bản cuối cùng của Bắc Mê, trước khi xe lăn bánh đến Bản Vịt, Nà Ca, xã Thượng Giáp của Na Hang.

Con đường Quyết Thắng nối hai quê gần lại, cho anh em các dân tộc nắm chặt tay nhau. Con đường vượt qua bao khó khăn, gian khổ cho hôm nay vun vút những vòng xe, mang yêu thương đến bên nhau. Con đường ấy, với thông điệp quyết thắng để hôm nay những mùa vàng no ấm. Cho búp chè, hương quế, trái hồng, hạt gạo dẻo thơm và nhiều sản phẩm OCOP của Hà Giang, Tuyên Quang, đến với nhau rồi đi muôn nơi. Rất nhiều người không có dịp trở lại thăm con đường này, nhưng màu hoa trái còn mãi nhắc nhở tên tuổi họ. Hoa trẩu tinh khôi trắng, dã quỳ vàng màu nắng. Và những trái hồng đỏ rực như đèn lồng treo bên mái ngói. Tất cả như vẫn con đâu đó thấp thoáng bóng người dân công hỏa tuyến năm xưa.

Tuyên Quang, 30/11/2024

L.N 

 

Tin tức khác