Truyện ngắn dự thi của Hà Thế Đô

Bản Bao nằm nép mình giữa rừng đại ngàn Tuyên Quang, nơi có con suối Thượng Ngàn chảy len lỏi qua từng hốc đá, mỏm cây, chảy rì rào như hát, như ru rừng cây, trời đất. Nước suối trong như mắt nai, lạnh như sương đêm. Suối bắt nguồn từ đỉnh Khau Pải, quanh co đổ về bản, đến đầu bản thì bất ngờ đổ xuống thành một dòng thác ba tầng, trắng xóa và hùng vĩ, kéo dài hàng cây số. Thác tựa như mái tóc bạc phơ của mẹ núi ngàn năm. Dân bản Bao ở cả hai bên bờ suối. Người Tày, người Nùng, người Dao chung sống với nhau thuận hòa trong bản. Nước suối trong lành, dân bản bảo nhau giữ rừng nên nước suối không bao giờ cạn và rất nhiều cá. Lấy nước suối bản Bao trong lành tinh khiết, dân bản tạo nên một loại rượu nức tiếng cả vùng. Nhờ khí hậu trong lành, cây rừng tươi tốt và có nhiều vị thuốc quý, dân bản khỏe mạnh và đặc biệt con trai, con gái bản Bao cao ráo, da trắng, xinh đẹp nức tiếng một vùng. Nhiều cô còn lấy chồng tận miền xuôi, cả ở Hà Nội nữa, thật đúng là “Chè Thái, gái Tuyên”. Thác bản Bao nước đổ quanh năm, không bao giờ cạn là nhờ vào rừng nguyên sinh. Mùa mưa thác đổ ầm ầm, vang động cả một vùng, từ xa hàng cây số đã nghe tiếng thác. Thác tung bọt trắng xóa giữa rừng xanh trông xa như con rồng vươn cao, có đoạn như tấm màn nước phủ lên những tảng đá khổng lồ, nhẵn thín. Mùa cạn, dòng suối trong vắt nhìn thấy tận đáy. Suối trong lành và rất nhiều cá. Nhiều tảng đá hình thù kỳ dị, muôn màu, muôn vẻ làm cho trẻ con và cả người lớn rất thích. Ven suối, những hàng cọn cũng cần mẫn như dân bản tưới nước cho những thửa ruộng xanh tốt hai bên bờ. Sau những giờ lao động mệt nhọc, dân bản lại được dầm mình xuống suối, trẻ con lặn ngụp, nô đùa thỏa thích thì còn gì sướng bằng. Dọc bờ suối, cây rừng chen nhau mọc, tre trúc uốn cong, lau lách rậm rạp. Chim rừng ríu ran mỗi sáng, hươu nai thỉnh thoảng ngó xuống mặt nước rồi lại lẩn mình vào rừng.
Dưới tán cây đa cổ thụ bên bờ suối, từ lâu lắm rồi có ngôi đền cổ nhỏ xinh. Đền Thượng Ngàn không biết có tự bao giờ, mái ngói âm dương phủ đầy rêu xanh. Ngày rằm, mồng một dân bản thành kính dâng hương, hoa quả, mùa nào thứ ấy lên đền, cầu mong cho bản làng yên vui, con cháu khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt. Những dịp lễ hội, bản Bao vui lắm, trai xinh, gái đẹp khắp nơi đổ về chơi vui mấy ngày mới dứt.
Người trông coi đền là cụ Ma Đình Lương. Cụ Lương đã ngoài bảy mươi tuổi, dáng gầy, chắc như lõi gỗ lim, mắt sáng như có lửa. Cụ là người Tày, sống đơn độc, không vợ con. Ngày ngày, cụ thắp hương, quét lá, kê lại từng viên gạch bong, lau chùi, gìn giữ từng pho tượng cổ. Gia tài quý nhất của cụ chẳng có gì ngoài mấy pho sách cổ, chữ Nôm, giấy vàng đậm đã ngả màu, cụ giữ cẩn thận trong cái hộp nhỏ, thỉnh thoảng thấy cụ đem ra đọc kỹ lắm rồi lại cất vào hộp. Hình ảnh cụ già đầu đội mũ nồi, mặc áo chàm đã bạc màu, cặm cụi bên ngôi đền cổ đọc sách, đã in sâu vào lòng người dân bản Bao. Dân bản ai cũng quý cụ. Không chỉ vì cụ gìn giữ đền, mà còn vì cụ biết hái thuốc, trị được nhiều bệnh lạ, cứu được nhiều người khi mà y tế xã cũng đã chịu. Thằng Tương con cô Nga trong bản, tắm ở suối ngã, đập chân vào tảng đá, chân đau sưng tướng lên, cụ cõng nó vào đền, rửa sạch vết thương, lấy lá thuốc băng bó lại rồi cụ cõng nó về tận nhà, còn dặn bố mẹ nó: “Trẻ con ham chơi, nó nghịch không may ngã thôi, không được đánh mắng nó”. Thằng Tương từ đó gắn bó với cụ như hình với bóng, cứ đi học về là nó lại ra đền chơi với cụ. Nhiều hôm nó còn giúp cụ xếp củi, quét sân đền và đường đi xung quanh. Cái Tuyết, con anh Lâm (anh Lâm đi làm thợ nề xa), đi lấy củi bị rắn độc cắn, vừa khóc vừa chạy về đền mách với cụ. Cụ cẩn thận rửa sạch vết thương, nặn hết máu độc rồi rịt thuốc. Cụ động viên Tuyết, chắc chắn cháu sẽ khỏi thôi, không sợ đâu, đến khi khỏi hẳn rồi hãy nói với bố. Mãi sau nó mới dám nói với bố, anh Lâm biết chuyện cảm động lắm mang hoa quả và tiền đến tạ ơn cụ. Cụ dứt khoát không nhận tiền, chỉ mang hoa quả vào đền thắp hương, còn bảo: “Giúp được các cháu cái gì mình biết thì lòng mình đã thanh thản rồi”. Trong bản, một dạo rộ lên chuyện nhiều thanh niên vùng khác đến suối bản Bao kích cá, có đợt chúng còn kích cả ở đoạn suối ngay gần đền. Can mãi không được, cụ ngầm bảo mấy đứa thanh niên vạm vỡ, to con nhất bản, rình bắt bằng được, lôi chúng về sân trước đền, không được đánh. Cụ nhẹ nhàng khuyên bảo rồi vào đền thắp hương, khấn rằng bọn này đã nhận lỗi từ nay hứa sẽ không đến kích cá suối bản Bao nữa, nếu còn kích cá, thần đền sẽ phạt. Từ đấy nạn kích cá suối bản Bao chấm dứt hẳn. Trong một lần đi rừng lấy thuốc, thấy con khỉ nhỏ mắc bẫy gãy dập một chân, cụ ôm về, cho nó ăn, chữa thuốc cho nó mấy tháng trời. Từ đó con khỉ quấn quýt với cụ, không nỡ rời. Ngày thả nó về rừng, cụ cùng lũ trẻ trong bản mang nó thả tận cửa rừng, nó cứ quấn quýt mãi không nỡ rời đi. Lần cuối nó nhảy vào lòng, ôm lấy cụ, mắt như rơm rớm nước, nó chạy vào rừng sâu sau mấy lần ngoái lại nhìn cụ và lũ trẻ. Sau này thỉnh thoảng vẫn thấy lũ khỉ về quanh đền, chúng chí chóe một lúc như thăm hỏi cụ rồi lại kéo nhau về rừng... Nhà nào có công việc tâm linh nhờ đến cụ, cụ đều tận tình giúp đỡ. Người ta bảo cụ có “duyên với rừng”, vì cây cỏ trên rừng, qua tay cụ trở thành những vị thuốc quý giá. Cụ chữa bệnh giúp dân bản chứ không lấy tiền nên dân càng quý cụ, coi cụ như ân nhân sống của bản làng. Có nhiều chuyện khó khăn trong bản, thậm chí trong xã, trưởng bản và cả cán bộ xã đều hỏi ý kiến cụ, về giải quyết là dân bản lại thông, công việc lại suôn sẻ.
Tiền công đức chẳng nhiều, nhưng từng tờ bạc lẻ, cụ đều gói cẩn thận trong túi vải thổ cẩm, cất kỹ sau bàn thờ Thổ công. Mỗi mùa khô, cụ lại hô trai bản sửa mái, thay bậc đá trơn. Cụ bảo: “Đền không giữ thì thần linh giận, bản sẽ khổ. Phá hết rừng thì suối cũng giận mà cạn mất thôi”. Dân bản yêu quý rừng, yêu quý dòng suối quê hương, nhất là khu vực xung quanh đền Thượng Ngàn. Họ giữ từng hòn đá, nhành cây không bao giờ mang về nhà làm của riêng. Dân bản bảo nhau: Đá là của thần suối, cây là của thần rừng. Mất đá, mất cây là mất rừng, mất suối.
Tiếng lành đồn rất xa. Khách du lịch đến thưởng ngoạn đền, thác và suối ngẩn ngơ trước những cây cổ thụ hai, ba người ôm không xuể, những hòn đá đẹp kỳ dị lắm, nhưng nghe tiếng đền thiêng, không một ai dám lấy mang đi. Một ông khách du lịch, là công an nghỉ hưu, rất đam mê sưu tập đá. Ông có hẳn một bộ sưu tập đá, đánh số, ghi rõ ngày tháng và địa chỉ nơi sưu tập. Hôm lên du lịch thác bản Bao, thấy hòn đá ở lòng suối cạnh đền đẹp quá, ông kì cục lấy bằng được mang về mặc dù mọi người cùng đoàn ra sức can ngăn. Một thời gian sau, không hiểu sao, chân ông bị sưng to tướng chữa mãi không khỏi, đêm nằm mơ chỉ thấy hòn đá đè nặng vào chân, nhức buốt tận xương tủy. Suy nghĩ mãi, ông chợt tỉnh ngộ ra, mang hòn đá ấy trả về chỗ cũ, lại vào đền thắp hương nhờ cụ Lương tạ lỗi. Chân ông đỡ dần rồi khỏi hẳn. Dân bản nghe tin càng phục cụ Lương hơn.
Đời sống kinh tế, xã hội phát triển, người dân có của ăn của để và nhu cầu du lịch ngày càng lớn. Chính quyền tạo điều kiện cho du lịch phát triển, đã có homestay mọc lên trong bản. Người dân trong bản bán được sản phẩm nông nghiệp, cũng có thêm đồng ra đồng vào. Bản Bao ngày càng đẹp và vui hơn...
Người phụ trách mảng văn hóa, giáo dục, y tế xã là cô Ma Thị Tới, Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, cũng người bản Bao. Cô Tới người Tày, khỏe mạnh, ưa nhìn, nhanh nhẹn, trưởng thành từ phong trào đoàn xã, rồi làm Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, khóa này cô trúng cử Phó Chủ tịch xã. Cô Tới hăng lắm, cứ có chỉ thị của trên là cô quyết tâm làm bằng được, thậm chí đôi khi to tiếng cả với dân bản, mặc cho ai điều ra tiếng vào, không có kiến nghị gì hết. Đặc biệt, cô không tin vào những chuyện mê tín dị đoan. Trong một lần làm vệ sinh làng bản, cô dám vác gậy đập chết một con rắn to, tóm lấy đầu giơ cao trước mặt mọi người khiến ai cũng khiếp. Trong lễ hội của bản, cô luôn năng nổ đi đầu. Có một lần trong lễ hội của bản (năm ấy được mùa lớn, bản làm lễ hội to lắm), cô ném thủng mâm còn. Lúc liên hoan, trước mặt mọi người, cô uống một hơi hết cả một bát rượu to làm dân bản và du khách phục lăn... Bản Bao ngày càng đẹp hơn, thác bản Bao trở thành điểm du lịch nổi tiếng, đặc biệt hấp dẫn những người miền xuôi thích trải nghiệm rừng già, thác bạc.
Tiếng lành đồn xa... Một mùa xuân năm ấy, khi hàng cây gạo bên bờ suối nở hoa đỏ rực trời và suối bắt đầu đầy lên sau những trận mưa rừng. Nước suối dâng trào, làm thác bản Bao năm ấy đẹp lắm, đền Thượng Ngàn ngày càng đông khách thăm viếng. Có một đoàn khách du lịch từ Hà Nội lên bản, người mặc váy áo đẹp rực rỡ, người đeo máy ảnh say sưa chụp ảnh thác, ảnh suối. Du khách hòa mình cùng dân bản trong những trò chơi dân gian, trong tiếng hò reo vui khi ném còn cùng các thiếu nữ Tày, Nùng, Dao trong bản. Các bà, các cô thi nhau chụp ảnh cùng du khách trong tiếng đàn Tính réo rắt, tiếng hát Páo dung vời vợi của núi rừng... Hội xuân năm ấy thật là vui, dự khai mạc lễ hội xong, cả đoàn khách du lịch vào dâng lễ lên đền. Trong đoàn khách ấy, có một người đàn ông đứng tuổi, ăn nói đĩnh đạc, xin được giấu tên, thắp hương kính cẩn, rồi cung tiến số tiền khá lớn: Năm mươi triệu. Một số tiền lớn với dân bản lúc bấy giờ. Tin ấy lan nhanh như một cơn gió. Dân bản bàn tán xôn xao. Cụ Lương không nói gì, chỉ nhờ hai đứa nhỏ ghi chép rõ ràng rồi đem tiền cất cẩn thận. Cụ nói rõ sẽ dùng số tiền này cùng dân bản tu sửa lại đền. Mấy ngày sau, Phó Chủ tịch xã Ma Thị Tới đến đền với tờ công văn và một nhóm cán bộ. Cô Tới bảo: “Tiền công đức là tài sản tập thể. Cụ phải giao nộp để xã quản lý, có kế hoạch sửa chữa đền và đầu tư phát triển du lịch”.
Cụ Lương bình thản, tay vẫn cầm chổi hàng ngày dùng để quét sân đền:
- Cái đền này có từ trước khi xã lập. Thần linh đã chứng giám nên không thể giao tiền cho người ngoài. Tôi không giao được. - Cụ Lương mềm mỏng nói thêm: Tiền này không ai lấy được, tôi sẽ cùng bà con dân bản dùng để tu sửa cho đền. Mái ngói dột rồi, gạch sân bong vỡ nhiều, lát lại còn lo không đủ tiền, tôi phải làm ngay để khách còn đến viếng chứ.
Cô Tới nổi nóng: Việc ấy có xã lo, cụ không giao số tiền ấy tôi sẽ cho dân quân xuống làm việc, tịch thu đưa về xã.
Cụ Lương ân cần: Tiền công đức vào đền là của đền, của thần thánh rồi, cô không mang đi được đâu, thánh phạt đấy.
Cô Tới một mực không nghe. Mấy ngày sau, cô đưa dân quân xuống, tự ý mở hòm công đức, thu số tiền trong hòm mang về xã. Dân bản bàn tán ghê lắm, người bảo xã làm thế là đúng, người bảo tiền của đền phải trả cho đền, để cụ Lương giữ, sửa đền, cụ ấy sống có một mình, xưa nay có điều tiếng gì đâu, ai nỡ làm như thế... Không khí trong bản khá căng thẳng. Chuyện đến tai trưởng bản, rồi cả huyện. Họ cử người xuống hòa giải nhưng cụ Lương vẫn một mực: “Tiền người tâm thành dâng lên đền, là dâng lên thánh thần, là tiền tặng cho dân bản Bao, giao cho người vô tâm, khác gì bỏ xuống suối, khác gì bỏ xuống sông, tôi biết nói thế nào với dân bản, đền hỏng nhiều rồi, lấy tiền đâu ra mà sửa, tôi biết nói thế nào với thần linh đây?”. Chuyện cứ âm ỷ mãi như ngày nồm ẩm, bí bách, nóng nực mà chẳng có mưa rào...
Ngày mồng một, tháng ấy theo lệ thường, cụ Lương ăn mặc chỉnh tề, vào đền thắp hương. Cụ khấn lâu hơn mọi lần, khấn xong thấy cụ rơm rớm nước mắt, cái lưng như còng hẳn xuống. Mọi chuyện tưởng rồi sẽ trôi qua bình yên như suối bản Bao mùa cạn. Mọi người cũng đã quên chuyện ấy, người trong bản còn bận bao công việc hàng ngày mà...
Sau một thời gian khá lâu, trong bản vẫn yên lành bỗng chốc xảy ra một chuyện lạ lùng. Hôm ấy, người ta không thấy cô Tới đi làm, về nhà cũng không thấy đâu cả. Cả bản xôn xao: Cô Tới đi đâu? Đồng nghiệp, người nhà đổ xô đi tìm. Mọi người lội ngược suối, lùng sục tìm hết trong rừng. Đến tận ngày thứ ba thì có người thấy cô ngồi bần thần trên mỏm đá bìa rừng, mặt mũi hoảng loạn, không nói được lời nào. Mọi người khó nhọc lắm mới đưa được cô về đến nhà. Lúc nào cô cũng lẩm bẩm mấy câu khó hiểu: “Có người kéo tay... Có lửa... Có tiếng nước, có tiếng khóc...”. Tin ấy như ngọn gió bay nhanh khắp bản, khắp xã. Cả xã xôn xao, có người bảo cô bị “bắt vía”, có người bảo thần đền phạt, có người thề: Thấy ánh lửa lập loè bay từ thác vào đền rồi lại bay ra vào cái đêm cô mất tích... Chuyện cứ xôn xao cả bản. Người nhà cô Tới rụng rời, mời thầy mo đến cầu cúng. Nhưng tất cả đều chẳng ăn thua gì. Mọi người cùng xúm vào nói cụ Lương hãy xin cho cô Tới. Mãi đến khi anh trai cô Tới - là cán bộ huyện cũ - đích thân đến gặp cụ Lương, quỳ trước đền nói trong nước mắt:
- Cháu biết em cháu sai rồi. Nhưng cô ấy chỉ là đàn bà, chưa nói rõ để cụ hiểu, mà cũng chỉ vì công việc chung thôi. Cụ thương tình, xin thần đền tha mạng. Mọi người nói ra, nói vào: “Chỉ có cụ Lương mới xin được thần đền thôi, cụ ơi cụ xin cho cô ấy đi!”. Cụ Lương bảo mọi người hãy ra ngoài đền, cụ sửa lại mũ áo chậm rãi bước vào đền. Cụ Lương đứng lặng trước bàn thờ. Gió thổi qua khe cửa, làm chuông gió rung lên bần bật như tiếng ai than khóc. Cụ châm ba nén nhang, chòm râu bạc rung rung, tay cụ run run:
- Tôi không xin tha cho kẻ tham, sai, kẻ cố chấp. Tôi chỉ xin tha cho người biết sám hối.
Cụ đứng rất lâu trước ban thờ, khấn những gì không ai rõ, chỉ nghe thấy tiếng suối rì rào, lá cây trong gió xào xạc. Không khí trong đền chùng xuống, trang nghiêm, thành kính nhưng thật lo lắng, nặng nề. Mọi người nín thở, phập phồng trong lo âu sợ hãi...
Ngọn nhang cháy vừa tàn... Bỗng từ nhà cô Tới nghe có tiếng kêu lớn: “Nó tỉnh rồi”. Mọi người đổ xô đến. Cô Tới tỉnh lại, khóc nức nở trong vòng tay người thân. Dân bản kéo đến đền đông nghịt, không ai bảo ai, đều cúi đầu trước cụ Lương. Nhưng cụ chỉ gật nhẹ, giọng mệt mỏi: “Thần linh chẳng trừng phạt ai không có tội. Chỉ có lòng người tự khiến mình khổ thôi”.
Chuyện qua đi, cuộc sống trong bản trở lại bình thường, hiền lành trôi như con suối Ngàn đã qua mùa lũ. Cô Tới vẫn công tác ở xã, nhưng trầm tính hơn, quan tâm hơn đến bà con trong các bản, giải quyết công việc có tình có lý hơn. Thỉnh thoảng vẫn thấy cô thăm viếng đền và hỏi thăm sức khỏe cụ Lương, nhất là những ngày tháng mưa bão hay mùa đông giá lạnh... Cảm động là cô Tới đã nhận cụ Lương là bố và tận tình chăm sóc cụ những lúc đau yếu. Cụ Lương cũng dạy cô nhiều điều về những vị thuốc bí truyền..
Mấy năm sau, cụ Lương đổ bệnh. Cô Tới và dân bản thay nhau nấu cháo, sắc thuốc, nhưng cụ cứ yếu dần. Trước lúc nhắm mắt, cụ bảo: “Tôi giữ đền này đã mấy chục năm. Giờ già rồi, có lẽ thần linh cũng muốn đổi người. Nhưng nhớ, giữ được rừng thì suối còn chảy, suối còn chảy thì đền còn thiêng. Đừng để mất rừng, cạn suối vì lòng người khô cằn”.
Cụ mất trong một chiều tháng ba, khi rừng vẫn còn lâm thâm mưa phùn. Bản để tang cụ ba ngày. Đền Thượng Ngàn đóng cửa. Bọn trẻ con vẫn đến sân đền vui chơi như trước. Dân bản Bao bảo nhau: “Cụ Lương mất rồi, chưa ai dám nhận trông đền. Nhưng suối nguồn bản Bao vẫn chảy, chắc có ngày người tâm lành sẽ lại đến”.
Cuộc sống lặng lẽ trôi qua như con suối bản Bao vẫn không ngừng chảy. Thác ba tầng vẫn cuộn trắng xóa giữa đại ngàn. Người bản vẫn đi rừng, vẫn thả cá phóng sinh ra suối, vẫn cúng rằm, mồng một. Nhưng đền thì vắng, cửa đóng, then cài, khói hương nguội lạnh...
Một thời gian lâu sau, cô Tới đến tuổi nghỉ hưu, đã thôi làm Phó Chủ tịch xã, quay về bản mở tiệm thuốc nhỏ, cô còn lấy lá, cây rừng làm thuốc cứu giúp dân bản, nhà cô có truyền thống làm thuốc và cô cũng học được nhiều kinh nghiệm từ cụ Lương. Nhiều người ở xa nghe tiếng cũng tìm đến mua thuốc, nghe nói rất nhiều người khỏi bệnh, cuộc sống dân bản lại êm đềm trở lại...
Suối nguồn bản Bao vẫn chảy, cô Tới càng già càng siêng năng, chăm chỉ, cô vẫn tự nguyện làm vệ sinh xung quanh và trông coi đền, đều đặn hương khói cho cụ Lương. Trong một cuộc họp dân bản cuối năm, mọi người chính thức đề nghị cô trông coi đền Thượng Ngàn. Cô nhận lời, dân bản Bao vui vẻ bảo nhau: “Có người coi đền rồi, dân bản yên tâm làm ăn”. Cô Tới tận tụy lắm. Đền Thượng Ngàn ngày càng khang trang và đẹp hơn, dân bản Bao yên vui, suối nguồn bản Bao vẫn chảy rì rào như kể lại bao câu chuyện đã qua, có những chuyện vừa mới xảy ra và cả những chuyện xưa như những tảng đá bên bờ suối Thượng Ngàn.
H.T.Đ
Minh họa của Quảng Tâm







