Sự tích hạt lúa

Thứ sáu, ngày 17-07-2026, 09:14| 416 lượt xem

Truyện cổ dân tộc Tày

Chuyện kể rằng: Ngày xửa ngày xưa, khi núi Tây Côn Lĩnh còn cao chạm tới mây trời, khi những dòng suối đầu nguồn còn trong vắt như tấm gương của đất mẹ, loài người sinh sống thưa thớt trong các bản làng dưới chân dãy núi. Thuở ấy, Thượng đế trên trời cao rất thương con người. Ngài thấy con người phải đào củ rừng, hái quả dại để ăn, cuộc sống vô cùng khó khăn nên quyết định ban cho một giống cây quý nhất thế gian. Đó là cây lúa thần.
Lúa thần khác hẳn lúa ngày nay, thân cây cứng, cao lớn hơn đầu người, lá dài xanh mướt như dải lụa. Khi đến mùa, trên ngọn lúa kết thành những chùm quả tròn căng, vàng óng như nắng mùa thu. Điều kỳ diệu hơn cả là khi lúa chín, người dân chẳng cần phải gặt. Chỉ cần mở rộng cửa kho, những quả lúa thần sẽ tự lăn từ ruộng về nhà. Chúng nối đuôi nhau thành từng hàng dài như đàn kiến tha mồi về tổ. Nhờ có lúa thần, dân bản chẳng phải mất công sức, đổ mồ hôi nhiều mà kho thóc lúc nào cũng đầy ắp. Trẻ con được ăn no, người già không còn lo đói rét.
Nhưng rồi cuộc sống quá sung sướng khiến nhiều người quên mất giá trị của lao động. Họ không còn chăm lo ruộng vườn như trước. Nhiều người chỉ thích đi chơi, uống rượu, hát Then, hát Cọi suốt ngày. Có người còn sinh ra ghen ghét, tranh giành và cãi cọ lẫn nhau. Trong một bản nhỏ dưới chân núi có hai chị em gái nổi tiếng xinh đẹp. Người chị tên là Nàng Va, người em tên là Nàng Bjoóc. Hai chị em đều đã đến tuổi cập kê. Mỗi lần xuống chợ phiên hay dự hội xuân, ai cũng trầm trồ trước vẻ đẹp của họ.
Ở bản bên kia ngọn núi có một chàng trai khỏe mạnh, chăm chỉ và tài giỏi. Chàng thổi sáo rất hay, lại biết săn bắn và làm nương giỏi nhất vùng. Cả hai chị em Nàng Va và Nàng Bjoóc đều thầm yêu chàng trai ấy. Từ đó, ngày nào họ cũng soi mình bên suối, chải tóc bằng lược gỗ, đeo vòng bạc, mặc áo đẹp rồi tìm cớ đi chơi. Việc nhà chẳng ai muốn làm. Người chị bảo em quét nhà, thì người em lại bảo chị nhóm bếp. Cả hai cứ đùn đẩy cho nhau, chẳng ai chịu làm việc.
Năm ấy, mùa thu đến sớm. Khắp các thung lũng, ruộng lúa thần chín vàng rực như dát mật ong. Những quả lúa tròn căng rung rinh trong gió, chỉ chờ cửa kho mở để lăn về nhà. Trước khi đi sang bản bên thăm người thân, mẹ của hai cô gái dặn:
- Các con nhớ mở cửa kho nhé. Lúa đã chín rồi đấy!
Hai chị em đều gật đầu nhưng chẳng ai để tâm.
Ngày hôm sau, quả lúa trên ruộng bắt đầu gọi nhau:
- Chúng ta sắp được về kho rồi!
- Chủ nhà chắc sắp mở cửa thôi!
Thế nhưng chúng chờ mãi. Một ngày. Rồi hai ngày. Rồi ba ngày. Cửa kho vẫn đóng im lìm.
Phía đầu nhà, hai chị em Nàng Va và Nàng Bjoóc đang ngồi bên máng nước lần gội đầu. Người chị lên tiếng:
- Em đi mở cửa kho cho lúa vào đi!
Người em bĩu môi:
- Chị là chị cả, chị đi đi!
- Chị đang bận!
- Em cũng đang bận!
Thế là hai người cãi nhau. Tiếng cãi vã ngày càng lớn. Những quả lúa ngoài ruộng sốt ruột nằm chờ. Chúng không thể tự về khi cửa kho chưa mở. Đúng lúc ấy, người chị nhớ tới chàng trai mình yêu. Nghĩ rằng em gái cũng đang tìm cách giành lấy chàng, thì càng tức giận hơn. Trong cơn nóng nảy, Nàng Va vớ lấy cây gậy tre dựng bên hiên nhà rồi chạy thẳng ra ruộng. Những cây lúa thần đang nghiêng mình trong nắng.
Nàng chẳng nói chẳng rằng, giơ gậy lên đập mạnh.
Bốp!
Một quả lúa vỡ tung.
Bốp!
Bốp!
Hết quả này đến quả khác bị đập nát. Vỏ vàng văng ra khắp nơi. Bên trong, vô số hạt nhỏ li ti như hạt dưa bắn tung tóe xuống mặt ruộng. Có những hạt rơi xuống nơi có nước và bùn mềm. Có những hạt lại bay lên bờ đất khô cằn. Khi cơn giận nguôi đi, nhìn cánh đồng tan hoang, người chị mới sợ hãi. Nhưng mọi chuyện đã quá muộn.
Từ trên trời cao, Thượng đế đã chứng kiến tất cả. Ngài vô cùng buồn bã. Ngài nói:
- Ta ban cho loài người lúa thần để họ được no đủ. Vậy mà họ không biết quý trọng, lại lười biếng và phá hoại món quà của trời đất.
Tiếng nói của Ngài vang vọng khắp núi rừng. Mây đen kéo đến che kín bầu trời. Gió thổi ào ào qua các thung lũng. Thượng đế phán:
- Từ nay ta sẽ thu lại phép màu của giống lúa thần!
Ngay lập tức, những quả lúa to bằng quả dưa biến mất. Những hạt nhỏ nằm trên ruộng bắt đầu nảy mầm thành giống lúa mới. Hạt của chúng chỉ còn bé bằng hạt dưa. Những hạt rơi xuống đất khô cũng mọc lên thành một loài cỏ giống như cây lúa. Người Tày sau này gọi đó là cây lồng vực.
Từ đó, lúa không còn tự lăn về kho nữa. Muốn có cơm ăn, con người phải cày ruộng, gieo mạ, cấy lúa, nhổ cỏ và chăm sóc từng ngày. Khi lúa chín, phải tự tay gặt hái, gánh lúa về nhà và cất vào kho. Càng chăm chỉ bao nhiêu thì kho thóc càng đầy bấy nhiêu. Người dân dần hiểu rằng không có món quà nào quý hơn thành quả lao động của chính mình.
Mỗi khi mùa vàng kết thúc, thóc đã chất đầy kho, bà con lại tổ chức ăn Tết cơm mới. Tiếng hát Then vang lên bên bếp lửa, tiếng đàn Tính ngân nga giữa núi rừng. Mọi người cùng cảm tạ trời đất đã cho mưa thuận gió hòa và nhắc lại câu chuyện xưa về lúa thần. Từ đời này sang đời khác, người Tày vẫn kể cho con cháu nghe sự tích hạt lúa để nhắc rằng: Ai biết quý trọng công sức lao động sẽ được no đủ, còn kẻ lười biếng, không biết giữ gìn những điều tốt đẹp mà trời đất ban cho thì sớm muộn cũng đánh mất chúng.

Sưu tầm và dịch: Kim Đức Nha

Tin tức khác

Văn học nước ngoài

Guillaume Apollinaire

11-04-2024| 4.296 lượt xem

Thơ ca cần sự chỉ dẫn đúng cách

29-02-2024| 4.862 lượt xem

Đồ tể

20-11-2023| 5.119 lượt xem

Thơ

Rượu Đồng Văn

18-08-2026| 231 lượt xem

Nương quê

18-08-2026| 63 lượt xem

Trăng xui nỗi nhớ

17-07-2026| 441 lượt xem

Viết cho ngày bão lũ

17-07-2026| 305 lượt xem

Cánh thư xanh nơi đảo xa

17-07-2026| 463 lượt xem