Truyện ngắn của Bùi Văn Khánh
Mùa xuân năm ấy đến muộn. Những cơn mưa phùn kéo dài từ cuối tháng Chạp sang tận tháng Hai âm lịch. Sương mỏng giăng kín các triền núi đá. Những nương ngô vừa nhú lá đã được phủ lên một màu xanh mướt trải dài như dòng sông uốn lượn. Từ con đường bê tông mới mở vào bản, nhìn xuống thung lũng chỉ thấy những mái nhà lấp ló giữa màn sương như những chiếc thuyền nhỏ đang trôi trên biển mây.
Bản Khuổi Nặm nằm nép mình bên một con suối cạn. Người già trong bản kể rằng ngày xưa con suối ấy rộng lắm. Mùa nước lên, tiếng chảy vang suốt đêm ngày. Trẻ con có thể bơi lội, người lớn đặt vó bắt cá. Nhưng nhiều năm nay nước ít dần. Đến mùa khô chỉ còn những vũng nước nhỏ nằm lặng cô đơn giữa lòng đá.
Bên kia con suối là nghĩa địa cũ của bản. Những ngôi mộ nằm rải rác dưới những cây gạo già. Có ngôi mộ đã mất bia. Có ngôi chỉ còn là một ụ đất phủ đầy cỏ dại. Riêng ở mép rừng có một ngôi mộ đặc biệt. Trên tấm bia đá màu xám chỉ khắc hai chữ: “Người Chờ”. Không tên tuổi. Không năm sinh. Không năm mất. Không ai biết người nằm dưới đó là ai.
Đầu tháng Ba, Hoàng được cơ quan cử lên xã miền núi để sưu tầm tư liệu cho một đề án bảo tồn văn hóa địa phương. Hoàng mới ba mươi tuổi. Tốt nghiệp ngành Văn hóa học rồi làm việc ở Trung tâm nghiên cứu của tỉnh. Công việc thường xuyên đưa anh đến những vùng quê xa xôi. Anh thích lắng nghe những câu chuyện xưa cũ hơn là ngồi trong phòng lạnh làm việc trước màn hình máy tính.
Ngày đầu tiên đến bản Khuổi Nặm, anh đã chú ý tới ngôi mộ ấy. Buổi chiều, khi đi dọc bờ suối để chụp ảnh tư liệu, anh nhìn thấy một ông lão đang lom khom phát cỏ. Mái tóc bạc trắng như cước. Tấm lưng còng xuống như cánh cung. Ông cẩn thận nhổ từng bụi cỏ dại quanh mộ, rồi dùng chổi tre quét sạch những chiếc lá khô. Công việc ấy được thực hiện chậm rãi, tỉ mỉ như thể người dưới mộ là người thân ruột thịt. Hoàng đứng quan sát khá lâu. Khi ông lão ngẩng lên, anh mới bước lại gần:
- Cháu chào bác.
Ông lão gật đầu.
- Khách dưới tỉnh lên à?
- Vâng ạ!
- Lên đây làm gì?
- Cháu sưu tầm tư liệu văn hóa.
Ông lão cười nhạt.
- Văn hóa thì trên nhà văn hóa nhiều lắm. Xuống nghĩa địa làm gì?
Hoàng cũng cười.
- Vì cháu thấy ngôi mộ này lạ.
Ông lão không đáp. Ông lấy chiếc khăn cũ lau mồ hôi rồi tiếp tục nhổ cỏ. Hoàng nhìn tấm bia đá.
- Bác cho cháu hỏi, ai nằm dưới ngôi mộ này vậy?
Ông lão trầm ngâm, thở dài. Một lúc lâu ông mới nói:
- Người chết.
- Cháu biết là người chết rồi.
- Thế thì còn hỏi làm gì?
Giọng ông đều đều, không khó chịu nhưng cũng không muốn tiếp chuyện.
Hoàng ngồi xuống một phiến đá gần đó.
- Cháu nghe nói bác chăm sóc ngôi mộ này nhiều năm rồi?
Ông lão gật đầu.
- Ba mươi mấy năm.
- Là người thân của bác à?
Ông lão nhìn xa xăm về phía dãy núi.
- Không.
- Thế là ai?
- Một người đã chờ rất lâu.
Hoàng ngạc nhiên.
- Chờ ai?
Ông lão khẽ cười.
- Người chết thì còn chờ ai nữa.
Câu trả lời ấy khiến Hoàng càng tò mò. Nhưng anh biết có hỏi thêm cũng chẳng được gì. Tối hôm đó, Hoàng ở nhà trưởng bản. Trong bữa cơm, anh nhắc tới ngôi mộ “Người Chờ”. Cả mâm cơm bỗng im lặng. Một lát sau trưởng bản mới châm thêm rượu rồi nói:
- Cậu gặp ông Dần rồi à?
- Vâng.
- Ông ấy ngày nào cũng ra đó.
- Người dưới mộ là ai vậy bác?
Trưởng bản lắc đầu.
- Chẳng ai biết.
- Sao lại không biết?
- Vì không có ai dưới đó cả.
Hoàng đặt bát xuống.
- Không có ai?
- Mộ gió.
Câu trả lời làm anh bất ngờ. Một người phụ nữ ngồi bên cạnh chen vào:
- Hồi trẻ ông Dần có người yêu tên Mẩy. Nghe đâu mất trong trận lũ lớn năm ấy.
Một người già khác lại bảo:
- Có khi không phải.
Tôi nghe ông nội kể đó là mộ một người lính.
- Lính gì mà không tên tuổi?
- Ai biết được.
Câu chuyện nhanh chóng biến thành một cuộc tranh luận. Mỗi người kể một kiểu. Không ai biết sự thật. Chỉ có một điều giống nhau. Ngôi mộ ấy gắn với ông Dần. Và ông Dần chưa từng giải thích. Những ngày sau đó, Hoàng bắt đầu công việc của mình. Ban ngày anh đi ghi chép các làn điệu dân ca cổ, chụp ảnh nhà sàn, ghi lại những câu chuyện dân gian còn sót lại trong ký ức người già trong bản. Chiều muộn anh thường đi bộ ra bờ suối. Lần nào cũng thấy ông Dần. Có hôm ông ngồi hàng giờ trước ngôi mộ. Không nói gì. Chỉ nhìn về phía dòng suối. Như đang chờ đợi một ai đó.
Một buổi chiều, Hoàng mang theo ấm trà. Anh rót một chén rồi đưa cho ông lão. Ông Dần nhận lấy. Không từ chối. Hai người ngồi bên gốc gạo rất lâu. Mặt trời dần lặn sau dãy núi. Ánh hoàng hôn đỏ sẫm phủ lên thân cây gạo. Tiếng chim gọi bạn vang lên từ mé rừng. Ông Dần bất ngờ hỏi:
- Cậu chưa có gia đình à?
Hoàng cười.
- Cháu chưa bác ạ!
- Sao không lấy vợ? Bận việc quá à?
- Không phải ạ! - Hoàng ngượng ngùng.
Ông Dần lắc đầu.
- Vì chưa gặp người muốn ở cùng cả đời.
Hoàng ngẩn người. Anh không ngờ một ông lão ít nói lại có thể nhìn thấu mình như vậy. Ông Dần nhấp một ngụm trà.
- Ngày trẻ tôi cũng từng nghĩ sẽ sống với một người đến hết đời.
- Là người nằm dưới mộ kia? - Hoàng hỏi.
Ông lão không trả lời. Nhưng đôi mắt ông chợt tối lại. Từ hôm ấy, khoảng cách giữa hai người dần được thu hẹp. Hoàng thường ghé qua nhà ông Dần. Ngôi nhà nhỏ nằm tách biệt ở cuối bản. Vách gỗ đã ngả màu thời gian. Trước sân có cây mận già. Mỗi mùa xuân hoa nở trắng xóa. Ông Dần sống một mình. Không vợ con. Không ruộng nương. Nguồn sống chủ yếu dựa vào khoản trợ cấp tuổi già và ít tiền bán chè. Trong nhà rất ít đồ đạc. Ngoài chiếc giường tre, cái bàn gỗ và vài chiếc ghế cũ, gần như chẳng có gì đáng giá. Thứ nổi bật nhất là một chiếc hòm gỗ đặt ở góc nhà. Chiếc hòm đã cũ nhưng luôn được khóa cẩn thận. Có lần Hoàng hỏi:
- Trong đó có gì mà bác giữ kỹ thế?
Ông Dần nhìn chiếc hòm rất lâu.
- Ký ức.
- Ký ức mà cũng khóa được à bác?
- Có những ký ức nếu mở ra sẽ đau hơn cả vết thương.
Nói rồi ông im lặng. Một buổi sáng cuối thu. Trời đổ mưa lớn. Hoàng đang ngồi ghi chép trong nhà trưởng bản thì nghe tiếng người gọi nhau ngoài sân. Ông Dần ngất bên ngôi mộ. Mọi người đưa ông về nhà. Bác sĩ Trạm Y tế bảo chỉ là kiệt sức. Nhưng ông phải nằm một chỗ nhiều ngày. Hoàng thường sang thăm. Một chiều, khi cơn mưa vừa dứt, ông Dần gọi anh lại gần.
- Cậu có tin vào chuyện chờ đợi không?
- Chờ đợi điều gì ạ?
- Một người.
Hoàng suy nghĩ rồi đáp:
- Có lẽ có.
Ông Dần nhìn ra ngoài cửa. Mưa còn đọng trên những tán lá.
- Tôi đã chờ gần cả đời.
- Chờ người ấy trở về?
Ông lão khẽ gật đầu.
- Có lúc tôi nghĩ mình điên.
- Vì sao?
- Vì người ta bảo người ấy chết rồi.
Hoàng im lặng.
- Nhưng tôi không tin.
Giọng ông Dần rất nhỏ.
- Suốt bao nhiêu năm tôi vẫn nghĩ một ngày nào đó người ấy sẽ bước qua cây cầu kia, đi dọc con suối này rồi trở về bản.
Ông dừng lại.
Khóe môi khẽ run.
- Chỉ tiếc là tôi chờ đến già quá rồi.
Ngoài hiên, gió thổi qua những cành mận đang nở hoa trắng. Trong khoảnh khắc ấy, Hoàng hiểu rằng phía sau ngôi mộ “Người Chờ” không chỉ là một câu chuyện tình dang dở. Mà là một bí mật đã bị chôn vùi suốt mấy chục năm. Và ông Dần chính là người cuối cùng còn giữ bí mật ấy. Hoàng không biết rằng chỉ ít ngày sau, chiếc hòm gỗ trong góc nhà sẽ được mở ra. Cùng với nó là câu chuyện bắt đầu từ một trận lũ dữ cách đây gần nửa thế kỷ. Một câu chuyện về tình yêu, sự chia ly và những lá thư chưa bao giờ tới đích. Ba ngày sau trận ốm, ông Dần đã ngồi dậy được. Buổi chiều, khi nắng nhạt trải xuống mặt suối, ông gọi Hoàng sang nhà. Chiếc hòm gỗ vẫn nằm ở góc phòng. Lần này, ông lấy từ trong túi áo ra một chiếc chìa khóa nhỏ đã mòn bóng. Ông ngồi rất lâu trước khi tra chìa vào ổ khóa. Tiếng kim loại khẽ bật lên. Như một cánh cửa đã đóng suốt nửa thế kỷ cuối cùng cũng chịu mở. Bên trong không có vàng bạc hay giấy tờ quan trọng. Chỉ có một bó thư buộc bằng sợi dây vải màu nâu đã bạc màu. Ngoài ra còn một chiếc khăn tay cũ, một chiếc lược gỗ và tấm ảnh đen trắng đã ngả vàng theo năm tháng. Trong ảnh là một cô gái trẻ. Mái tóc dài. Khuôn mặt sáng. Đôi mắt cười như có nắng. Ông Dần cầm tấm ảnh bằng hai tay. Nhẹ như sợ làm đau một điều gì đó.
- Đây là Mẩy.
Hoàng im lặng. Ông hiểu rằng câu chuyện thật sự bắt đầu từ đây. Năm ấy ông Dần hai mươi ba tuổi. Mẩy kém ông hai tuổi. Hai người lớn lên cùng bản. Ngày nhỏ cùng chăn trâu trên những sườn đồi. Lớn lên cùng đi chợ phiên. Tình cảm đến tự nhiên như cỏ mọc bên suối. Không ai nhớ chính xác họ yêu nhau từ khi nào. Chỉ biết khi mọi người nhận ra thì hai người đã gắn bó như hơi thở. Ông Dần kể:
- Mẩy hát rất hay.
Ngày ấy bản còn nhiều đêm hát giao duyên. Mỗi lần Mẩy cất tiếng, cả bãi cỏ im phăng phắc. Giọng ông chậm lại.
- Tôi chưa từng gặp ai hát hay hơn.
Hoàng nhìn khuôn mặt già nua trước mặt. Trong đôi mắt đục màu thời gian bỗng ánh lên thứ ánh sáng của một chàng trai trẻ từ rất xa xưa. Đám cưới dự định diễn ra vào cuối mùa hạ. Hai gia đình đã bàn bạc xong. Nhà trai chuẩn bị lợn. Nhà gái chuẩn bị rượu. Người trong bản ai cũng bảo đó sẽ là đôi vợ chồng đẹp nhất vùng. Nhưng đúng lúc ấy, trận lũ lịch sử xảy ra. Ông Dần vẫn nhớ rất rõ ngày hôm đó. Buổi sáng trời âm u. Đến trưa mây đen ùn ùn kéo về từ phía dãy núi đá. Gió nổi lên từng cơn. Rồi mưa trút xuống. Mưa như đổ cả bầu trời xuống mặt đất. Nước từ đầu nguồn dâng nhanh chưa từng thấy. Con suối vốn hiền lành bỗng hóa thành một con thú dữ. Chiều hôm ấy, Mẩy sang nhà người cô ở bên kia suối giúp việc. Không ai ngờ đó là lần cuối cùng người ta nhìn thấy cô. Khi nước lên quá nhanh, cây cầu tre bị cuốn mất. Nhiều người chạy được lên cao. Một số người mắc kẹt. Trong hỗn loạn, Mẩy biến mất. Không ai biết cô bị nước cuốn lúc nào. Không ai thấy xác. Không ai nghe tiếng kêu cứu. Chỉ đến sáng hôm sau, khi nước rút, người ta mới phát hiện cô không còn nữa.
Suốt nhiều tuần sau đó, ông Dần cùng dân bản đi tìm. Họ lội dọc lòng suối. Lật từng tảng đá. Tìm xuống tận vùng hạ lưu. Nhưng không thấy. Một tháng. Hai tháng. Ba tháng… Không một dấu vết. Cuối cùng gia đình Mẩy lập mộ gió. Ngôi mộ nằm bên mé rừng. Chính là ngôi mộ bây giờ. Người Chờ. Ông Dần kể đến đây thì dừng lại. Ông lấy một lá thư trong bó giấy cũ đưa cho Hoàng. Phong bì đã ngả màu vàng. Không có địa chỉ người gửi. Không có dấu bưu điện. Bên trong là một tờ giấy học trò. Nét chữ mềm mại. Ngay ngắn.
“Anh Dần. Nếu anh còn nhớ em, hãy tin rằng em vẫn sống. Đừng đi tìm. Em không thể về. Mẩy.”.
Hoàng đọc xong mà sống lưng lạnh đi.
- Lá thư này...
- Đến sau khi Mẩy mất hai năm.
- Ai mang đến?
- Không biết.
Sáng ngủ dậy thấy ở trước cửa. Hoàng nhìn ông Dần.
- Bác tin đó là chữ của cô ấy?
- Tin.
- Vì sao?
- Tôi nhận ra nét chữ.
Người khác không giả được. Những lá thư sau đó đến đều đặn. Không phải tháng nào cũng có. Có khi nửa năm. Có khi một năm. Có khi hai năm. Nhưng rồi lại xuất hiện. Tất cả đều không ghi địa chỉ. Không ghi nơi gửi. Không giải thích điều gì. Chỉ kể những mẩu chuyện nhỏ. Rằng cô vẫn còn sống. Rằng cô nhớ bản làng. Nhớ cây gạo bên suối. Nhớ mùa hoa mận. Nhớ những phiên chợ cuối năm. Và nhớ ông.
- Bác không đi tìm sao?
Hoàng hỏi.
Ông Dần cười buồn.
- Có chứ. Tôi đi gần mười năm.
Hoàng ngạc nhiên. Ông chưa từng nghe ai trong bản kể điều đó. Ông Dần nhìn ra khoảng sân đầy nắng.
- Hồi ấy tôi đi khắp nơi.
Lần theo từng manh mối nhỏ nhất. Có người bảo thấy một cô gái giống Mẩy ở vùng biên. Tôi đi. Có người bảo gặp ở chợ tỉnh. Tôi đi. Có người bảo cô làm công nhân tận miền xuôi. Tôi cũng đi. Nhưng lần nào cũng muộn. Hoặc chỉ là nhầm người. Một lần, ông đi gần hai trăm cây số chỉ vì nghe tin có một phụ nữ mang vết sẹo giống Mẩy. Khi tới nơi, người phụ nữ ấy đã chuyển đi từ lâu. Ông ngồi ở bến xe suốt một đêm. Lúc đó lần đầu tiên ông nghĩ có lẽ mình đang đuổi theo một cái bóng. Nhưng rồi vài tháng sau, một lá thư khác lại đến. Nét chữ quen thuộc. Cách xưng hô quen thuộc. Những chi tiết chỉ hai người mới biết. Lá thư ấy khiến ông tiếp tục chờ.
Hoàng lật xem từng lá thư. Có lá giấy đã mục ở mép. Có lá bị nhòe mực vì nước mắt hay nước mưa. Tất cả đều được gìn giữ cẩn thận. Như báu vật. Trong một phong thư, Hoàng phát hiện một bông hoa ép khô. Màu sắc gần như đã mất.
Ông Dần nói:
- Đó là hoa mận.
- Cô ấy gửi à?
- Ừ.
- Chỉ thế thôi?
- Chỉ thế thôi.
Ông cười.
- Nhưng lúc ấy tôi vui cả tháng.
Trời sẩm tối. Gió từ lòng suối thổi lên mang theo hơi lạnh. Hoàng bỗng nhận ra điều bất thường.
- Nếu Mẩy còn sống, vì sao không trở về?
Ông Dần không trả lời ngay.
Rất lâu sau mới nói:
- Đó cũng là điều tôi tự hỏi suốt mấy chục năm.
- Và bác không tìm được đáp án?
- Có lẽ có.
- Là gì?
Ông nhìn bó thư.
- Có những người rất muốn quay về. Nhưng cuộc đời không cho họ cơ hội.
Đêm ấy Hoàng mang theo nhiều suy nghĩ trở về nhà trưởng bản. Ngoài trời trăng non treo lơ lửng trên đỉnh núi. Tiếng nước nhỏ giọt đâu đó trong bóng tối. Anh không ngủ được. Câu chuyện nghe vừa giống sự thật vừa giống truyền thuyết. Nếu Mẩy còn sống. Vì sao không trở lại? Nếu đã chết. Ai gửi những lá thư ấy?
Sáng hôm sau, Hoàng trở lại nhà ông Dần. Nhưng cửa khóa. Ông không ở nhà. Người hàng xóm bảo sáng sớm ông đã ra nghĩa địa. Hoàng đi theo con đường quen thuộc. Từ xa anh nhìn thấy ông Dần ngồi trước ngôi mộ. Lưng quay về phía mặt trời. Bóng đổ dài trên nền cỏ. Ông đang nói chuyện. Như thể có ai đó ngồi đối diện. Hoàng không nghe rõ. Chỉ thấy môi ông khẽ động. Rồi ông cười. Nụ cười hiền lành và bình yên đến lạ. Đúng lúc ấy, một cơn gió mạnh thổi qua. Từ trong đám cỏ dưới chân bia mộ, một mảnh giấy cũ bị tốc lên. Bay là là trên mặt đất. Hoàng chạy tới nhặt. Đó là một nửa lá thư đã mục. Dòng chữ cuối cùng vẫn còn đọc được: “...tháng sau em sẽ về. Nhất định em sẽ về.”.
Hoàng ngẩng đầu. Ông Dần đang nhìn ngôi mộ. Đôi mắt ông đỏ hoe. Lần đầu tiên, Hoàng có cảm giác rằng người đàn ông già nua ấy không chỉ chờ đợi một người. Ông đang sống nhờ lời hứa từ một lá thư chưa bao giờ được thực hiện. Và ở đâu đó phía sau những dòng chữ kia vẫn còn một bí mật chưa được kể hết. Một bí mật sẽ thay đổi hoàn toàn câu chuyện mà cả bản Khuổi Nặm vẫn tin suốt gần năm mươi năm qua.
Sau hôm nhặt được mảnh thư cũ bên ngôi mộ, Hoàng không hỏi thêm gì nữa. Anh hiểu có những câu chuyện không thể kéo ra bằng sự tò mò. Chúng chỉ có thể tự mở lòng khi người kể đã sẵn sàng. Những ngày thu, ông Dần yếu đi thấy rõ. Ông vẫn ra nghĩa địa. Vẫn quét lá. Vẫn ngồi hàng giờ bên ngôi mộ “Người Chờ”. Nhưng bước chân đã chậm hơn. Lưng còng hơn. Mỗi lần đứng dậy đều phải chống tay vào đầu gối. Một chiều, khi hoa gạo bắt đầu rụng đỏ cả mép suối, ông gọi Hoàng đến. Chiếc hòm gỗ đã được mở sẵn. Bó thư nằm trên bàn. Bên cạnh là một phong bì màu nâu chưa từng mở.
- Hôm nay tôi kể nốt cho cậu nghe.
Giọng ông rất khẽ. Như thể chỉ cần lớn hơn một chút là câu chuyện sẽ tan vào gió. Mười hai năm sau ngày Mẩy mất tích. Ông Dần gặp lại cô. Không phải trong mơ. Không phải qua thư. Mà bằng xương bằng thịt. Đó là một phiên chợ huyện cuối năm. Hôm ấy trời rất lạnh. Người đi chợ đông nghịt. Ông đang đứng mua dao thì nghe có ai gọi tên mình. Một giọng nói rất quen. Quen đến mức trái tim ông ngừng đập trong một khoảnh khắc. Ông quay lại. Mẩy đứng đó. Vẫn đôi mắt ấy. Vẫn nụ cười ấy. Chỉ khác là trên khóe mắt đã có những nếp nhăn nhỏ. Hai người đứng nhìn nhau rất lâu. Không ai nói được lời nào. Như thể thời gian hơn mười năm bỗng hóa thành một hòn đá mắc ngang cổ họng. Sau đó họ ngồi ở quán nước đầu chợ. Mẩy kể. Ngày lũ cuốn đi, cô bị mắc vào một đám cây đổ dưới hạ lưu.
Một gia đình ở vùng khác cứu sống. Lúc tỉnh lại, cô bị thương nặng. Mất trí nhớ một thời gian dài. Đến khi nhớ được mọi chuyện thì cuộc sống đã đổi khác. Gia đình cứu cô quá nghèo. Người đàn ông trong nhà lại bệnh tật. Cô ở lại chăm sóc họ như trả ơn. Rồi biến cố nối tiếp biến cố. Năm tháng trôi qua. Đến khi có thể quay về thì cha mẹ cô đã mất. Nhiều người thân ly tán. Cô trở thành người xa lạ ngay trong câu chuyện của chính mình.
- Vì sao không về bản?
Hoàng hỏi.
Ông Dần cười buồn.
- Tôi cũng từng hỏi như thế.
- Và cô ấy trả lời sao?
- Cô ấy nói sợ.
- Sợ gì?
- Sợ gặp lại những điều không còn nguyên vẹn.
Ông im lặng một lúc.
- Có những người chịu được nỗi đau xa cách. Nhưng không chịu được cảm giác mọi thứ đã thay đổi.
Hoàng nhìn những lá thư trên bàn. Bỗng nhiên anh hiểu. Những bức thư ấy không phải để giữ ông Dần lại. Mà để giữ cho Mẩy một con đường quay về trong tâm tưởng.
Hôm ấy ở chợ, hai người ngồi với nhau gần hai giờ. Nói chuyện tuổi trẻ. Nói chuyện bản làng. Nói chuyện những người đã mất. Nhưng tuyệt nhiên không nói về tương lai. Khi chia tay, Mẩy chỉ nói:
- Em có gia đình rồi.
Ông Dần gật đầu.
- Anh biết.
- Anh có giận em không?
- Không.
- Có trách em không?
- Cũng không.
Mẩy cúi đầu rất lâu. Rồi khóc. Đó là lần đầu tiên ông nhìn thấy người con gái mạnh mẽ ấy khóc.
- Sau đó thì sao?
Hoàng hỏi.
- Sau đó tôi quay về bản.
- Còn cô ấy?
- Đi về hướng khác.
Ông Dần nhìn ra ngoài cửa.
- Chúng tôi không hẹn gặp lại.
- Vì sao?
- Vì cả hai đều hiểu có những cuộc gặp chỉ nên xảy ra một lần.
Ngoài sân, gió thổi qua những cành mận. Những cánh hoa trắng rơi xuống mặt đất. Lặng lẽ. Như năm tháng. Từ sau lần gặp ấy, thư vẫn đến. Nhưng ít hơn. Rồi thưa dần. Lá thư cuối cùng ông nhận được cách đây mười lăm năm. Trong thư chỉ có một câu:
“Em vẫn bình an.”.
Không địa chỉ. Không lời giải thích. Không lời hứa hẹn.
- Bác có biết cô ấy còn sống không?
Ông Dần lắc đầu.
- Không.
- Không tìm nữa sao?
- Già rồi.
Ông cười.
- Với lại có những điều biết hay không biết cũng không còn quan trọng.
Hoàng nhìn phong bì màu nâu trên bàn.
- Còn lá thư này?
Ông Dần khẽ vuốt mặt giấy.
- Của Mẩy.
- Bác chưa mở?
- Chưa.
- Vì sao?
- Tôi sợ.
Hoàng ngạc nhiên. Một người đàn ông đã chờ gần nửa thế kỷ lại sợ mở một lá thư.
Ông Dần nói:
- Khi chưa mở, tôi còn có thể nghĩ người ấy vẫn ở đâu đó. Nếu mở ra, có khi mọi thứ sẽ kết thúc.
Đêm ấy Hoàng về rất muộn. Sáng hôm sau, người trong bản chạy đi báo tin. Ông Dần mất rồi. Ông ra đi trong giấc ngủ. Nhẹ nhàng, thanh thản như một người vừa hoàn thành xong công việc cuối cùng. Đám tang diễn ra đơn giản. Người trong bản đến rất đông. Ai cũng thương ông. Không phải vì ông giàu có. Cũng không phải vì chức tước. Mà vì cả cuộc đời ông sống tử tế. Lặng lẽ như dòng suối cạn bên nghĩa địa.
Sau lễ an táng, trưởng bản trao cho Hoàng chiếc chìa khóa chiếc hòm gỗ.
- Ông ấy dặn nếu có chuyện gì thì đưa cho cậu.
Hoàng ngồi trong căn nhà vắng. Ngoài cửa sổ, nắng chiều đang xuống. Anh nhìn phong bì màu nâu rất lâu. Cuối cùng mở ra. Bên trong chỉ có một lá thư. Nét chữ đã run hơn trước. Có lẽ được viết vào những năm cuối đời.
“Anh Dần. Nếu anh đọc được lá thư này, nghĩa là em không còn đủ sức để viết thêm nữa. Có một điều em chưa từng nói. Ngày gặp lại anh ở chợ huyện, em đã muốn theo anh về bản. Em đứng nhìn theo anh rất lâu. Nhưng rồi em không đi. Không phải vì em không còn thương anh. Mà vì em hiểu rằng người chúng ta nhớ thương nhất đôi khi không thuộc về hiện tại nữa. Em muốn giữ anh nguyên vẹn trong ký ức. Giống như giữ dòng suối ngày xưa luôn đầy nước. Giữ cây cầu tre chưa từng bị lũ cuốn. Giữ tuổi trẻ chưa từng chia xa. Em vẫn luôn quay về. Nhiều lần. Nhưng chỉ đứng ở đầu bản nhìn từ xa. Em thấy khói bếp. Thấy cây gạo. Thấy ngôi mộ gió. Rồi lại quay đi. Có lẽ em hèn nhát. Nhưng đó là cách duy nhất để giữ lại những điều đẹp nhất. Nếu một ngày nào đó anh không còn chờ nữa, hãy coi như em đã về. Mẩy.”.
Hoàng đọc xong mà không biết mình đã ngồi lặng bao lâu. Ngoài hiên, mưa xuân bắt đầu rơi. Những hạt mưa nhỏ và thưa, chạm lên mái gỗ nghe như tiếng ai đó khẽ trở mình trong ký ức. Chiều hôm sau, anh mang lá thư ra nghĩa địa. Ngôi mộ “Người Chờ” nằm dưới gốc gạo già. Bên cạnh là nấm đất mới của ông Dần. Cỏ trên mộ còn chưa kịp bén rễ. Hoàng đặt lá thư trước tấm bia đá. Gió từ phía rừng thổi xuống. Mấy cánh hoa gạo đỏ chao nghiêng rồi rơi lặng lẽ trên mặt đất. Anh đứng rất lâu.
Con suối dưới chân đồi sau cơn mưa đã có nước. Dòng nước nhỏ len qua những khe đá, lách qua đám rêu xanh rồi chảy đi, phát ra thứ âm thanh trong trẻo mà nhiều năm nay người trong bản hiếm khi còn được nghe thấy. Nắng cuối ngày bất ngờ ló ra sau tầng mây mỏng. Một vệt sáng nghiêng nghiêng rơi xuống ngôi mộ. Ngay lúc ấy, Hoàng chợt nhìn thấy một mầm cỏ non vừa nhú lên bên mép bia đá. Rất nhỏ. Nhưng xanh. Anh cúi đầu khẽ chào hai ngôi mộ rồi quay bước. Con đường về bản ngoằn ngoèo giữa những đồi chè đang lên lộc mới. Phía sau lưng anh, tiếng nước vẫn chảy. Đều đặn. Êm đềm. Như thể có ai đó vừa trở về.
B.V.K








