Truyện ngắn của Hồng Giang
Cả đêm ấy lão Vọng trằn trọc không sao ngủ được. Lão nằm trên chiếc chiếu cũ trải gọn một góc căn chòi bé nhỏ nổi trên mặt nước.
Chỗ này là đầm Mắt Rồng, hợp tác xã nuôi cá. Đầm rộng ba mươi bốn mẫu, nước khá sâu chưa bao giờ cạn. Cuối năm Hợp tác xã phải thuê thuyền chài nơi khác mang thuyền, lưới đến thu hoạch, đánh bắt cá. Còn tôm, cua, ốc, ếch người trong làng mò bắt tự do. Không tuyên bố công khai việc này nhưng cũng không đưa vào bảng nội quy cấm đoán.
Tổ của lão có ba người gọi là “đội bảo nông”. Ban ngày họ chia nhau rong ruổi khắp cánh đồng trông nom hoa màu, tối lại luân phiên nhau ngủ chòi phòng bọn đánh bắt, câu trộm cá. Lão chỉ về nhà ngày hai lượt trưa và tối ăn cơm, quán xuyến vợ con công việc gia đình. Xong lại ra đây.
Thực ra số công điểm quy ra thóc đến vụ Hợp tác xã trả không đáng bao nhiêu. Nếu không có cái việc làm kiếm thêm thu nhập, lão đã xin nghỉ rồi. Ai chả vậy, nói ra nghe không lọt tai, nhưng rất thật: “Người không vì mình thì trời tru đất diệt”. Nhưng tiếc thay, nó lại là sự thật với phần đông, lão cũng không ngoại lệ. Cái việc làm thêm ấy chính là thả dọ tôm. Một việc đầu tư vốn liếng chẳng đáng bao nhiêu mà thu lợi bất ngờ. Tuy không nhiều nhặn, nhưng đấy là lợi ích sống còn của thời mãi sau này người ta vẫn nhớ đó là “thời bao cấp”.
Xung quanh đầm trồng sen, một nguồn thu không nhỏ chi cho các “Khoản chi thường xuyên và chi phí khác” của ban quản trị. Lúc này cái thuyền nan nhỏ của lão đã cập bờ. Như mọi khi lão lội một vòng quanh sát bờ, kéo dọ, đổ tôm vào giỏ xếp vào lòng thuyền.
Tự nhiên lão cảm thấy có cái gì khang khác. Trực giác báo cho lão biết có sự gì đó không bình thường. Có thể nó là nguyên nhân mất ngủ đêm qua của lão chăng? Lão đưa mắt nhìn lên bờ, ai đó vất đồ đạc ngay gần đó khiến lão không tin ở mắt mình. Chiếc xe đạp của ai dựng chỗ gốc cây bàng có cái tán xòe ra nom như cái lọng lệch nghiêng về phía đầm. Xe đạp bỏ đấy mà người thì không thấy đâu. Mới bảnh mắt ra, chưa tỏ mặt người, ai ra đây vào giờ này? Lão rẽ đám lá sen khô xác leo lên bờ.
Lão nhận ra cái xe của một người quen, thậm chí còn là người nhà, không thể bỏ qua không để ý. Cạnh đấy là đôi dép dọ tàu, màu mận chín, loại dép chỉ người có điều kiện mới hay mang vì giá khá đắt lúc bấy giờ. Người sở hữu vật này chứng tỏ ưa xài hàng Trung Quốc. Cái xe Phượng Hoàng màu cánh chả tòng teng biển số hình chữ nhật gần bằng bàn tay còn mới vì đăng ký chưa lâu. Nó bằng cả gia sản của lão chứ không ít.
Người này là cán bộ tín dụng của hợp tác xã Tín dụng tên là Điền có họ hàng xa với lão. Ông ấy chả có công việc gì ở cái hồ nước này. Đi đâu mà lại vất xe ở đây? Câu trộm cá hay đánh dọ tôm như mình thì không phải rồi. Nhưng tháo giày nhảy xuống hồ là có thể. Nhưng để làm gì? Hay là? Lão chợt nghĩ và chột dạ…
***
Có nhiều lời đồn về con giải ở dưới đầm này. Nhưng thực ra chưa ai tận mắt nhìn thấy nó bao giờ. Người thì bảo nó to bằng cả cái nong phơi thóc. Người lại nói nó chỉ bằng cái nia sảy vừng. Nhưng đều nói giống nhau cùng một chi tiết là con giải ấy có tám cái vòi to bằng vế đùi, dài cả sải tay. Người ta chưa ai biết mặt mũi nó như thế nào, chỉ nghe kể lại. Rằng những đêm mưa bão, con giải đau người vật vã giữa hồ làm nước bắn tung tóe cao tới hàng mét.
Con giải này không biết nó nhập cư về từ bao giờ, nhưng tuổi của nó có khi hàng trăm năm. Đã từng xảy ra chuyện lâu lắm rồi nó lôi cả con trâu nhe lặn xuống đầm mất tăm. Mấy ngày sau chủ nhà mới tìm thấy cái đuôi con vật ấy nổi lên bên đám cỏ ven bờ.
Chẳng lẽ lão Điền này đêm qua mò xuống đầm bị con giải lôi đi? Lão Vọng giật mình vội leo lên bờ, kéo cái thuyền nhỏ của mình bơi ra chòi. Lão còn chưa hết bàng hoàng, mặc vội cái áo đại cán cũ đã xé bỏ hết bốn túi cho đỡ lạnh. Làm một hơi thuốc lào để trấn tĩnh lại. Dù gì, lúc này lão phải gấp rút về trình ban quản trị, sau đó lên ủy ban xã.
Huệ còng đang là trưởng công an xã lấy sổ sách ra ghi chép. Anh ta có tật, không được khỏe như người bình thường. Những người trai tráng, có sức khỏe đều ra mặt trận hết cả. Ở hậu phương chỉ toàn ông bà già và con trẻ, người như Huệ là sức vóc khá hơn, giữ chức trách quan trọng này ở địa phương là chuyện bình thường. Hòa bình rồi, quân nhân xuất ngũ, thương binh về làng khá đông, nhưng người ta chưa kịp thay, vẫn giữ nguyên cơ cấu cũ. Có gì cũng phải đợt bầu bán tới đây cơ cấu lại.
Ghi chép sơ qua, Huệ sang phòng xã đội nhờ phối hợp. Cả bọn gần chục người vội vã ra đầm Mắt Rồng. Câu liêm, lưới đánh cá cùng lúc được mang ra. Suốt từ lúc tám giờ sáng cho đến chặt trưa, năm sáu con người hì hụp dò tìm bằng câu liêm, bằng lưới vét mà không kết quả gì. Không có mảy may dấu tích. Mọi người vừa đói vừa mệt, nom thật bơ phờ. Lúc bấy giờ Huệ còng mới ra lệnh tạm ngưng, mọi người ai về nhà nấy ăn cơm rồi chiều tính tiếp. Huệ quay sang dặn lão Vọng và mọi người:
- Sự việc hôm nay tạm dừng ở đây chờ trên cho ý kiến. Tuyệt đối không ai được tiết lộ ra ngoài, kể cả với người trong gia đình, các đồng chí nhớ đấy!
Mới thấy tinh thần phòng gian bảo mật, “Ba không” vẫn còn di chứng đến tận lúc này, khi hòa bình đã trở lại mấy năm rồi. Điều không ai nói ra nhưng ai cũng hiểu: Sự việc xảy ra này còn liên quan đến một sự việc ghê gớm khác mà cơ quan chức năng đang điều tra, chưa có kết quả.
Cách đây hơn một tuần trong làng Vĩnh Lạc xảy ra một vụ cháy nhà. Người là nạn nhân trong vụ đuối nước này cũng chính là chủ nhân ngôi nhà bị cháy. Đó là ngôi nhà lợp ngói ba gian của ông Điền, là nạn nhân bây giờ. Một điều mà ít khi xảy ra. Thường nhà lợp rạ rơm, hay lợp gianh mới xảy ra hỏa hoạn. Nhà lợp ngói ít khi bị cháy, nếu như đầu hồi nhà cũng lợp cả bằng ngói. Đằng này nhà ông Điền này một đầu hồi lại lợp rạ. Ông ta bảo do thiếu ngói nên tạm lợp như vậy. Kỳ thực ra là có chủ ý. Chỉ người thân tín ông ấy mới tiết lộ. Ở đời cái gì quá hoàn chỉnh lại rất khó tồn tại lâu dài. Để một bên hồi nhà lợp rạ tức là nó chưa hoàn chỉnh. Theo phong thủy cho nó an toàn.
Khổ nỗi, người tính không bằng trời tính. Cái gian hồi lợp dạ ấy lại là gian hợp tác xã tín dụng nhờ làm văn phòng mà ông Điền đang làm kế toán kiêm thủ quỹ. Hỏa hoạn xảy ra lúc nửa đêm, lúc mọi người đang say giấc nồng. Tiếng tù và báo động chữa cháy, dân làng đổ xô đến cứu hỏa. Còn rất lâu năm nữa vùng này mới có điện, nên ngoài xô chậu ra chả có máy móc gì dập lửa. Khi đám cháy bị dập tắt thì giường tủ cũng cháy gần hết. Cái tủ đựng hồ sơ giấy tờ của quỹ tín dụng to quá khổ, lại kê mãi phía trong cùng. Khiêng được nó ra thì giấy tờ bên trong cháy mất quá nửa. Cặp biên lai, hóa đơn thành cục tro đen xì, chữ không đọc được nữa.
Rồi đây tài khoản, ngân lượng của tín dụng không biết giải quyết ra sao?
Lão Điền như người mất hồn, không biết thực hay giả vờ lão như người bị điên, cười cười nói nói lập bập không ai hiểu lão nói gì. Trong làng có tin đồn những ngày gần đây lão nhập nhằng với cô Loan xóm bến. Cô này có chồng hy sinh ba năm trước, hiện đang làm kế toán của quỹ tín dụng xã. Cô có cái nhà xây to nhất làng. Người làng xì xầm là cô có liên quan đến sự thất thoát của quỹ.
Khi chưa sát nhập vào Thủ Đô, trên tỉnh trên huyện về thanh tra chưa xảy ra chuyện gì. Đầu cá vá đầu tôm, người ta xoăn xiu, mọi chuyện đều cũng qua. Chỉ đến khi sát nhập vào thành phố, quỹ tín dụng của xã qua thanh tra kỹ hơn mới lòi ra thiếu một khoản lớn. Sự việc còn trong quá trình xem xét chưa có kết luận thì xảy ra hỏa hoạn. Không phải ngẫu nhiên mà Huệ trưởng công an xã vừa rồi dặn mọi người như vậy.
Cũng là một mất mười ngờ, hư hư thực thực chưa rõ ngô khoai.
Lão Điền bị con giải lôi xuống đầm hay lão ngụy tạo rồi bỏ đi đâu, không ai biết.
Nam bắc thống nhất, người ra bắc, kẻ vào nam như đi hội. Có người không rõ lý do còn vượt ra nước ngoài, chẳng biết đi đâu, làm gì. Tất cả mọi suy đoán, kiếm tìm đều đi vào ngõ cụt. Làng Vĩnh Lạc từ khi đó không ai gặp lại lão Điền nữa. Lão nằm trong số câu chuyện mơ hồ về một kiếp người không hẳn xấu, cũng chẳng hay ho tốt đẹp.
Năm tháng thản nhiên, kể cả những chuyện tày đình rồi cũng trôi vào quên lãng. Người ta phải ăn, phải làm, phải lo toan trăm thứ chuyện. Ai đâu rảnh để nhớ mãi chuyện cũ dù vui hay buồn.
***
Nhưng người ta sẽ không bao giờ quên những việc động trời những năm tháng ấy. Một góc vùng châu thổ sông Hồng biến thành bụng chứa, phân lũ chống ngập cho thủ đô, sau khi cống xả lũ ba mươi sáu cửa hoàn thành.
Lúc bấy giờ giá vàng mới chỉ hơn ba mươi đồng một chỉ, chưa đến bốn trăm đồng một cây. Vậy mà quỹ tín dụng của Vĩnh Lạc mất khoản tiền cả trăm ngàn cây vàng. Duyên do từ công trình đê sông Hồng phục vụ dự án trên mở thêm điểm giao dịch ngân hàng phục vụ công trình.
Mất số tiền ấy làm sao người có chức phận như lão Điền có thể sống bình an vô sự được ở làng?
Không nhớ có bao nhiêu hội nghị, bao cuộc điều tra về sự kiện này. Bao nghi ngờ đồn đoán sau ngày lão mất tích. Lão bị con giải khốn nạn nào đấy lôi xuống đầm, hay lão bày hiện trường giả như vậy để đối phó điều tra? Có người bảo lão vẫn quanh quẩn ở ga Hà Nội, chỉ xuất hiện về đêm. Hồi bấy giờ khẩu trang chưa có, lão thường đeo kính đen, bịt mặt bằng chiếc khăn mùi xoa bán chè chén vào buổi đêm ngoài cổng hậu của ga. Nơi ấy thường chỉ có bọn phát vãng, trộm cắp, đĩ điếm tụ họp. Đồ nghề của lão chẳng nhiều nhặn gì ngoài chiếc ấm ủ pha chè mạn, hơn chục cái chén sứ và mấy cái ghế kiểu dùng cho người đun bếp củi thế kỷ trước.
Hễ thấy bóng công an, trật tự của nhà ga là lão ù té chạy rất nhanh, chỉ xách vội ấm ủ, còn đám ghế thì bỏ lại. Mấy thứ ấy chả ai lấy làm gì. Khi những người chức việc rút, lão lại về chỗ cũ. Buôn bán kiểu này chẳng kiếm được nhiều, nhưng cũng đủ để tồn tại những ngày “Xăng pha mi” của lão!
Lại có người bảo lão theo tàu Thống Nhất vào tuốt tỉnh Sông Bé trong nam, đang làm thuê cho một ông chủ trồng cao su. Còn chuyện vượt biên ra nước ngoài không thấy ai nói vì nó ngoài khả năng của lão. Rút cuộc tin đồn vẫn chỉ là tin đồn. Chỉ có việc mất tích của lão là thật.
Con đê ngăn lũ của vùng bụng chứa rồi cũng hoàn thành. Số tiền thất thoát năm đó ngoài những người có chức trách chẳng ai biết về sau được giải quyết như thế nào. Nó trở thành một “bí mật” với người thường. Người ta ngại nói đến.
Ngày ấy tôi mới hai mươi tuổi. Câu chuyện của người già tôi có loáng thoáng nghe, nhưng thực tình không để ý. Cái tôi quan tâm lúc bấy giờ là em Đào, em Mận em nào xinh hơn? Sắp tới đây mình xin vào làm cơ quan xí nghiệp nào để sau này có chút hạnh phúc, tương lai để không phải thua bạn kém bè. Tôi không ngờ mấy chục năm sau mình lại là điểm thắt nút của câu chuyện này.
***
Xe chạy từ sáng sớm mãi đến ba giờ chiều chúng tôi mới đến được thôn Khuổi Củng. Một thôn trước kia là động của người Quần trắng tỉnh Tuyên Bình. Tôi đã từng là kẻ thất bại trong nhiều công việc. Hoàn cảnh xã hội một phần, cái chính là tại bản thân kém bản lĩnh, thiếu kiên trì nên giờ chưa gặp thành công. Tôi mua chiếc xe chở hàng, buôn chuyến hoa quả từ các tỉnh phía bắc về Hà Nội. Tuy chả danh giá gì nhưng cuộc sống cũng ổn. Cũng vợ đẹp con khôn, chả kém ai quá nhiều. Lại được cái tự do, tự tại. Khỏe thì làm, mệt thì nghỉ chả ai đốc thúc, hò hét.
Tối hôm ấy tôi ngủ lại nhà lão Điển, người có dáng nhang nhác giống ai đó không biết mình đã gặp ở đâu rồi. Nghĩ nát óc mà không ra!
Bà vợ lão Điển dáng người tuy già rồi mà vẫn còn eo, nét mặt chả có vẻ gì là người đã thất tuần. Bà là người duy nhất trong vùng còn mang sắc phục dân tộc mình, áo chéo vạt, cài khuy bên cạnh sườn. Đặc biệt nhất là vẫn nhuộm răng đen, tục lệ đã mấy chục năm các bà các cô vùng này đã bỏ, không còn ai theo nữa. Chiếc mũ cóm đội đầu với những ngôi sao sáu cánh bằng bạc, sợi xà tích cài thắt lưng. Bà bảo ăn mặc như vậy bà mới cảm thấy tự nhiên, khác đi rất khó chịu, vì từng có đận phát ốm.
Nhưng ông lại nói bà ăn vận như vậy là có lý do của nó, bà là người duy nhất trong vùng còn biết cắt may y phục truyền thống. Thời văn minh bây giờ người ta chuộng tân thời vì quần áo may sẵn theo kiểu tây bán rất sẵn, giá lại rẻ nữa. Nhưng có những lúc không mang y phục cổ truyền dân tộc không được. Đấy là khi có đám cấp sắc, đám cưới, đám cầu làng. Không ai dám đắc tội với Bàn Vương để bỏ phong tục của dân tộc mình.
Một thằng người “ngoài” tự đàng xuôi lên như tôi nghe thì biết vậy. Thấy nó là lạ hay hay, tò mò đấy mà không dám căn vặn hỏi thêm. Nhưng tối hôm đó tôi mắc một sai lầm vì sự chủ quan của mình. Ông Điển mổ con ngỗng khá to làm cơm đãi khách. Lần đầu tiên trong đời tôi được biết rượu hoẵng là rượu gì. Ông Điển nói nó được ủ bằng thứ men tươi như kiểu ủ bia, không qua lửa như cất rượu. Mới uống vào chỉ man mát, có phần nhạt. Rồi nó say từ từ, cảm thấy mất thăng bằng. Tôi có cảm giác chân tay không theo ý mình nữa. Được cái đầu óc lại rất minh mẫn, như thể bóng đèn tự nhiên tăng oát.
Ông Điển cũng rất vui. Người già thường nhớ lâu câu chuyện hồi còn trẻ khỏe của mình. Ông kể: “Đời người ta không bao giờ là một đường thẳng, luôn có những khúc quanh. Năm ấy tôi bĩ quá, bỏ nhà ra đi mà không biết đi đâu. Tôi ra bờ sông Cái ngồi đăm chiêu nghĩ ngợi. Tình cờ gặp một chuyến thuyền buôn củ nâu lên mạn ngược, tôi xin họ đi theo. Chủ thuyền là một ông già đầu râu tóc bạc, cốt cách như thể tiên ông giáng trần. Nghe tôi nói muốn lên mạn ngược kiếm việc làm ông cụ đồng ý ngay. Chỉ yêu cầu tôi cùng nhập bọn với mấy tay nữa chống sào, những lúc buồm không gặp gió. Một công việc cũng không nhẹ nhàng gì. Người quen bàn giấy như tôi lúc đó là một thử thách. Cũng may đang mùa gió chướng, thuyền không mấy lúc phải chống sào. Lên đến thị xã Tuyên Bình thì thuyền dừng lại, bốc trả hàng, nghỉ một ngày, hôm sau nữa thì xuôi. Tôi không thể theo về. Đâm lao phải theo lao. Núi rộng sông dài, thiếu gì cơ hội sống còn. Rồi tôi lên đến đây.”
Tôi ngờ ngợ câu chuyện của ông lão chủ nhà có gì đó là lạ, liên quan đến trực giác khi tôi vừa đến đây, nhưng không tiện hỏi. Đột nhiên, ông chủ nhà dừng câu chuyện, nấc cụt mấy cái liền. Từ đôi mắt có phần đùng đục hai giọt lệ ứa ra. Hình như có điều gì lớn lao, kỳ bí đặc biệt nghiêm trọng chợt ló ra trong câu chuyện của ông. Giả như không có cuộc rượu này câu chuyện sẽ không ai được biết, được nói ra.
Vẻ thận trọng giữ ý trò chuyện lúc đầu đã tan biến. Ông Điển nắm lấy bàn tay phải của tôi, giọng lạc hẳn đi, ông hỏi:
- Cháu mày cho ông hỏi thật một câu. Ngay từ lúc mày đến đây tao đã ngờ ngợ rồi.
Tôi còn ngơ ngác chưa biết ông ấy hỏi chuyện gì. Lão Tiếp:
- Tao nhang nhác nom mày giống như người nhà tao ở dưới quê. Cái làng Vĩnh Lạc mà tao bỏ nó ra đi mấy chục năm trời. Trước thì vì sợ tội lỗi mà hoàn toàn không phải do mình gây ra. Sau vì xấu hổ mình là kẻ hèn nhát. Con người ta dù thế nào cũng vẫn phải đương đầu trước nghịch cảnh. Chuyện chưa đâu vào đâu lại bỏ chạy tuốt lên rừng, hàng chục năm không dám về làng. Sau lại mang thêm cái lỗi nữa thật là khó xử. Bỏ cả mồ mả ông cha bao năm không hương khói, bỏ vợ con, vô trách nhiệm lên đây lại đèo bòng với bà ở trên này.
Tôi vẫn chưa kịp hiểu câu chuyện ông đang nói. Một người gần như tôi mới gặp lần đầu sao lại có họ hàng với nhau? Mâm cơm chỉ còn lại hai người. Bà vợ ông và hai cô con gái đã xong bữa đứng dậy. Tay phụ xe của tôi vừa mượn xe máy của ông chủ ra quán mua thuốc hút. Tôi cũng định đứng dậy thì ông chủ nhà nắm cánh tay kéo lại gần, rì rầm câu chuyện của ông từ mấy mươi năm trước khi tôi có khi còn chưa có mặt trên đời.
Thì ra ông chính là “nạn nhân” liên quan đến vụ án quỹ tín dụng năm nào. Ông cũng là chủ nhân của chiếc xe Phượng Hoàng màu cánh chả bỏ lại bên đầm cùng đôi dép rọ màu mận chín. Hình như chiếc xe ấy vẫn còn dựng ở góc nhà chăng đầy mạng nhện ở dưới quê.
Tôi kể cho ông nghe số tiền thất thoát của quỹ tín dụng năm ấy nhà nước thu được hầu hết. Chỉ trừ vài ba người quá khó hay quá bừa ỉ vào việc cháy hết hồ sơ giấy tờ không chịu trả. Quê tôi nghèo nhưng nhiều người tử tế. Đã là nợ dầu thế nào cũng tìm cách trả, chả ai muốn quả báo về sau. Đó là lối nghĩ của người chất phác, có vay có trả. Cái không phải của mình mà chiếm đoạt trời không dung đã đành, còn để tiếng xấu mãi về sau. Ông chẳng vì lẽ đó mà không dám về làng. Vả lại chuyện quá lâu rồi, “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” đã hết. Ông về chẳng sao đâu.
Ông Điền, tên chính thức của ông từ hồi còn ở quê, sau này lên đây lánh nạn ông mới sửa dấu huyền thành dấu hỏi, tên mới ra là “Điển”, xua hai tay trước mặt. Ông làm như không chấp nhận ý kiến vừa rồi của tôi:
- Khồng, khồng. Bác biết chứ. Bây giờ về làng người ta không ai bắt lỗi bác chuyện năm cũ nữa. Nhưng bác nói thế nào với mọi người? Dù bác không tham ô hủ hóa đi nữa, bác vẫn phải có bổn phận tìm ra sự thật. Bao nhiêu người bị kỷ luật năm đó vì có liên quan. Bác lên đây mai danh ẩn tích, chẳng ai biết bác ở đâu là vì ngày đấy đi lại khó khăn, rừng chưa có đường như bây giờ. Một lượt đi ít nhất cũng mất ba bốn ngày đạp xe, nhưng chuyện ở quê thì bác rất rõ. Có lần bác cải trang về tận làng nghe ngóng mà không ai nhận ra. Bây giờ thành ra một chốn hai quê. Không biết bà ấy và các con bác ở dưới nhà có tha thứ cho bác vợ nọ con kia hay không?
Tôi chưa kịp nói gì, linh cảm như có ai đang đứng sau lưng? Bà chủ nhà tưởng đã xuống bếp từ ban nãy, đột nhiên lên tiếng:
- “To sông đông chợ, lắm vợ nhiều con” câu này của người Kinh tôi biết mà. Ông cứ về có làm sao? Trước chẳng phải sau phải lớ.
Thì ra chuyện bao năm nay ông giấu, bà biết cả và còn đại lượng. Tôi nhìn thấy sự lúng túng của ông. Con người ta dù ở tuổi nào, làm sai điều gì đương nhiên cảm thấy không phải, xấu hổ nữa là đằng khác.
Đêm đó, sau ngày dài chạy xe, bê bệt vì rượu tôi vào giấc ngủ nặng nhọc. Thế quái nào tôi lại nằm mê trượt chân xuống đầm Mắt Rồng khi trông hộ cái chòi trông cá của bố tôi. Có một con giải to khủng khiếp. Nó bằng cái nong phơi thóc, có những xúc tu dài, bóng nhẫy như thân cây cau. Những xúc tu ấy đang quấn chặt lấy một bàn chân tôi khiến tôi la hét sặc sụ a không thành tiếng. Tiếng hét của tôi làm cả nhà thức dậy. Tôi xin lỗi cả nhà nói không có gì để mọi người ngủ tiếp. Quơ vội đôi dép tôi ra ngoài hóng gió.
Thôn này là thẻo đất giữa ngã ba sông. Xưa kia nghe bảo hoang vắng lắm. Là khu đại ngàn có đủ hổ, báo, hươu, nai. Làm thế nào mà ông Điền lại mò được vào đây khi không có đường? Tôi chợt nhớ đọc ở đâu đó: “Đi mãi thành đường”, chẳng nhẽ ông bác họ tôi là người qua đây với bước chân đầu tiên? Ai đó nói dân tộc mình là dân có truyền thống di dân với muôn ngàn lý do, buồn có mà vui cũng có.
Thật là đi ngày đàng. Tôi biết mình vừa thêm bài học về cuộc sống. Nhưng mà ý nghĩa của nó còn lung bung mới cũ, ngổn ngang tình người chưa rõ hình hài. Đúng là không ai, không việc gì tự nhiên biến mất vô cớ. Họ chỉ thay cuộc đời bằng vỏ bọc khác đôi khi theo lối nghĩ khó hiểu.
H.G
17-07-2026
17-07-2026
17-07-2026
17-07-2026








