Truyện ngắn của Đỗ Anh Mỹ

Con bướm trắng chập chờn bay về, đậu trên cây cà phê trước nhà. Ông Hùng khoanh chân trên cánh phản, bên giỏ ấm ủ, nhìn con bướm, lại để ý bộ chén uống trà bóng mầu cắn chè đặc. Ông chê mấy người uống chè đổ bỏ cặn. Theo ông, uống chè để lại mấy giọt đáy chén. Nước chè khô đi, ngày này qua ngày khác, để lại lớp váng dưới đáy chén mới là người sành uống chè. Cây điếu cày gác vai kêu róe lên. Mắt ông lim dim, nhả khói, tay vô tình đụng phải chiếc phong bì. Từ bữa ông nhận được tấm vé máy bay của cô con gái trong Tây Nguyên gửi ra, lại nghe mấy nhà hàng xóm nói ngược, nói xuôi, khiến ông không biết chuyện nên buồn, hay nên vui, ruột gan có lúc rối như tơ vò. Nhìn vào mắt vợ, ông càng suy nghĩ nhiều hơn. Mắt bà mỗi đêm lại sâu thêm, thâm hơn. Bát canh rau đay mùng tơi, mọi khi ông chan ngọt là thế, chiều qua, ông lại nghĩ, bà hái nhầm phải cây lá đắng. Ông lẩm bẩm một mình, vậy là những gì bà nói với con bé khi mẹ con ngồi bắt chấy cho nhau, giờ như “Nước đổ đầu vịt” rồi. Các cụ nói, “Con gái cho gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng bưng cho. Con gái đem gả chồng xa, lúc ốm lúc yếu chẳng ma nào nhìn”! Ông mở tấm vé, đọc lại, mắt bỗng sáng dần, đôi lông mày rậm động đậy. Ba ngày nữa, tấm vé còn ba ngày nữa hết hạn bay! Ông lẩm bẩm như có bà đứng bên: Bà ạ! Tấm vé cũng là tiền. Thửa ruộng năm sào của bà trên đồng An Lịch hai vụ được mùa chưa chắc đánh đổi nổi tấm vé này đâu. Dù gì cũng là tấm lòng thơm thảo của con, nó mời tôi vào thăm lại chiến trường xưa, nơi tôi để lại nửa cánh tay này ở trong ấy. Chuyện dân làng đồn đại, con bé trong ấy ăn nên làm ra, lại sắp lấy chồng Tây Nguyên, tôi phải đi một chuyến. “Xem Bụt, phải đến chùa!” Bọn trẻ giờ nó thế, để cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, bọn nó thề chết già cả lượt!
Chiếc phi cơ Vietjet dập dềnh bay lên. Một thảo nguyên mây trắng bồng bềnh dưới cánh bay. Từ trên cao nhìn qua ô cửa sổ, những ngôi nhà cao tầng, khu đô thị mới đang lấn ra biển, lấn những cánh đồng lúa năm tấn, mười tấn. Những cánh rừng xưa, “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” cũng nhường chỗ cho những sân gôn. Từ Nội Bài vào sân bay Hòa Bình hôm nay, phi cơ cất cánh chưa đầy hai giờ đồng hồ. Ông Hùng mênh mang nhớ lại cuộc hành quân của Trung đoàn năm xưa. Năm ấy, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, lời kêu gọi của Bác Hồ, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào!”, lớp lớp thanh niên đã tình nguyện lên đường, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Ông quyết định tạm xa những viên phấn trắng, tấm bảng đen, tạm biệt các em học trò thân yêu, chen vai cùng thanh niên cả nước “Một chiếc ba lô, một khẩu súng trường, một ngôi sao trên mũ”... hơn nửa năm trời qua hai mùa mưa nắng, từ cánh rừng Yên Thế, Bắc Giang, “chiếc gậy trong tay mồ hôi đã bóng”, khiêng cõng nhau qua những cơn sốt rét ác tính mỗi ngày; nếm đủ mùi cái đói: đói hoa mắt, đói vàng mắt, đói bủn rủn, đói mềm chân tay. Những cơn khát tưởng chừng cháy cả ruột gan, chắt chiu chia sẻ cho nhau từng hớp nước giải đồng đội chắt ra.
Đi trên sân bay Hòa Bình thênh thang hôm nay, ông nhớ lại trận đánh lúc nửa đêm hôm mùng mười tháng ba năm Ất Mão, ông trong đoàn quân Trung đoàn 148 thần tốc từ biên giới nước bạn Cam-pu-chia, vượt con sông chảy ngược Sêrêpôk về đánh trận mở màn chiến dịch, đánh chiếm sân bay Hòa Bình, tiêu diệt Trung đoàn 53 Ngụy, Trung đoàn bảo vệ thành phố Buôn Ma Thuột. Ông đã để lại nửa cánh tay ở nơi này. Ngày ấy, mải truy kích, tiến công, không biết đồng đội có ai kịp vùi nó ở đâu? Những năm tháng hào hùng cầm súng bảo vệ Tổ quốc bỗng như thước phim ghi hình chảy theo ký ức. Chợt nhớ câu chuyện ám ảnh khó quên. Ngày ấy, trong trận diệt đồn Đức Cơ, ông đã cứu một tên Trung úy Ngụy Sài Gòn thoát khỏi bàn tay tử thần, khi đại đội biệt động do y chỉ huy có nhiệm vụ lên chi viện cho bọn tàn quân hòng đánh chiếm lại căn cứ Đức Cơ. Không cứu vãn được tình thế, Đức Cơ thất thủ, có nguy cơ rơi vào tay quân Giải phóng, máy bay Mỹ liền kéo lên ném bom thiêu cháy tất cả những gì còn lại trên mặt đất. Tên Trung úy tốt phúc đã bị vùi lấp dưới hào chống tăng. Giờ y ở đâu? Có thành người tử tế, hay đã về với chúa?
Chợt nhớ những gì cô con gái út dặn, ông Hùng ra bãi đỗ xe, đưa mắt tìm quanh. Một xe ô tô màu đen từ từ đến đỗ trước mặt. Người đàn ông mang cặp kính đen gọng to, đầu đội mũ phớt, miệng ngậm xì gà bước ra từ trong xe, tập tễnh bước đến trước mặt, lịch sự hỏi:
- Thưa ông! Ông cần xe về đâu?
- Cám ơn! Tôi đợi người nhà ra đón. - Ông Hùng nhìn người lái xe từ đầu đến chân, không có ý định bắt chuyện.
Để ý người đàn ông cụt một bên tay, cặp mắt sâu, đôi lông mày rậm, mặc bộ quân phục sờn vai, đầu đội mũ tai bèo, đeo ba lô con cóc, lủng lẳng bên ba lô một cái điếu cày, nhớ lời cô An Lịch dặn, người lái xe ôn tồn hỏi lại:
- Phải ông tên Hùng? Ông giáo Hùng, thưa ông?
Ông Hùng nhìn lại người lái xe lạ đeo cặp kính đen gọng to, cảnh giác, lưỡng lự chưa lên tiếng. Một con bướm trắng bay qua trước mặt, đậu trên vai áo, ông ảo giác nhớ con bướm trắng đậu trên cành hoa cà phê trước nhà, khẽ đáp:
- Vâng! Tôi đợi con gái tôi ra đón, thưa ông! Nhưng sao ông biết tên tôi?
- Đúng rồi đó. - Lái xe xởi lởi lên tiếng - Cô An Lịch, ha? Kỹ sư trồng trọt, ha? Bữa ny, Công ty An Lịch mắc khai trương quán cà phê mới, cô ấy nhờ tui đi đón bác Hai đó. Tui tên Phổ, Hai Phổ. Mời bác Hai lên xe!
Chiếc xe Căm-li lăn bánh. Hai người đàn ông, cả hai đều bị chiến tranh lấy đi một phần cơ thể, im lặng mỗi người theo một suy tư. Con đường áp-phan êm như ru. Ông Hùng liu riu nhớ lại một thời khó quên. Sân bay Buôn Mê Thuột hôm nay, sân bay Hòa Bình ngày ấy, là mục tiêu tiến công mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh đêm 10/3 năm Ất Mão, giờ là điểm giao lưu hàng không trong nước, giao thương quốc tế. Buôn Mê Thuột, buôn của mẹ Thuột, còn có tên gọi Buôn Ma Thuột, buôn của ông Thuột. Bà con nơi đây gọi với cái tên trìu mến Buôn Mê, thủ phủ tỉnh Đắk Lăk. Ngày ấy, để bảo vệ Tây Nguyên, quân Ngụy Sài Gòn cắm Sư đoàn 23, sư đoàn được Tổng thống Thiệu thêu dệt cho cái tên: "Bình Nam, tiến Bắc, trấn Cao nguyên". Ngoài ra, còn có Trung đoàn 53, Trung đoàn tinh nhuệ của Sư đoàn 23, nằm sát sân bay Hòa Bình. Sau ba mươi giờ bị tiến công, Buôn Mê Thuột thất thủ. Chưa đầy 9 ngày thất thế chống đỡ, căn cứ 53, căn cứ của trung đoàn bảo vệ Đắk Lắk, căn cứ quân sự cuối cùng ở Buôn Ma Thuột bị xóa sổ. Cùng ngày hạ huyệt Trung đoàn 53, ngày 18/3 sau bốn trận liên tiếp trong một tuần bị đánh không còn mảnh giáp, trên đoạn đường 50 cây số, Đường 21, Sư đoàn kiêu binh "Bình Nam, tiến Bắc, trấn Cao nguyên" cũng bị xóa sổ, ngay trên mảnh đất mà nó sinh ra.
Ông Hai Phổ lúc lại liếc nhìn, để ý cặp mắt, đôi lông mày của khách, nhớ lại câu chuyện cách đây đã nửa đời người. Nếu như ông Hùng đây đúng là ông sỹ quan Bắc Việt ngày ấy, thì trời cho ông gặp duyên kỳ ngộ. Nhưng nhỡ đâu, ông giật mình nhớ ra điều gì? Đôi lông mày nhíu lại, nhỡ đâu ngày vui của cha tìm được ân nhân cứu mạng, lại là ngày xui xẻo của hai đứa trẻ!? Ông thở dài, nhớ lại thời khắc đáng sợ năm nào. Ông xốc nhẹ hai vai, ướm hỏi người khách mới quen:
- Tui kể bác Hai câu chuyện này, nghen?
- Không dám! Nhưng bác cứ kể cho vui đi.
- Câu chuyện tui không bao giờ quên. Bác Hai biết hông? Ngày người Mỹ đã phải ký Hiệp định Pa-ri, rút nửa triệu quân xâm lược về nước, bỏ mặc Ngụy quân lẫn Ngụy quyền. Nhưng trước khi rút quân, Mỹ còn đổ đô la, xây đồn Đức Cơ thành pháo đài chống cộng ở ngã ba Đông Dương, kiềm tỏa con đường 19, 21, không cho cộng sản Bắc Việt chi viện từ
Cam-pu-chia, Lào vào chiến trường miền Nam.
- Hồi ấy, ông Hai đánh nhau ở mặt trận nào?
- Để tui kể chuyện này cho bác Hai nghe đã, ha. Vậy mà, chưa đầy một tháng bị quân giải phóng vây hãm, liên tục bị tấn công, tiểu đoàn biệt động quốc gia bị thất thủ. Đồn Đức Cơ sắp rơi vô tay cộng sản. Ông Thiệu cho gom nhặt tàn quân được một đại đội, giao cho tui chỉ huy, nhảy dù xuống chi viện, giải cứu Đức Cơ.
- Sao ông lại kể tôi nghe chuyện này? - Ông Hùng nhìn Hai Phổ, thắc mắc.
- Là tui nghĩ, biết đâu bác Hai đây có quen biết ông sĩ quan Bắc Việt, người mà tui đã hết nửa đời người đi tìm, chưa gặp.
- Ông Hai kể tiếp đi, tôi cũng nghe cho vui.
- Vậy tui kể tiếp, ha. Ba ngày, tui hô hào đẩy quân lên chiếm lại đồn Đức Cơ, ba ngày quân tui bị đánh chặn quyết liệt, tơi tả trên bãi gỗ Chư Bồ. Rồi ngày thứ tư, ngày đời tui không thể quên. Biết không thể giành lại Đức Cơ, một sáng mờ sương, Ngụy Sài Gòn cho máy bay OV10 lên do thám, thả đạn khói xuống trận địa, rồi lập tức, các cỡ pháo từ các nơi cấp tập nã đạn xuống Đức Cơ. Chưa hết đâu, bác Hai, sau rồi máy bay HU1A lên dội bom thiêu rụi tất cả những gì còn lại trên mặt đất. Khói bụi mù mịt, lửa ngùn ngụt trùm lên trận địa. Lính tui la hét, gào thét, chửi bới bọn chỉ huy, đứa la trời, la chúa. Tui kịp nhảy vô góc chiến hào thì nghe tiếng nổ bên tai, rồi hổng biết gì thêm. Tỉnh lại, nghe tiếng súng AK nổ, tui mở mắt, thấy ở góc hào bên kia, một ông đội mũ tai bèo, mặt đen lem luốc, áo quần cháy nham nhở cố bới đất leo lên khỏi chiến hào chống tăng. Trận địa chỉ còn một vài đám khói. Mùi thịt người cháy khét tràn ngập cánh rừng. Tui bị vùi lấp dưới hào, cố ú ớ rên lên thật to, mong có ai đó nghe thấy.
- Vậy có ai đến cứu ông Hai?
- Chính ông đội mũ tai bèo đó, bác Hai. Ông ấy moi tui lên, nhưng khi biết tui, một tên trung úy Việt Nam cộng hòa, thì ông ấy bỏ đi. Tui gào lên cầu xin ổng một viên đạn vô đầu. Ông ấy nói, ổng chả cần phí thêm một viên đạn làm gì. Tui sắp được về với chúa của tui rồi. Rồi ông ấy bỏ đi thật.
- Nhưng người ta đã quay lại, đúng không? - Khách bình thản nói.
Lái xe giật mình, tò mò nhìn lại khách ngồi trên xe từ đầu đến chân. Vừa lúc, xe dừng bánh trước cánh rừng cà phê bạt ngàn, hoa trắng ngần, hương ngào ngạt trùm lên ngôi biệt thự khang trang. Chủ nhà bước ra mở cửa xe, dẫn khách vào nhà.
Khách nhìn tấm ảnh phía trên ban thờ, ngơ ngác hết soi nhìn người trong ảnh, lại nhìn ông Hai Phổ từ đầu đến chân, khẽ hỏi:
- Là bà cụ...?
- Là ông thật rồi sao? - Ông Hai Phổ xúc động reo lên.
- Tấm ảnh, … tôi đã thấy tấm ảnh này trong túi áo tên trung úy Ngụy bị bom vùi dưới góc hào chống tăng. Ánh mắt của bà khiến tôi không thể bỏ đi.
- Má tui đó, thưa ông! Bà chờ ông hoài, không đợi được đến ngày hôm nay, bà đã mất hai năm nay rồi! - Hai Phổ rưng rưng nhìn khách, mặc cho nước mắt rơi.
Gặp lại ân nhân cứu mạng, ông Hai Phổ thay đổi cách xưng hô, cho gọi con cháu, người thân lần lượt đến bái chào. Ông Hùng cảm kích, đến thắp nén hương, khấu đầu trước tấm ảnh.
Hai ly cà phê tí tách nhỏ giọt. Hai người đàn ông mỗi người nhớ lại một kí ức. Khách bộc bạch, ông nhập ngũ theo lệnh tổng động viên. Sau những kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường, quân đội giao cho ông một đại đội toàn những chàng trai ưu tú. Ông luôn nói với chiến sĩ, đằng sau tinh thần kiên cường, bất khuất, quả cảm của người lính, luôn có bóng hình người mẹ, người cha, người vợ, bóng hình những đứa trẻ thơ từng ngày mong họ trở về. Nơi chiến trường, ông quý mỗi viên đạn thế nào, quý những giọt máu, mẩu xương của chiến sĩ hơn thế. Ông kể tiếp: Sáng hôm ấy, vừa thức dậy, phát hiện máy bay OV10 đến trinh sát, nhả đạn khói xuống trận địa, tôi chỉ kịp lệnh cho đại đội rút lên núi. Đang đi kiểm tra trận địa thì pháo địch từ các nơi cấp tập trút đạn lên đầu Đức Cơ, rồi một tốp HU1A đến ném bom cháy. Một tiếng nổ gần rung chuyển trời đất. Tôi bất tỉnh. Tỉnh lại hồi lâu, tôi mới nhận ra mình bị vùi dưới hào chống tăng, toàn thân đau nhức, rát bỏng. Xoay sở mãi, tôi cũng tự ngoi được lên, cố bò đi. Cảnh tượng bày ra khiến tôi hét lên như một kẻ điên. Trận địa chỉ còn lại một vài đám khói. Mùi thịt người cháy khét tràn ngập cánh rừng, át mùi hoa cà phê. Những bộ xương người cháy dở ngổn ngang trên trận địa. Lắm kẻ tay còn giữ khư khư khẩu súng Mỹ AR15. Lòng căm hờn quân giặc tàn sát đồng bào mình bốc lên, tôi kéo hết băng đạn AK, nguyền rủa quân xâm lược, nguyền rủa bè lũ tay sai bán nước giết hại cả những người lính trung thành, giết hại đồng bào mình.
- Văn minh Mỹ rứa đó, bác Hai. Họ che đậy sự thất bại trước báo chí bằng cách đó đó, dội bom thiêu hủy mọi dấu tích. Rồi sau sao nữa, bác Hai?
- Chợt tôi nghe đâu đó có tiếng rên, rồi tiếng gọi ú ớ. Tôi tìm đến, nửa người anh ta bị vùi lấp dưới hào chống tăng. Tôi cố sức moi anh ta lên. Mặt mũi, áo quần anh ta cháy loang lổ; một bên chân bị gãy lìa. Xem giấy tờ, thì anh ta là một trung úy Việt Nam cộng hòa.
- Là tui. Là tui đó, phải không bác Hai?
- Sao tôi biết được. Nhưng đúng là, chỉ mỗi mình anh ta sống sót. Tôi móc túi lấy ra bọc nilon, thấy tấm ảnh, đúng là tấm ảnh trên tường kia.
- Tui nhớ, tui đã khẩn khoản xin ông một viên đạn vô đầu, rồi nhờ ông đưa nạm giấy tờ về nói với mẹ tui, mồ tui chôn ở đâu. Bả sẽ hậu tạ ông hậu hĩnh.
- Tôi thì hét lên: Thằng bất hiếu! Cần gì tao phải phí thêm viên đạn. Chúa của mày sắp đến đón mày đi rồi.
- Tui nhớ mà, rồi ông bỏ đi. Tui thì uất ức, cái đau từ các vết thương lúc ấy làm tôi phát điên, oán hận ông độc ác. Rồi lại thấy ông đi lần từng chiếc ba lô cháy dở, kiếm bông gạc tự băng bó cho ông, cho cả tui, lại kiếm bộ đồ lính cộng hòa, quay lại bắt tui bò đi. Không hiểu điều gì đã khiến ông…?
- Vì ánh mắt của bà mẹ trên tấm ảnh ám ảnh tôi. Không có bà mẹ nào muốn con mình vùi xác nơi chiến trận!
- Thưa ông! Tui nhớ, mỗi lần cơn đau từ chân gãy, cái rát từ vết bỏng thốc lên ngực, thắt vào tim, bốc lên đầu, tui lại cầu chúa ban cho tui cái chết, tui lại bất mãn, không chịu để ông kéo tui đi.
- Hôm ấy, ông nhớ ông đã lải nhải điều gì không?
- Hổng nhớ, hổng nhớ, bác Hai!
- Một lần, kiên quyết tụt khỏi vai tôi, ông đưa tôi khẩu súng ngắn nói: - Súng đây, còn một viên đạn tui dành cho tui. Ngàn lần tui lạy ông, ông cho tui về với chúa đi. Tôi cười nhạo, anh biết bắn mà. Đặt đầu súng vào mang tai, xiết cò là xong.
- Tui nhớ rồi, thưa ông. Ông lại nói, nghĩ đến những đồng đội của ông đã hy sinh, tui đáng ngàn lần chết. Nhưng tui phải sống. Tui sống để nói với binh lính của tui, quân lực Việt Nam cộng hòa, quan thầy Mỹ của tui đã lấy bom đạn Mỹ giết chết, thiêu sống bọn tui, những người lính trung thành với quốc gia như thế nào! Người Mỹ coi bọn tui chỉ như con vật giữ nhà, giữ không nổi nó đập chết, đốt xác. Bản chất của kẻ xâm lược đó. Tui đau câu này lắm đó! Nhưng nghĩ lại, ông đã đúng!
- Tôi lại cảm kích câu tay trung úy ấy nói, anh ta đáng ngàn lần chết, nhưng giờ mong được chết trong tay Việt cộng, để linh hồn sớm được siêu thoát!
- Chỉ khi ông cứu sống tui, tui mới tỉnh ra đó, thưa ông! Ông có biết, vì sao tui bỏ Sài Gòn, lên cao nguyên hông? Má tui bày đó. Bả nói, bộ đội các ông thường về thăm lại chiến trường xưa. Chỉ lên cao nguyên, tui mới có cơ hội tìm ông. Nhưng sau ngày đó, ông đã đi đâu?
- Nhờ bộ đồ lính quốc gia nhặt của xác chết, tôi dìu anh vào trạm Chữ thập đỏ Quốc tế. Họ đã chăm sóc vết thương cho anh, cho cả tôi. Rồi mẹ anh nhận được tin tôi báo, bà lên đón anh về Sài Gòn. Còn tôi đêm đó kịp trốn đi tìm đơn vị. Tháng ba bẩy lăm, tôi trở lại Tây Nguyên, tham gia trận mở màn giải phóng Buôn Mê Thuột, bị mất nửa cánh tay. Sau ngày thống nhất, tôi trở về quê tiếp tục dạy học.
Câu chuyện khiến hai ly cà phê để nguội. Khách kiếm cớ ra thăm vườn. Ông bị hút vào khu vườn trồng cây truyền thống. Những cây cà phê mít cao vút lầu, cành lá xum xuê đang mùa trổ hoa. Ông ngắt mấy cái lá khâu thành cái mũ cánh chuồn đội lên đầu. Hai người đàn ông nhìn nhau cười như hai đứa trẻ. Chủ nhà kể:
- Đám cây cà phê mít là cô An Lịch, con gái bác Hai đem hạt từ Bắc vô, ươm thành cây giống, đem trồng kỷ niệm vào các biệt thự vườn đó.
- Con bé từ nhỏ, vẫn thích làm những việc không đâu mà!
- Chừ thì con bé có ý đồ đó, bác Hai! Con bé không cần có đất, nó vẫn có cả trăm cây cà phê mít ở Tây Nguyên rồi đó. Mùa thu hái, người làm ở các biệt vườn tự hái quả, chở đến cho con bé, người bán, người hái giúp. Con bé chỉ việc mở công ty chế biến, ship đi các nhà hàng cà phê mít đặc sản đó.
Ông Hùng lần đầu nghe nói chuyện này, lại nhớ chuyện ngày xưa, kể:
- Quê tôi hồi xưa, người Pháp sang xâm lược, cho mở đồn điền cà phê ở Kim Xuyên, đem cà phê mít Nam Mỹ sang trồng hàng chục héc ta. Rồi năm bốn lăm, quê tôi giải phóng, chủ đồn điền bỏ của chạy lấy người, để lại cánh rừng bạt ngàn cà phê đang độ thu hái. Dân Bắc, mấy ai uống cà phê đâu. Bà con chả ai bảo ai, phá cả chục hec ta để trồng sắn cứu đói, năm thì trồng dứa, năm trồng mía kéo đường, nay lại trồng cây bạch đàn, dăm năm khai thác một lần, cũng có ít tiền xóa đói giảm nghèo.
- Vậy mà con bé nói, bác Hai nghiện cà phê từ mấy cây cà phê mít trước nhà. Con bé hái về, học cách chế biến, học cách pha cà phê cho cha sài, mãi thành nghiện đó. Con bé chừ pha cà phê sành điệu lắm đó.
- Chuyện ấy thì có. - Cái vui của hai người già đã lây cho nhau.
Vừa lúc, chiếc xe con về đỗ trước cổng. An Lịch nhào ra khỏi xe, ùa vào ôm cổ bố, mắt ướt dần.
- Bố! Con gái bất hiếu. Sáng nay, công ty con có lịch khai trương quán cà phê mít mới. Con không ra sân bay đón bố được. Bố đừng đánh con gái nữa nhé.
- Hồi con bé này còn nhỏ… - Ông Hùng kể với chủ nhà. - hễ đi học, hay đi chăn trâu về là nó trèo lên cây cà phê hái quả chín ăn. Tôi sợ nó ngã, vót cái roi dài bắt nó cất lên mái nhà, lúc nó hư, bắt nó lấy ra…! - Hai ông cười phô hai hàm răng khuyết.
Một chàng trai đi xe mô-tô địa hình vào đỗ trong sân, đến khoanh tay cúi đầu, giọng hồ hởi lên tiếng:
- Con chào ba. Con chào bố. Bố đi đường có nhọc không? Hôm nay, Công ty An Lịch khai trương quán cà phê mít mới, bố ạ. Công ty con đến hỗ trợ tiếp khách. Khách mời không thiếu một ai ạ.
An Lịch thuận chân bước ra, kéo tai chàng trai, nhăn mặt nói:
- Ai ở đây là bố? Chỉ được cái…!
Ông Hùng chau mày nhìn con gái. Ông Hai Phổ cười thật hiền bảo, chỉ con bé An Lịch mới trị được thằng này, bác Hai ạ.
- Bác chào cháu. Toàn là ô tô, tầu bay đưa đi, mệt gì đâu. Cháu tên gì?
- Dạ thưa, con tên Việt, Hà Bắc Việt ạ!
- Phải đó, bác Hai. Là bà nội đặt cho nó đó. - Ông Hai Phổ nhìn vào mắt ông Hùng, ngập ngừng nói như thanh minh: Thưa bác Hai! Cuộc gặp bất ngờ hôm nay ngoài ước nguyện của cha con tui. Nhưng không hiểu sao má tui lúc còn sống cứ tin, cô An Lịch sẽ rất gần gũi với ân nhân cứu mạng của tui. Lúc bà sắp ra đi, bà cầm tay hai đứa đặt vào nhau rồi mới nhắm mắt đó. - Ông đưa khăn chấm khóe mắt, kể tiếp: - Mai đây, nếu được các cụ, ông bà ngoài ấy cho phép, cha con tui xin… - Ông lại ngập ngừng, mặt hơi thất sắc nhìn lên tấm hình chụp kỷ niệm thời lính trẻ.
Ông Hùng trầm ngâm, đưa bàn tay còn lại nắm tay chủ nhà. Ngoài vườn, con bướm trắng bay về, chập chờn quanh nhà, rồi đậu trên cành hoa cà phê mít. Bữa liên hoan khai trương quán cà phê mít của Công ty giải khát An Lịch trở thành cuộc gặp mặt ân tình. Ông Hùng nhâm nhi ly cà phê lại nhớ đến vợ, nhớ những ly cà phê mộc mạc ngày nhỏ cô con gái út An Lịch đã pha. Mắt ông chớp chớp, nhớ về làng An Lịch. Giờ này, chắc bà ấy đang nằm đu võng trên cành cà phê mít trước sân. Những chùm hoa trắng ngần ngan ngát tỏa hương. Ông yên tâm nhìn cô con gái út nay đã trưởng thành, ánh mắt tin tưởng nhìn hai cha con ông Hai Phổ.
30/10/2025
Đ.A.M
Minh họa của Lê Cù Thuần
26-12-2025
26-12-2025
26-12-2025








