Bút ký của Nguyễn Hồng Quang
---%E1%BA%A2nh--H%C3%A0-Th%E1%BA%BF-%C4%90%C3%B4.jpg)
Hẻm Tu Sản. Ảnh của Hà Thế Đô
Mùa đông trên Cao nguyên đá thật khắc nghiệt. Gió lạnh hun hút lùa qua từng vách đá, cái rét như cứa vào da thịt, len lỏi tận trong từng hơi thở. Mây mù phủ kín núi đồi. Đứng cách nhau chưa đầy chục mét mà đã khó nhận rõ mặt người. Ngày ấy, áo rét của lính chỉ là chiếc áo bông trấn thủ và chiếc mũ có quai che tai. Ban ngày còn đỡ, nhưng đêm đến, cái lạnh thấm sâu vào từng thớ thịt. Mặc cả áo quần dài, đắp chăn vẫn lạnh run. Giấc ngủ chỉ chập chờn trong hơi sương buốt giá. Trong suốt thời gian đóng quân nơi núi đá, tôi cùng đồng đội đã trải qua biết bao gian khổ để giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Và từ đó, những kỷ niệm không thể nào quên cứ khắc sâu trong tâm trí...
Mùa đông năm 1983, đơn vị tôi đóng quân tại xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc. Năm ấy, tuyết rơi dày đặc - trắng xóa cả núi rừng, làng bản. Tựa như ai đó đã đổ lên vạn nẻo núi non những tấn tuyết trắng tinh, mềm xốp như bông. Bầu trời xám mờ, tuyết bay bay, đậu lên mái nhà, lên cành cây ngọn cỏ khiến cây cối gãy đổ vì sức nặng. Đàn gà không còn chỗ bới mồi. Xe ô tô đi lại phải có người đi bộ dẫn đường.
Đêm tuyết rơi dày nhất, trung đoàn tôi đang diễn tập bắn đạn thật. Có chuyện kể rằng: Lều trại tạm thời, bị sập xuống giữa đêm vì tuyết nặng đè lên. Sáng ra, có người tưởng đồng đội gác chân lên bụng mình cả đêm làm suýt nghẹt thở! Ai nấy lần đầu thấy tuyết, đều hào hứng đưa tay hứng những bông tuyết lạnh buốt, nếm thử, ném chơi. Tuyết bám vào áo thì khô, nhưng rơi vào cổ hay tay trần thì tan ra, lạnh buốt thấu xương.
Có anh nuôi còn lấy tuyết trên mái bếp đun thử, thấy nước hơi vàng thì khẳng định tuyết... có màu vàng! Té ra tuyết lẫn khói bếp và cỏ mục từ mái nhà. Tuyết tan rồi, lạ thay - cây sa mộc, gỗ nghiến, rau xu hào, cải bắp, đậu Hà Lan vẫn xanh tốt. Còn chuối, mía, cả bụi tre thì táp lá như vừa trải qua một trận cháy rừng. Theo các cụ cao niên, vài chục năm mới có một mùa tuyết rơi dày như thế. Trâu bò chết rét nhiều, sản xuất của bà con bị ảnh hưởng nặng nề. Khi tuyết tan, không mưa mà suối khe tràn nước - một hiện tượng rất lạ lùng.
Ở nơi cao nguyên đá mùa khô, nước quý hơn vàng. Dân bản phải cõng từng gùi nước từ khe đá hoặc hốc đá nhỏ. Rửa rau xong còn để nước lại cho gia súc uống. Bể cạn, suối khô, kho đạn hay kho gạo không khóa - nhưng bể nước thì rào kín, khóa chặt. Có lần đơn vị tôi phải dùng xe kéo pháo đi tận sông Nho Quế - hơn 20 cây số - để chở nước. Nước đựng trong các thùng phuy cũ đã khử mùi xăng dầu. Một chuyến xe chỉ đủ dùng cho 2 - 3 ngày, mà chỉ để nấu ăn, uống - không có để tắm giặt. Có chè ngon, thuốc thơm mà không có nước để đun pha trà, đành ngồi hút thuốc suông.
Tiểu đội tôi từng đóng quân trên một sườn đồi vắng. Một hôm, bố của Xúa - người bạn cùng đơn vị - từ quê lên thăm con. Cả tiểu đội mừng rỡ, quyết định mổ chó đãi khách - một bữa tiệc nhỏ hiếm hoi giữa núi rừng. Chiều ấy, rượu ngô, thịt chó quây quần bên bếp lửa. Tiếng cười râm ran, tình quân dân thắm thiết.
Tối đến, ông cụ ngủ lại lán, nằm cạnh Xúa. Gần nửa đêm, Tân - chiến sĩ trực gác - mò vào đánh thức người thay ca. Trong ánh đèn pin mờ mờ, Tân lay nhầm... bố của Xúa. Cụ ông ngồi dậy, còn chưa kịp tỉnh táo, miệng ú ớ, thì Tân nghiêm giọng hỏi:
- Chiều có ăn thịt chó không?
Ông cụ vẫn đang ngái ngủ đáp:
- Có chứ!
- Ăn được thì phải gác!
Ngỡ là lệnh thật, ông cụ lặng lẽ cầm khẩu súng, khoác áo tơi, đội mũ bông ra đứng gác giữa đêm giá lạnh. Một mình nơi vọng gác đầu lán, ông đứng nghiêm túc suốt đêm, không biết mấy giờ được thay ca - mà cũng chẳng ai ra thay. Sáng hôm sau, cả tiểu đội tá hỏa khi thấy ông cụ vẫn đứng đó, mắt quầng thâm, vai áo ướt sương. Hiểu ra chuyện “gọi nhầm người”, Tân cười như mếu, anh em lính trẻ thì ríu rít xin lỗi. Ông cụ chỉ cười hiền hậu:
- Thế là được làm lính một đêm thật sự rồi!
Từ đó, “chuyện bố Xúa gác đêm” trở thành một giai thoại hài hước, được kể mãi mỗi dịp hội quân - như một kỷ niệm không thể quên về tình quân dân gắn bó. Nơi giữa gian khổ vẫn bừng lên tiếng cười ấm áp, chan chứa nghĩa tình đồng đội, nghĩa tình quê hương.
Có lần, tôi cùng Dương - tổ hậu cần - đi bộ từ Mậu Duệ lên Ma Lé, hơn năm chục cây số. Chân phồng rộp, bụng đói cồn cào, cổ họng khô khốc. Suốt cả ngày không một chuyến xe qua, chỉ có gió ngược, đá tai mèo sắc lạnh và bầu trời mù sương xám nhòa. Khi đã kiệt sức, chúng tôi rẽ vào một bản nhỏ lẩn khuất bên sườn núi, chỉ mong xin ngụm nước để gượng qua đêm.
Nhà thứ tư mới có người mở cửa - một bà cụ lưng còng và đứa bé chừng bảy, tám tuổi. Nhà nghèo, tối om, trống trơn như chính cơn gió đang lùa vào ngực áo. Bà rót cho mỗi người một bát nước trong vắt, mát lạnh, rồi cẩn thận đổ thêm chút còn lại vào bi đông - nước dành cho bữa tối.
Tôi bối rối hỏi nhỏ:
- Bà ơi... nhà mình còn gì ăn không ạ?
Bà móm mém cười hiền, lục trong chõ gỗ lấy ra ít mèn mén còn lại từ bữa sáng. Thức ăn chỉ có vậy: Hai bát gỗ mèn mén nguội, chan chút nước canh rau bí loãng, chẳng có hạt muối nào. Nhưng với chúng tôi lúc đó - thật là một bữa tiệc. Từng thìa mèn mén nhạt vị mà đượm ngọt nghĩa tình, làm ấm cả lòng.
Ăn xong, tôi dúi vào tay đứa bé vài đồng lẻ, dặn để dành mua sách, mua bút. Đôi mắt nó sáng lên trong ánh lửa leo lét nơi góc bếp. Bát mèn mén ngày ấy - vàng như ân tình giữa núi rừng hoang vu. Vàng như tấm lòng của người Mông lam lũ mà thủy chung. Vàng như kỷ niệm mà suốt đời tôi không thể nào quên.
Cách Tết một tuần, tôi được giao đi lấy lá dong về gói bánh chưng - hành trình hơn 40 cây số bộ hành. Trời mưa phùn, rét thấu xương. Vào rừng cắt lá trong mưa lạnh, gùi về ướt sũng. Đêm nghỉ hậu cứ, anh em đãi món sắn luộc và canh trứng cải. Lần đầu tôi được ăn kiểu trứng khuấy loãng trong nồi rau cải - lạ miệng mà đậm tình.
Trên đường về, đi qua các bản người Mông, thấy bà con bắt đầu ăn Tết - mỗi dòng họ theo một thời điểm, như “lấy ngày nhau”. Nhà nào cũng mổ lợn, làm món tiết canh không hãm, rắc nhân lên mặt đông cứng. Người Mông quan niệm ăn tiết canh sẽ gặp may mắn, trừ tà, tăng dũng khí. Món thắng cố sôi ùng ục - tổng hợp tim gan phèo phổi, gia vị rừng nồng nàn. Thịt đem gác bếp hong khói để ăn dần trong Tết.
Tết năm ấy, đơn vị tôi chiếu phim phục vụ bộ đội và cán bộ huyện. Tôi là đội trưởng đội chiếu bóng - kiêm thuyết minh. Phim Cánh đồng hoang không cần thuyết minh nên tranh thủ đi dạo quanh sân. Trời rét khô nhưng lòng người nồng ấm. Các cô cán bộ ngân hàng, bưu điện đến xem rất đông. Mấy anh lính nghịch ngợm chơi trò “vỗ mông” - tục chúc Tết của người H’Mông. Có người còn “vỗ trước” khiến các cô gái cười ré lên, xách guốc chạy… vui như Tết.
Ở vùng cao, tục “vỗ mông” là biểu tượng chúc phúc. Ai được vỗ nhiều - sẽ may mắn cả năm. Đầu xuân, những cú “vỗ mông” chạm khẽ - mở đầu cho những lời tỏ tình. Một nét văn hóa thật nhân văn và dí dỏm.
Những tháng năm ấy - cùng nắng gió cao nguyên, khói lửa thao trường, tình đồng đội - mãi là miền ký ức thẳm sâu trong tôi. Cao nguyên đá, dòng sông Nho Quế... tất cả giờ như thạch vàng lấp lánh trong tâm hồn một người lính - một thời đã sống, chiến đấu và yêu thương trên mảnh đất biên thùy.
N.H.Q
26-12-2025
26-12-2025
26-12-2025
26-12-2025








