Đỗ Anh Mỹ

Rộn ràng từ thành phố đến các thôn bản, càng gần đến ngày đông chí (22/12) khúc nhạc lời ca càng rộn vang; những điệu dân ca dân vũ càng sôi nổi rộn ràng. Bà con Thủ đô xanh, Thủ đô Khu Giải phóng, Thủ đô gió ngàn kéo về nhà văn hóa các thôn bản tổ chức mít tinh kỷ niệm, ôn lại truyền thống vẻ vang 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của quân đội ta, anh Bộ đội Cụ Hồ, kỷ niệm ngày thành lập lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024), kỷ niệm 35 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024), 35 năm ngày thành lập Cựu chiến binh Việt Nam (6/12/1989 - 6/12/2024). Dạt dào niềm vui từ ký ức, tôi bị cuốn theo đoàn cựu chiến binh trên Thủ đô Kháng chiến, trên ngực lấp lánh những tấm huân chương, nườm nượp theo đường cao tốc đổ về Ba Đình, Hà Nội, về viếng thăm Lăng Bác Hồ.
Ba Đình đây, trời xanh cao lồng lộng. Giữa trời, cây cột cờ sừng sững, cao ngút. Lá cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay giữa trái tim Tổ quốc, trái tim toàn dân tộc. Dải mây hồng bồng bềnh bay qua trên lăng. Nhìn lá Quốc kỳ tung bay trước lăng, lại nhớ lá cờ lần đầu tiên già trẻ, gái trai trên chiến khu xưa từng nghẹn ngào, ngất ngây đứng nhìn khi lá cờ tung bay trước mái đình làng Tân Lập sáng ngày 17/8/1945, nơi diễn ra Quốc dân Đại hội, mà lịch sử ghi nhận như một Hội nghị Diên Hồng. Hôm ấy, Ông Cụ đứng lặng hồi lâu, ngước nhìn lá cờ không chớp, thay mặt Đoàn Chủ tịch Ủy ban dân tộc Cứu quốc vừa được Đại hội bầu ra, đọc lời tuyên thệ với non sông, đất nước, với toàn dân tộc. Lá cờ lại phấp phới tung bay trong buổi Lễ xuất phát của Đoàn quân Nam tiến về giải phóng Thủ đô theo Lệnh Tổng khởi nghĩa. Đứng dưới quốc kỳ, trước thềm Lăng, nhìn ra quảng trường, một thảm cỏ xanh mênh mông, màu xanh lịch sử nước Nam, ghép từ những ô vuông lại ngỡ mình đang đứng dưới gốc đa Tân Trào, nhìn ra cánh đồng làng Kim Long, nơi đã từng làm ra những hạt thóc nuôi đoàn thể cách mạng, cung cấp cho Trung ương hồi tiền khởi nghĩa. Hạt thóc ấy có mồ hôi từ bàn tay Ông Ké be bờ giữ nước.
Tôi bị cuốn theo đoàn người từ khắp mọi miền, đủ các màu áo, đủ các màu da lặng lẽ vào trong Lăng. Ông Cụ nằm đây, trong Lăng, bây giờ, Ông Cụ là của toàn dân tộc, của nhân dân yêu hòa bình trên toàn thế giới, là thần tượng tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, thần tượng đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức bóc lột, không còn là Thượng cấp, Đồng chí già, Ông Ké áo chàm ngày xưa trên chiến khu, Ông Cụ của làng Kim Long nữa. Tôi khát khao được gặp lại ánh mắt long lanh trong sáng hơn người. Ông Cụ nằm đây, lịch sử đã cho Người nghỉ ngơi sau những chặng đường, sau những tháng năm Người bôn ba đi tìm Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về sáp nhập các tổ chức cộng sản ở Đông Dương thành Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ, cùng Trung ương Đảng lo xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng giành chính quyền, lập chiến khu, mở rộng vùng giải phóng, chuẩn bị thời cơ, chớp thời cơ khởi nghĩa, giành độc lập cho dân tộc; vạch đường lãnh đạo hai cuộc kháng chiến, thống nhất non sông, lo cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; nhân dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người nằm đây, trẻ già gái trai từ khắp mọi miền vẫn nườm nượp trở về báo công dâng lên Người. Đất nước hôm nay đã hoàn toàn giải phóng. Nam Bắc đã một nhà. Thắng giặc ngoại xâm, nhân dân cả nước đang xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!
Ông Cụ nằm đây, tinh thần của Người còn vọng khắp non sông: Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đồng bào miền Nam có máu là máu Việt Nam, có thịt là thịt Việt Nam; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi! Độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội! Tư tưởng của Cụ về đạo đức cách mạng trong sáng: Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư là đuốc sáng soi đường cho muôn thế hệ người Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay, thực hiện Di chúc của Người, kiên trì “Giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình!”.
Bà con chiến khu năm xưa in trong tim mình hình ảnh vị Lãnh tụ kính yêu bằng cái tên giản dị lạ thường: Ông Cụ, ông Ké, Đồng chí già..., với những hình ảnh còn giản dị hơn thế: Khi Ông Cụ ra giúp anh nuôi kiếm củi, nhặt rau, tăng gia sản xuất; đêm Ông Cụ đi quén chăn cho bộ đội; sáng sớm lại đánh thức bộ đội dậy đi tập. Khi Ông Cụ cời than, bẻ củ sắn nướng chia cho trẻ con, vừa ăn sắn nướng, vừa kể chuyện Quốc tế, kể những chuyện lạ có thật ở nước Nga cho các ông ké và bọn trẻ cùng nghe. Đêm, Ông Cụ ngồi trầm ngâm đốt lửa cho bộ đội nằm. Nhìn bếp lửa lại nhớ đoàn dân công đêm ngủ ngoài rừng, bẻ lá cây làm chiếu, manh áo mỏng làm chăn. Người nằm đây, bóng Người cưỡi ngựa trên đường suối reo, đi kiểm tra mặt trận, chỉ huy các trận đánh quan trọng. Khi thì, thảo Chỉ thị khởi nghĩa vũ trang giành Chính quyền, củng cố và mở rộng vùng giải phóng, xây dựng chiến khu, lo chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, quốc phòng trên Thủ đô Kháng chiến..., chờ thời cơ, chớp thời cơ tổng khởi nghĩa. Cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, tiếp tục vạch đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thu non sông về một mối. Căn lán Nà Nưa còn nhớ những ngày mùa Thu tháng Tám năm xưa, Ông Ké bị những cơn sốt rét rừng ác tính vắt cho kiệt sức, vẫn ngày đêm lo chớp thời cơ, chỉ đạo tổng khởi nghĩa; vẫn lom khom be bờ giữ nước cho dân, vận động đoàn thể giúp đỡ dân làng làm cỏ, bắt sâu, gặt lúa. Những ngày trên lán Nà Nưa, dòng suối Khuôn Pén chảy từ chân núi Khao Nhì lượn cung trước đình Quốc dân đại hội về tưới cho đồng làng Kim Long, ngày ngày tắm mát cho Ông Cụ. Hòa bình lập lại, tháng Ba năm 1961, Ông Cụ trở về Tân Trào, không quên tắm lại một lần ở bến cũ, dưới dòng Khuôn Pén, hít đầy lồng ngực gió núi Nà Nưa đem về xuôi.
Chín mươi ngày đêm Ông Cụ về ở làng Kim Long, xã Tân Trào là chín mươi ngày đêm trở dạ của cách mạng Việt Nam, khai sinh nền dân chủ, cộng hòa ở Đông Nam châu á, lập nên mốc son chói lọi, thay đổi lịch sử nước Nam.
Nhớ ngày 27/4/1945, Ông Cụ vừa đi gặp đại diện Đồng minh bên đất Trung Quốc về, nghe tin châu Sơn Dương đã được giải phóng, ba ngày sau, ngày 1/5/1945, Người lập tức chỉ đạo rời Pác Bó về Sơn Dương, trao đổi với đồng chí Võ Nguyên Giáp chọn một nơi ở Bắc Kạn, Thái Nguyên, hay Tuyên Quang làm trung tâm chỉ đạo cách mạng. Đồng chí Võ Nguyên Giáp tìm gặp đồng chí Song Hào, người vừa vượt ngục nhà tù Chợ Chu ra lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Sơn Dương. Hai ông đề xuất chọn Tân Trào làm căn cứ địa cách mạng.
Ngay ngày hôm sau, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Song Hào cùng một số cán bộ cơ sở cách mạng liên khu đón tiếp Ông Cụ về đình Hồng Thái. Vừa đặt chân đến Sơn Dương, Ông Cụ chỉ đạo củng cố, mở rộng vùng giải phóng, thống nhất các lực lượng vũ trang ba miền, chuẩn bị đón thời cơ, chớp thời cơ giành chính quyền! Ngày 4/6/1945, Người chỉ đạo Hội nghị cán bộ toàn khu, ra nghị quyết: “Khu Giải phóng phải trở thành một căn cứ địa vững chắc về mọi mặt: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa..., làm bàn đạp Nam tiến, giải phóng toàn quốc!”. Hội nghị thống nhất chọn Tân Trào là Thủ đô Khu Giải phóng.
Để chuẩn bị cho ngày khai sinh nền dân chủ, cộng hòa nước Việt Nam độc lập, đại biểu khắp nơi trên cả nước được triệu tập về làng Kim Long, tham dự hai Hội nghị lịch sử đối với giai đoạn cách mạng giành chính quyền, đó là Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ mười ba và Hội nghị Quốc dân đại hội, cùng tổ chức tại đình Tân Lập, làng Kim Long.
Trong lúc các đại biểu từ miền Nam, từ khắp nơi trên cả nước đang kịp có mặt về làng Kim Long dự họp, cũng là những ngày sức khỏe của Người lâm nguy. Những cơn sốt ác tính triền miên tưởng chừng muốn cướp đi khối óc anh minh tinh tường của dân tộc, của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nhân dân làng Kim Long hồi hộp, lo lắng cho sức khỏe của Ông Cụ, bảo nhau lên rừng hái thuốc, đem về sắc cho Ông Cụ uống. Có phải, Ông Cụ trăn trở thức cho dân tộc, nên đã phải sốt cơn sốt thân nô lệ bị mất nước, hay đó là cơn đau trở dạ của cách mạng Việt Nam, đêm trước của nền dân chủ cộng hòa. Bà con làng Kim Long quên sao được, một đêm cơn sốt lên cao, Ông Cụ cho gọi đồng chí Võ Nguyên Giáp đến để dặn: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã đến, dù phải hi sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng kiên quyết giành cho được độc lập!”. Ai biết, chính những ngày sức khỏe lâm nguy ấy, Người đã đọc Bản Tuyên ngôn độc lập của Oa-sinh-tơn năm 1776, để viết nên Bản Tuyên ngôn độc lập của nước nhà, tờ khai sinh của nền dân chủ cộng hòa, của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á!
Khi bệnh vừa cắt cơn, ngày 12/8/1945, nhận được tin quân đội Nhật Bản bắt đầu tan rã; ngày 13/8 Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh; quân đội Nhật ở các nơi hạ vũ khí, ngừng đánh nhau, Người lập tức chỉ đạo Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu Giải phóng hạ mệnh lệnh khởi nghĩa, lúc ấy là 23 giờ, đêm 13/8/1945. Trong những ngày 13, 14, 15 tháng Tám, Hội nghị Trung ương toàn quốc họp tại đình Tân Lập đã nhận định: “Cơ hội rất tốt để ta giành quyền độc lập đã đến!”, phải khẩn trương giành Chính quyền ở các nơi, giành độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc! Ông Cụ chỉ đạo, ban hành chính sách của Việt minh; định hướng đường lối đối ngoại với Đồng minh; thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước thành Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Tình hình thế giới diễn ra hết sức mau lẹ. Ngày 15/8/1945, Nhật Hoàng lệnh cho quân đội Nhật đầu hàng, Ông Cụ quên hết bệnh tình, lập tức chỉ đạo lập ra Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, lập Bộ Tư lệnh Giải phóng quân Việt Nam, yêu cầu một số đại biểu dừng họp, về lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở các nơi. Sáng 16/8/1945, Đoàn quân Nam tiến làm lễ xuất phát tại Gốc Đa Tân Trào, về giải phóng Thủ đô Hà Nội. Cùng ngày, Quốc dân Đại hội đã khai mạc, bầu mười đại biểu tham gia Đoàn Chủ tịch toàn quốc. Ngay sáng hôm sau, ngày 17/8/1945, Bác ra mắt Quốc dân, lần đầu tiên với tên gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người thay mặt Đoàn Chủ tịch đứng uy nghiêm sau phiến đá trước sân Đình đọc lời tuyên thệ với non sông đất nước, với toàn dân tộc. Ngày 17/8, thị xã Tuyên Quang đã hoàn toàn giải phóng; ngày 19/8, nhân dân làng Kim Long rạo rực nghe tin, Cách mạng thành công! Tin vui độc lập vừa bay tới Thủ đô Gió ngàn, thì ngày 22/8, bà con làng Kim Long đã phải lưu luyến tiễn Ông Cụ, cùng các đoàn thể ở Trung ương về Thủ đô Hà Nội tổ chức Quốc khánh, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chín mươi ngày đêm, khoảnh khắc đời người, cách mạng đã làm nên điều trọng đại!
Hôm nay, Ông Cụ nằm đây, nhưng bóng hình Người còn đi khắp bốn biển cám ơn bè bạn năm châu đã hết lòng giúp đỡ nhân dân ta kháng chiến thành công, đánh thắng hai Đế quốc, là Pháp và Mỹ. Ông Cụ vui đùa, cho các cháu thiếu nhi Quốc tế quàng những chiếc khăn quàng đỏ, khăn quàng xanh. Người cầm tay múa, chia kẹo cho nhi đồng, bế cháu nhỏ. Có đứa ngây thơ vuốt chòm râu bạc, hôn lên má Bác. Bao nhiêu người hằng mong “... Được ôm hôn má Bác, được ôm hôn mái đầu tóc bạc, hôn chòm râu mát rượi hòa bình!”.
Bà con An toàn khu, Thủ đô Khu Giải phóng nhớ ơn Ông Cụ, biết ơn đoàn thể nhiều lắm. Nhờ Ông Cụ, nhờ đoàn thể mà An toàn khu được chọn làm Thủ đô Khu Giải phóng, trái tim của cuộc kháng chiến. Ông Cụ về, tin tức thời sự toàn thế giới cũng về. Hồng quân Liên Xô, cùng quân đội Đồng minh đánh vào xào huyệt
Hit-le, Nhật Hoàng lệnh cho quân đội phát xít Nhật hạ vũ khí đầu hàng, là bà con An toàn khu đã biết. Ai cũng tin rằng, Ông Cụ về, đoàn thể về, thanh niên tuấn tú cả nước chảy hội lên chiến khu đầu quân giết giặc, việc lớn nhất định sẽ thành công! Ông Cụ về, đoàn thể về, cái chữ cũng về với dân bản. Bà con bảo nhau định canh định cư, cấy lúa nước. Ngày xưa, dân bản chỉ có đêm, không có ngày, nộp sưu cao thuế nặng. Từ ngày hai làng Kim Long, Thanh La được giải phóng, Ông Cụ về, đoàn thể về, dân ta có cả ngày lẫn đêm, có Chính quyền Nhân dân lo mọi sự cho dân. Cán bộ Đoàn thể dạy học chữ, học cầm súng tây đánh giặc Tây. Hàng chục trai tráng ưu tú đã tình nguyện đầu quân đi bộ đội đánh Pháp, đánh Mỹ, bảo vệ biên cương, với tinh thần và ý trí Chiến khu cách mạng, chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công. Có một điều kỳ lạ, chiến tranh kết thúc, tất cả trai làng đều an toàn trở về với mái Đình Hồng Thái, mái Đình làng Kim Long, với cây đa Tân Trào. Đám trẻ An toàn khu hôm nay không còn đói rét như ngày nào. Đứa nào cũng được ăn no, ăn ngon, mặc ấm, mặc đẹp, được đi học, đi làm cán bộ. Đường làng rải nhựa asphalt rộng thênh thang. Làng nào cũng có mái trường xinh xắn. An toàn khu có bệnh viện khang trang. Điện quốc gia, mạng thông tin phủ sóng khắp các bản làng. Giờ đây, không chỉ cánh đồng làng Kim Long cạn kiệt vắt đất ra hạt thóc nuôi nhau. Thành phần kinh tế đa dạng, cơ cấu kinh tế thay đổi. Thực hiện chủ chương của tỉnh, mỗi làng một sản phẩm Ocop, hạt gạo nếp đặc sản La Khai, Tâm trà Vĩnh Tân, trà xanh Trung Long, trà Hữu cơ Trung Yên, Ngọc Thúy, tất cả đều từ ruộng, từ rừng, từ ao hồ mặt nước, từ máy móc công nghiệp làm ra. Tự hào truyền thống quê hương cách mạng, nghe lời Ông Cụ căn dặn trước lúc đi xa, bà con trên thủ đô xanh đang xây dựng quê hương ngày một đàng hoàng, tươi đẹp hơn!
Dòng người vòng sang ngôi nhà sàn. Ngôi nhà của Ông Cụ ở Ba Đình dựng dưới bóng cây, dây leo cổ thụ, phía trước có hồ cá, như bức tranh thủy mạc, giống quang cảnh ở lán Nà Nưa, rừng bốn mùa xanh phủ. Phía trước có hồ nước, có đất trồng rau, có cầu câu cá. Bà con làng Kim Long về Hà Nội, nhìn cái nhà sàn thì bảo, nhà ấy Ông Cụ cho lấy mẫu từ lán Nà Nưa ở làng Kim Long mình đấy! Nghe bà con nói, thì thấy có lý. Năm 1941, Ông Cụ về Cao Bằng lãnh đạo cách mạng, bên ấy Người ở trong hang Pác Bó thôi. Nói thế thì ai chả tin. Quả thực, cảnh và vật ở hai nơi, lán Nà Nưa trên lưng núi Hồng và ngôi nhà sàn của Ông Cụ ở Ba Đình giống nhau lắm, rất thủy mạc!
Mỗi lần tạm biệt ngôi nhà sàn, tôi bâng khuâng. Ký ức về Ông Ké áo chàm, về Đoàn thể, về tình cảm không thể nào phai của đồng bào Thủ đô Gió ngàn với Ông Cụ lại dào dạt tràn về. Ước gì ngày nào tôi cũng được về đây đứng canh giấc ngủ cho Người. Ông Cụ nằm đây, hào quang vẫn tỏa sáng. Bỗng vọng về giọng hát trên loa: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên Lăng, thấy một mặt trời trong Lăng rất đỏ; ...Bác nằm trong Lăng giấc ngủ bình yên; giữa một vầng trăng sáng trong dịu hiền”.
Tháng 12/2024
Đ.A.M
Minh họa của Lương Hiện

.jpg)






