Gió đồng thổi mãi

Thứ sáu, ngày 24-01-2025, 08:24| 1.910 lượt xem

Truyện ngắn của Dương Đình Lộc

 

 

Càng sát Tết trời lại càng rét, những cơn gió mùa buốt giá từ phương Bắc tràn xuống thổi ù ù qua làng tôi, cái làng nghèo bình dị bên con sông Yên thơ mộng. Và sương muối, cứ sáng sáng là phủ kín khắp các cánh đồng lãng đãng mờ ảo như một nồi cháo loãng bốc hơi nghi ngút. Căn nhà ngói năm gian nơi gia đình tôi ở, gồm thầy u tôi và các anh chị tôi lúc nào cũng âm ẩm mùi củi ướt cháy, mùi rơm rạ và cả mùi phân trâu, phân bò bốc hơi thum thủm. Không sáng nào tôi dậy sớm là không thấy u tôi ngồi đun cám bên bếp lửa rồi, vần một siêu nước nóng ở cạnh đấy cho tôi rửa mặt.

- U dậy sớm nhỉ?

Tôi thường bẽn lẽn hỏi lấy lệ như vậy, mỗi khi bước chân vào gian bếp ấm cúng củi lửa, mà thừa biết dậy sớm là một thói quen cố hữu của u tôi, không bao giờ bỏ được. Tôi, đứa con trai mười ba tuổi út ít trong nhà, nên được cưng chiều hơn tất cả, và vì thế, những ngày sát Tết, cả nhà ai ai cũng bận rộn, tất bật sửa sang mọi việc, chỉ có tôi là loanh quanh hết người nọ tới người kia, để hồi hộp xem lúc thì chị tôi lau dọn ban thờ, khi thì anh tôi chặt những bụi cây rậm rạp quanh nhà, khi thì cha tôi mài con dao thật sắc để chuẩn bị mổ lợn, người mà tôi hay ở bên cạnh nhất chính là mẹ tôi.

- Bao giờ thì tới nhà bác Chính lấy quần áo mới, u nhỉ?

Tôi đã hỏi câu ấy biết bao lần suốt từ Tết ông Công ông Táo tới giờ và lần này, ấy là khi sáng nay tôi theo u tôi ra vườn cắt những quả bưởi đỏ, để mai đem tới phiên chợ huyện cuối năm bán.

- Bác Chính hẹn hăm chín Tết đến lấy, con ạ.

U tôi mỉm cười nhìn hai cái núm đồng tiền trên má tôi, làm tôi cũng mỉm cười theo:

- Thì hôm nay là hăm bảy rồi u nhỉ? Chỉ ngày kia là có quần áo mới.

Tôi hào hứng nói rồi giúp u tôi cho những quả bưởi đỏ au vào hai cái thúng. Bác Chính là thợ may… cừ khôi nhất của làng tôi mà bọn trẻ con trong làng, mỗi độ Tết đến Xuân về lại háo hức được bố mẹ dắt tới để may cho mỗi đứa một bộ quần áo mới, và đứa nào nhà khá giả thì có khi được may những hai bộ. Nhà tôi không giàu cũng chẳng nghèo, nên thường thường tôi được mẹ tôi may cho một bộ. Vải quần, vải áo treo la liệt khắp cửa hàng bác Chính, ưng ý màu nào thì chỉ vào màu ấy. Năm nay, tôi chọn may quần âu màu tím than và một chiếc áo sơ mi trắng kẻ xanh cho ra vẻ người lớn, hẳn là đẹp lắm, tôi thầm phấn khích trong lòng vừa khi nghe thấy tiếng thầy tôi gọi:

- Cu Phú đâu rồi, lên thầy nhờ đây.

- Dạ.

Tôi dạ một tiếng thật to rồi chạy ù vào nhà. Thì ra thầy tôi nhờ tôi ngắm hộ xem chỗ treo tranh Đông Hồ đã cân đối chưa, để thầy tôi còn chỉnh lại, tôi mỉm cười nhìn cậu bé ôm con gà trống thật to trong bức tranh dân dã mà thầm nghĩ sao cậu ta lại béo tốt thế, đầu để trái đào nữa. Bên kia là bức chú bé ngồi trâu thổi sáo che đầu bằng một chiếc lá sen trông thật tươi vui ngộ nghĩnh. Thầy tôi là người có tính tình rất nghiêm khắc nên tôi không hay thân mật chuyện trò, nhưng hôm nay có một cái gì háo hức quá nên tôi nhanh nhảu hỏi khi thầy tôi đã ngồi xuống tràng kỷ chuẩn bị pha trà.

- Chiều nay nhà mình mổ lợn hả thầy?

- Ừ, con…

Thầy tôi thong thả trả lời, vẻ nghiêm nghị thường thấy như biến đi đâu hết, và hình như cái roi tre treo trên vách cạnh hai bức tranh vừa treo thầy tôi đã cất đi đâu rồi thì phải. Tôi mỉm cười nhớ tới những trận đòn mỗi khi học kém nhất là môn toán, tôi rón rén ngồi đối diện với thầy tôi, cảm tưởng như mình đã lớn lắm rồi.

- Và chiều nay các bác… văn chương có tới không ạ?

- Có chứ, thầy mời rồi.

Tim tôi đập thình thịch vì phấn khích, các bác văn chương ở đây là những nhà văn, nhà thơ bạn của thầy, và cho dù thầy tôi chỉ là một ông phó mộc chuyên đóng, giường tủ, bàn ghế, nhưng đặc biệt lại rất thích thơ ca, nên vẫn thường kết giao rất chí tình với các bác đó, thi thoảng vào những dịp lễ Tết vui vẻ, vẫn thường mời họ tới nhà trân trọng đãi cơm rồi cùng đàm đạo thế sự cuộc đời.

- Thầy còn sai bảo gì nữa không ạ?

Tôi lễ phép với ánh mắt lấp lánh, làm thầy tôi đang mở hộp chè phải ngừng lại, mở to hai con mắt ngạc nhiên nhìn tôi, rồi cũng âu yếm:

- Không con. Con ra giúp chị việc gì đi.

- Vâng.

Tôi vui vẻ chạy ngay ra sân bếp ngồi xuống bên chị tôi xem bóc hành để muối, thứ hành củ ăn đến cay cả mắt mà dịp Tết gần như nhà nào ở làng tôi cũng phải muối lấy một vại. Khoai tây, cà rốt, miến, măng... để khắp trên thềm bếp, thấy cả một bó lá dong rõ to nữa.

- Sang năm, qua Tết chị sẽ lấy chồng hả chị Vân?

Tôi nhí nhảnh hỏi chị tôi, ấy là khi tôi đã biết chuyện này từ khá lâu, từ khi chị Vân tôi yêu anh bộ đội ở làng bên gần hai năm nay. Chị làm công nhân nhà máy may ở khu công nghiệp trên huyện, năm nay đã hăm hai tuổi rồi.

- Mày chỉ được hỏi chuyện vớ vẩn thôi.

Chị Vân bỏ con dao gọt hành xuống, đỏ mặt cốc nhẹ vào đầu tôi, cái đầu đang đội mũ len để kín gió nên tôi chẳng thấy đau, tôi mở to mắt kêu lên:

- Thì em nghe thầy u bảo thế, tầm tháng Hai âm lịch là nhà anh Phong sang dạm ngõ.

- Ừ…

Chị Vân rụt rè, nhưng cũng không thể giấu được những niềm vui hạnh phúc lớn lao trong ánh mắt của chị, khuôn mặt chị hồng hào trong gió rét, môi đỏ tươi vì ăn trầu.

- Chốc nữa cu Phú nhẹ người, trèo cau hái cho chị một buồng nhỏ để chị mang tới dâng sư cô ở chùa, vài hôm nữa cúng giao thừa nhé.

- Vâng chị, nhưng xin chị và mọi người đừng gọi em là… cu nữa, em đã mười ba tuổi rồi đấy.

Tôi cáu kỉnh trả lời vẻ không hài lòng, rồi ngước lên nhìn hàng cây cau cao ngất ngưởng trước sân nhà, chỗ mấy giàn trầu um tùm cỏ. Chết thật, mấy hôm nay mải chơi quá chưa làm cỏ trầu. Tôi hốt hoảng thầm nghĩ, đó là công việc anh tôi đã giao cho tôi trong mấy ngày sát Tết, chỉ việc ngồi xuống nhổ cho bằng sạch các đám cỏ quanh đó có nặng nhọc gì đâu mà tôi lại không chịu làm thật là đáng trách.

Anh tôi dắt trâu đi giữa cánh đồng hoang hoải mùi cỏ cháy, nhà ai đốt khói bốc lên bị gió tạt bay toán loạn ra sông.

- Anh Bình ơi…

Tôi cất tiếng gọi từ phía cánh đồng bên kia.

- Không ở nhà nhổ cỏ trầu, ra đây làm gì? Gió lạnh lắm.

Anh Bình tôi trả lời bằng giọng nói thật to, con trâu mộng đi sau anh lúc lắc cái đầu có hai con mắt to như ốc nhồi nhìn chết khiếp.

- Để mai em nhổ… Chiều nay nhà mình mổ lợn để tối gói bánh chưng đấy anh Bình ạ. Thầy bảo thế, con lợn u nuôi gần một năm nay.

Tôi hổn hển chạy đến đem theo biết bao nhiêu là khói. Gió sông cuốn lấy chúng tôi, cuốn lấy cả những mảnh lụa nhà ai mới dệt đang bay phất phơ như đánh trận giả. Chúng tôi đi bên sông giữa bạt ngàn hoa cải vàng rực, anh Bình đi gửi trâu ở làng bên theo phong tục đã có từ ngàn đời của làng tôi, đó là cứ mỗi độ Tết đến nhà nào có trâu hay bò gì thì cũng phải đi gửi ở làng khác, nó xuất phát từ cái tích trâu… ị ngày mùng Một Tết mà thầy tôi vẫn thường kể. Số là làng tôi xưa kia tuy không khoa bảng nhưng cũng có nhiều người tài, một năm kia, không biết đời vua Lê hay Mạc, có chàng nho sinh đỗ tiến sĩ ở kinh đô vinh quy về làng đúng vào dịp Tết. Làng mở hội đón rước long trọng lắm, mùng Một Tết thì kiệu võng quan Nghè về tới đầu làng, thì bất ngờ, chả biết nhà ai buộc mấy con trâu ở búi tre chúng ị mấy bãi to tổ chảng, quan Nghè có vẻ không vui, các cụ tiên chỉ trong làng cho chuyện đó là điểm gở, nên kể từ đấy làng có cái lệ gửi trâu ở làng khác mỗi độ Xuân về.

- Mấy năm nữa lên Hà Nội học, cố đỗ đạt như quan Nghè ngày xưa nhé.

Anh Bình tôi mỉm cười nhìn tôi nói vẻ chọc ghẹo, khi đã dong con trâu xuống thuyền để sang bờ bên kia.

- Em chẳng lên Hà Nội học đâu, em ở nhà với u cơ…

Tôi mau mắn trả lời rồi định bước xuống thuyền nhưng anh Bình đã nghiêm giọng:

- Gió sông lạnh lắm, về nhà ngay đi.

- Cho em đi sang làng Ngọc với…

Tôi nói giọng năn nỉ, nhưng anh Bình tôi nhất quyết không cho. Ông lái đò tủm tỉm nhìn vẻ mặt thất thần của tôi, rồi nhổ sào cho con thuyền từ từ rời bờ. Làng Ngọc bên kia sông, nơi trai tráng làng tôi thường gửi trâu ở đấy, tôi tần ngần nhìn theo dáng anh Bình và con đò nhỏ, cái dáng người cao lớn không biết rét là gì, cần cù chịu khó nhất làng mà vẫn bị… ế vợ. Không phải đâu, là vì anh muốn khi nào nhà tôi xây được căn nhà kiên cố anh mới lấy vợ, nên anh chăm làm lắm, hết hai vụ lúa của mấy mẫu ruộng anh lại trồng màu rau khoai, rồi trồng cả dưa hấu cho năng suất cao mà trên huyện người ta phân phối cây giống, có khi chỉ vài năm nữa là gia đình tôi xây được nhà, tôi nghe phong phanh anh Bình tôi bàn với thầy tôi như vậy, ấy là khi đó anh cũng đã hai sáu hai bẩy tuổi rồi.

Tôi thơ thẩn đi bên sông giữa màu hoa cải vàng rực, nghe tiếng trống nhạc lưu thủy vang vọng từ phía đình làng làm lũ chim én trên không trung rối rít chao lượn như sắp có hội, hẳn đội tế của làng đang tập để chuẩn bị cho ngày lễ dựng cây nêu sắp tới. Gió thổi sàn sạt xuống mặt sông làm lá tre đôi bờ bay lả tả. Chẳng lẽ cứ lấy vợ thì phải xây nhà hay sao? Tôi bồi hồi thầm nghĩ, với tôi không nhất thiết phải thế, bởi tôi yêu ngôi nhà ngói năm gian của gia đình tôi lắm, yêu cả mấy cây hoa xoan đầu ngõ, yêu khoảng sân phơi thóc phơi ngô. Nếu phải xây nhà để lấy vợ thì anh Bình sẽ phải làm việc rất vất vả, đó là điều tôi không hề muốn một tí nào. Phải gần tiếng sau thì mới thấy con thuyền chở anh Bình quay lại. Anh cõng tôi trên lưng vui vẻ băng qua cánh đồng trở về nhà, bùn lấm lem đôi chân khỏe mạnh cứng như lim của anh, tôi nhong nhong trên lưng anh, còn ngửi thấy mùi phân trâu lẫn với mùi mồ hôi phảng phất từ người anh, tôi cố hít lấy và thấy đôi mắt mình ươn ướt.   

Chùa làng nằm ở giữa làng bên một cái giếng cổ nước trong thấy đáy, nơi các bà, các cô, các chị trong làng vẫn thường đem lá dong, gạo nếp, đỗ xanh ra đó vo rửa mỗi dịp nhằm những ngày cuối tháng Chạp. Chiều nay tôi theo u tôi ra đấy, u tôi vai vác bó lá dong, còn tôi thì khệ nệ bê cái chậu đồng đi theo thi thoảng lại loạng choạng như muốn ngã làm các bà các cô cười như nắc nẻ. Mùi hương trầm thoang thoảng từ trong chính điện bay ra làm mũi tôi hấp háy, cả mùi hoa bưởi nữa bủa vây khắp thôn xóm đậm đặc một thứ mùi dân dã mà với tôi nó lại thanh cao biết nhường nào. Tối ấy nhà tôi gói bánh chưng trong gian bếp ấm cúng củi lửa, ngoài trời mưa phùn rơi rả rích trên mái ngói, rỏ xuống từng giọt dài xuống mấy cái chum đựng nước. Anh Bình đã có hẳn một đống củi tướng để luộc bánh, đống củi anh chuẩn bị sẵn từ mùa thu khi chặt những cành vải, nhãn, na, mít đã bị khô ở các cây quanh nhà. Tôi ngồi cạnh anh thấy ấm áp vô cùng, thi thoảng lại bật dậy chạy lên nhà rón rén tới bên phản gỗ, nơi ấy, thầy tôi đang ân cần rót trà mời các bạn tâm giao, một vài bác ngẫu hứng đọc một bài thơ Xuân, đặng chờ đến mùng Một Tết sẽ là khai bút, làm tôi mở to mắt tràn đầy ngưỡng mộ, rồi tôi lại hối hả chạy xuống bếp xem u tôi gói giò thủ, rồi lại sà vào lòng anh tôi mũi phập phồng nhìn nồi bánh chưng lửa than đỏ rực. Chị Vân rón rén tiến đến áp vào má tôi một củ khoai nướng thơm phức làm tôi thích quá, ngoài sân mưa vẫn rơi rả rích, u tôi mang tới choàng lên vai anh Bình một chiếc chăn dày cồm cộp, đêm nay anh và tôi sẽ canh bánh chưng, nhưng chỉ khi ăn xong mấy củ khoai nướng no căng bụng, tôi đã ngủ thiếp đi từ lúc nào không biết.

Tôi hối hả đi theo u lên đê, tay tôi cầm hai chiếc ghế gỗ nhỏ mà thầy tôi đã đóng riêng cho hai người để ngồi bán hàng cho đỡ mỏi chân, còn u tôi gánh hai thúng bưởi đỏ trĩu trịt trên vai. Con đê dài hun hút trông như một con trăn khổng lồ bò ngoằn ngoèo trong sương sớm, người đi chợ lác đác hiện dần ra trong hơi nước mù mịt, ai cũng cười nói rôm rả chào hỏi nhau, người thì gánh lụa, người thì gánh gà, anh thì vác chuối, chị thì bưng cam..., tất cả nhanh chân tới chợ huyện của phiên chợ cuối cùng trong năm đông không thể tả. Lúc tới chợ thì sương tan, nắng bắt đầu lên sau một chuỗi ngày mưa rét, tôi mải mê đi chơi chợ sau khi đã được u tôi cho một số tiền nho nhỏ để ăn quà. Tôi la cà chen lấn hết ở hàng tranh cho đến hàng chiếu, hàng gạo nếp, hàng sành sứ xem người ta tranh nhau bán mua, rồi tôi vui mừng khôn xiết gặp mấy cậu bạn cùng làng cũng theo mẹ đi chợ, chúng tôi chạy ù ngay tới chỗ mấy hàng bánh đúc, rồi hàng bánh đa nướng, hàng tò he, cuối cùng chúng tôi ba chân bốn cẳng đến chỗ mấy ông đồ viết chữ Nho, ngồi luôn xuống chiếu, chăm chú xem các ông nắn nót từng chữ NHẪN, LỘC, ĐỨC, PHÚ lòng đầy cảm phục trầm trồ trước những nét bút như rồng bay phượng múa. U tôi bán hết bưởi đỏ rất chóng vì ngày Tết nhà nào cũng muốn bày thứ quả ấy trên ban thờ, sau khi đã đếm số tiền bán được, u tôi mua một đôi gà sống thiến, một cành đào phai, một chậu hoa thược dược, còn thừa đâu u mua cho tôi một đôi giày mới.

Tôi mang đôi giày mới vào chân, đi khắp làng như muốn khoe với chúng bạn, làm như tất cả phải trầm trồ thán phục nhưng chẳng có đứa nào chúc mừng ra mặt vì hầu hết đứa nào cũng có giày mới. Vì tôi biết sau bữa cơm trưa thể nào anh Bình cũng đi ra sông xem ở chỗ mấy bè vó có được con cá to nào không, để còn kho với chuối xanh ăn trong mấy ngày Tết cho đỡ ngán bánh chưng thịt mỡ. Tôi đi luôn ra cánh đồng, con sông xa xa trước mắt lấp lánh trong nắng ấm, gió Đông Phong mang theo hơi ấm từ Biển Đông cách làng tôi hàng trăm ki-lô-mét thổi về làm bạt ngàn những khóm chuối ngả nghiêng như muốn đổ. Cánh đồng như trải dài vô tận đến đường chân trời đã không còn xám xịt, ánh lên ở đấy một màu xanh như nõn chuối, nhà ai đốt rạ khô khói um lên từng đống làm tôi cay cả mắt. Những ngôi mộ mới cũ khói hương nghi ngút nằm rải rác trên con đường nhỏ tôi đi, chân mang đôi giày mới băng băng qua bao miền ký ức của tuổi thơ, cái thuở lên năm lên sáu đội khăn trắng đưa ông rồi bà nội tôi ra đây yên ngủ mãi mãi. Kia rồi, hai ngôi mộ ông bà nội tôi rất dễ nhận biết vì năm ngoái thầy tôi đã xây mới bằng gạch vữa với các bông hoa sen cách điệu rất đẹp, tôi lẳng lặng tiến đến như muốn khoe đôi giày mới với ông bà nội tôi, tự nhiên mắt tôi nhòe ướt, tôi cúi xuống lấy tay nhổ những đám cỏ dại quanh mộ, bỗng gió từ đâu thổi mạnh quá, hun hút qua mái một ngôi miếu cổ.

- Anh Bình ơi… Tôi ngẩng lên, run run cất tiếng gọi to rồi chạy ngay ra phía bờ sông chỗ mấy bè vó thấp thoáng bóng người anh trai cao lớn, gió Xuân đuổi theo sau lưng tôi kéo theo cả những đám tiền vàng mã nhà ai đốt còn chưa cháy hết, những tờ tiền âm phủ cuốn lấy chân tôi, cả mùi khói rạ, mùi nhang thơm ngào ngạt.

- Cu Phú đấy à? Anh mới cất được một con trắm rất to đây này…

Anh Bình vừa trông thấy tôi đã hét toáng lên rồi bật cười ha hả giọng khỏe khoắn vang vọng cả một khúc sông.

- Không nhất thiết phải xây nhà rồi mới lấy vợ đâu anh Bình. Em chỉ thích ngôi nhà ngói của gia đình mình thôi.

Tôi hét lên, òa khóc rồi chạy ngay về nhà, mặc cho anh Bình ngơ ngác nhìn theo với con cá trên tay. Xa xa, in lên nền trời là mái chùa cổ kính, dưới dòng sông hiền hòa, từng chiếc thuyền chở đầy hoa cúc đang hối hả ngược xuôi. Tôi chạy, chạy mãi với đôi giày mới, băng qua cánh đồng dài rộng quá, để đuổi theo cái tuổi mới lớn bằng những suy nghĩ bâng khuâng gì đó khó tả. Ôi quê hương, gia đình, ngày Tết, mắt tôi vẫn còn nhòe ướt, trong đó gió đồng vừa thổi tung lên trời biếc mấy dải lụa ngũ sắc buộc trên ngọn cây nêu bay phần phật trong tiếng hò hét của đám vật sân đình. Sang Xuân, đồng làng lại xanh um mạ, và hết tháng Giêng chị tôi lấy chồng.

D.Đ.L

Minh họa của Tân Hà   

Tin tức khác