Minh Tâm
Tháng Tám trở lại trên vùng thượng nguồn sông Gâm. Nắng cuối hạ trải xuống mặt sông một lớp sáng dịu, lặng lẽ trôi dưới chân núi Rồng. Con đường dẫn lên Căng Bắc Mê xuyên qua những vòm cây xanh thẫm. Rêu phủ trên đá, lá khô nằm im bên các bậc lên xuống, gió từ lòng sông thổi qua khoảng sân vắng khiến không gian càng thêm trầm mặc. Giữa núi rừng xã Yên Cường, tỉnh Tuyên Quang, những bức tường đá còn lại của một nhà tù thực dân vẫn đứng đó, lưu giữ dấu ấn về những năm tháng đấu tranh kiên cường của các chiến sĩ cách mạng. Ngày nay, dòng Gâm vẫn miệt mài chảy qua những bản làng bình yên. Ít ai có thể hình dung nơi núi sông thanh bình ấy từng là chốn giam cầm khắc nghiệt đối với hàng trăm tù chính trị. Thực dân Pháp chọn vùng đất biệt lập này để dựng đồn binh, kiểm soát tuyến giao thông nối Hà Giang, Tuyên Quang và Cao Bằng. Về sau, chúng biến nơi đây thành trại giam, đưa những người bị coi là “phần tử nguy hiểm” lên quản thúc, hòng tách họ khỏi phong trào cách mạng đang phát triển.
Khi nhà tù trở thành trường học cách mạng
Tại Căng Bắc Mê, trong những năm tháng khắc nghiệt, các chiến sĩ cộng sản đã đoàn kết, tổ chức học tập, giữ vững niềm tin, biến nơi tù đày thành trường học cách mạng. Bởi vậy, tìm về Căng Bắc Mê trong những ngày cả nước kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh mùng 2 tháng 9 không đơn thuần là trở lại một di tích. Đó còn là cuộc trở về với lịch sử, để hiểu thêm khí tiết của những người cộng sản trong lao tù và hành trình gian nan mà dân tộc đã đi qua trước khi giành được độc lập. Căng Bắc Mê nằm trên sườn núi Rồng, lưng dựa vào núi, phía trước là dòng sông Gâm. Địa hình ba bề núi cao, một mặt sông sâu tạo thành một không gian gần như khép kín. Việc đi lại khi ấy chủ yếu theo đường sông hoặc những lối mòn xuyên rừng. Chính sự hiểm trở, cách biệt ấy khiến thực dân Pháp cho rằng, khi bị đưa đến đây, những người tù chính trị sẽ bị tách khỏi quần chúng và không còn điều kiện tiếp tục hoạt động cách mạng.
Theo tài liệu của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, ngày 15/2/1909, Tiểu đoàn trưởng, Tư lệnh Đạo quan binh số 3 đã gửi Công văn số 229 tới Thống sứ Bắc Kỳ, trình bày về sự cần thiết phải xây dựng trại lính khố xanh ở Bắc Mê. Vị trí này được lựa chọn nhằm kiểm soát tuyến giao thông giữa ba tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Cao Bằng lúc bấy giờ, đồng thời quan sát, khống chế một vùng rộng lớn. Theo địa giới hành chính hiện nay, hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang đã được sắp xếp thành tỉnh Tuyên Quang; vì vậy, tuyến giao thông nói trên nay thuộc địa bàn hai tỉnh Tuyên Quang và Cao Bằng.
Trước năm 1939, nơi đây là một đồn binh nhỏ của thực dân Pháp, có khoảng một đại đội lính khố xanh cùng một số cai đội người địa phương, đặt dưới sự chỉ huy của một viên sĩ quan Pháp. Ngày 20/11/1940, Thống sứ Bắc Kỳ ban hành quyết định cải tạo trại lính khố xanh Bắc Mê thuộc Đạo quan binh số 3 thành nơi giam giữ những người mà chính quyền thực dân coi là nguy hiểm đối với việc phòng vệ và an ninh. Từ một đồn binh, nơi đây được mở rộng, xây dựng thêm nhà giam, nhà làm việc, nhà thông tin, vọng gác, nhà kho cùng hệ thống tường đá bao quanh. Khu trung tâm Căng Bắc Mê có diện tích khoảng 2.500 m². Tường bảo vệ được xây bằng đá tảng, dài gần 190 m, cao khoảng 2 m, dày chừng 40 cm. Trên tường có những lỗ châu mai hình vuông để lính canh theo dõi mọi động tĩnh.
Quần thể di tích trước đây gồm khu trung tâm căng trên núi Rồng, nhà Bang tá ở phía bên kia sông Gâm và khu vực kho muối. Việc đi lại giữa nhà Bang tá với khu trung tâm chủ yếu bằng thuyền, mảng hoặc hệ thống ròng rọc có dây cáp nối hai bờ sông. Cách khu trung tâm khoảng 14 km còn có kho muối, nơi thực dân Pháp sử dụng để trung chuyển hàng hóa, chủ yếu là muối, phục vụ việc buôn bán và cung cấp cho đồn binh. Theo các tài liệu giới thiệu tại di tích, trong thời gian hoạt động với chức năng là nơi giam giữ tù chính trị, Căng Bắc Mê đã giam khoảng 300 người. Trong số đó có nhiều chiến sĩ cộng sản, trí thức và người yêu nước như Xuân Thủy, Trần Cung, Phan Bôi, Trần Hiệu, Hoàng Bắc Dũng, Đặng Việt Châu, Lê Giản, Hà Kế Tấn, Lương Nhân, Trần Các và nhà văn Nguyên Hồng…
Đằng sau những bức tường đá là một chế độ giam giữ hà khắc. Những người tù phải sống trong các gian phòng chật hẹp, tối và ẩm thấp, thiếu thốn thức ăn, thuốc men. Nhiều người bị bắt phá đá, xúc cát, nung vôi, đóng gạch, làm ngói, dựng nhà, xây tường và mở rộng chính nơi đang giam giữ mình. Địa hình hiểm trở cùng khí hậu khắc nghiệt của vùng thượng nguồn sông Gâm càng khiến cuộc sống tù đày thêm gian khổ. Mùa hè, mưa rừng kéo dài, hơi ẩm từ núi và sông ngấm vào những bức tường. Mùa đông, gió lạnh theo các khe núi tràn vào phòng giam. Đói rét, bệnh tật, lao dịch nặng nhọc cùng sự kiểm soát nghiêm ngặt được chính quyền thực dân sử dụng để bào mòn thể lực và tinh thần của những người tù chính trị.
Trong hoàn cảnh ấy, các chiến sĩ cộng sản vẫn giữ vững khí tiết, đoàn kết, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn. Theo tư liệu giới thiệu về di tích, những người cộng sản đã tổ chức chi bộ trong nhà tù, duy trì học tập, tuyên truyền, đoàn kết đấu tranh và tìm cách liên hệ với quần chúng bên ngoài. Người hiểu biết nhiều truyền đạt cho người chưa biết; người khỏe chăm sóc, đỡ đần người đau yếu; những người có kinh nghiệm hoạt động cách mạng hướng dẫn đồng đội cách giữ bí mật, nhận định tình hình và vận động quần chúng. Giữa những bức tường đá lạnh lẽo, họ cùng nhau học văn hóa, nghiên cứu lý luận, trao đổi về tình hình đất nước và con đường giải phóng dân tộc. Nhà tù vốn được dựng lên để khuất phục con người cuối cùng lại trở thành nơi rèn luyện bản lĩnh, củng cố niềm tin và tình đồng chí.
Trong cuộc đời hoạt động của nhiều người từng bị giam tại Căng Bắc Mê, những tháng ngày tù đày là một thử thách khắc nghiệt, giúp họ hiểu sâu sắc hơn sức mạnh của đoàn kết và sự gắn bó với Nhân dân. Sau khi rời nơi giam giữ, nhiều người tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng, đảm nhiệm những trọng trách khác nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Điều khiến chính quyền thực dân lo sợ là tư tưởng cách mạng từ trong căng vẫn tìm được đường đến với quần chúng. Thông qua những lần lao động bên ngoài, tiếp nhận lương thực, vận chuyển vật liệu hoặc tiếp xúc với người phục dịch và lính canh, các chiến sĩ tranh thủ tuyên truyền về tình cảnh của đất nước, nỗi khổ của người dân mất nước và con đường đấu tranh giành độc lập.
Hoạt động tuyên truyền, đấu tranh của các chiến sĩ bị giam giữ tại Căng Bắc Mê đã có ảnh hưởng đối với quần chúng quanh vùng, góp phần lan tỏa tinh thần yêu nước và tư tưởng cách mạng. Cuối năm 1942, trước sự đoàn kết, đấu tranh quyết liệt của những người bị giam giữ và sự phát triển của phong trào cách mạng tại các tỉnh biên giới, thực dân Pháp phải chuyển tù nhân ở Căng Bắc Mê đi nơi khác. Nơi đây sau đó chỉ còn lực lượng lính khố xanh trấn giữ. Những người tù rời đi, Căng Bắc Mê trở lại là một đồn binh, nhưng tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng họ để lại vẫn được lưu giữ trong ký ức của người dân. Từ nơi tưởng như bị tách biệt với thế giới bên ngoài, tư tưởng cách mạng vẫn vượt qua tường đá, núi cao, sông sâu để đến với quần chúng.
Những kẻ xây nhà tù đã không hiểu rằng có thể dựng tường đá để ngăn bước chân con người, có thể dùng núi cao, sông sâu để cô lập một vùng đất, song không thể khuất phục ý chí của những người đã lựa chọn con đường đấu tranh vì độc lập, tự do.
Từ ánh lửa trong căng đến mùa Thu độc lập
Sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp ngày 9/3/1945, tình hình các tỉnh miền núi phía Bắc chuyển biến nhanh chóng. Phong trào cách mạng tiếp tục phát triển, lực lượng vũ trang cùng quần chúng Nhân dân đẩy mạnh hoạt động, tiến công các vị trí của địch và từng bước mở rộng địa bàn. Ngày 28/3/1945, Căng Bắc Mê được giải phóng. Đây là một dấu mốc trong phong trào cách mạng ở địa phương, diễn ra gần năm tháng trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Vùng đất từng bị thực dân Pháp lựa chọn để giam giữ, cô lập những người cộng sản đã thoát khỏi sự kiểm soát của chúng.
Trong tiến trình vận động cách mạng trước năm 1945, hoạt động của các chiến sĩ bị giam giữ tại Căng Bắc Mê đã để lại ảnh hưởng trong Nhân dân quanh vùng. Những bài học về lòng yêu nước, sự đoàn kết và ý chí đấu tranh được truyền đi qua những cuộc tiếp xúc âm thầm, góp phần bồi đắp niềm tin của quần chúng đối với cách mạng. Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, Nhân dân cả nước vùng lên giành chính quyền. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên độc lập, tự do. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong dòng chảy ấy, câu chuyện Căng Bắc Mê góp thêm một minh chứng về sức sống của tinh thần cách mạng. Thực dân Pháp dựng trại giam để cô lập và khuất phục những người cộng sản, nhưng chính nơi đây lại trở thành môi trường thử thách, rèn luyện ý chí của các chiến sĩ cách mạng. Núi cao và sông sâu không thể ngăn họ hướng về Nhân dân, giữ vững niềm tin vào ngày đất nước giành được độc lập. Hơn tám thập kỷ đã trôi qua, nhiều công trình của Căng Bắc Mê không còn nguyên vẹn. Mưa rừng, nắng núi và thời gian đã bào mòn những bức tường đá. Dấu vết của hệ thống ròng rọc nối hai bờ sông Gâm, các bốt gác, gian nhà giam và nhiều hạng mục khác có nơi chỉ còn lại nền móng hoặc tồn tại trong tư liệu. Tuy vậy, những gì còn lại vẫn đủ sức gợi lên hình hài của một trại giam giữa núi rừng và cuộc đấu tranh bền bỉ từng diễn ra phía sau những bức tường.
Ngày 21/1/1992, Căng Bắc Mê được Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia theo Quyết định số 97/QĐ-BVHTT. Di tích đã được tu bổ, tôn tạo vào các năm 2003 và 2009 nhằm bảo tồn những dấu tích lịch sử, phục vụ Nhân dân tham quan, nghiên cứu và học tập truyền thống cách mạng. Tháng 2/2021, dự án bảo tồn, tôn tạo Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia Căng Bắc Mê giai đoạn 1 được khởi công với tổng mức đầu tư hơn 20 tỷ đồng. Sau hơn một năm triển khai, công trình hoàn thành và được khánh thành ngày 9/7/2022. Các hạng mục được xây dựng, chỉnh trang gồm nhà tưởng niệm, khu trưng bày và những công trình phụ trợ, bảo đảm sự hài hòa với cảnh quan núi Rồng và dòng Gâm.
Nhà trưng bày được thiết kế phù hợp với không gian di tích, là nơi giới thiệu chân dung, tài liệu và những câu chuyện về các chiến sĩ từng bị giam giữ. Các thiết bị trình chiếu, sách điện tử, phim tư liệu và hệ thống mã QR giúp người dân, du khách có thêm cách tiếp cận lịch sử. Qua những hình ảnh, hiện vật và lời hồi tưởng được lưu giữ, chân dung những người tù chính trị hiện lên gần gũi hơn, giúp người xem hiểu rõ ý nghĩa của những dấu tích còn lại.
Em Nguyễn Thu Hà, học sinh Trường THPT Lê Hồng Phong chia sẻ, khi cùng thầy cô và các bạn đến tham quan phòng giam, xem hình ảnh và nghe giới thiệu về cuộc sống của các chiến sĩ cách mạng, em cảm nhận rõ hơn những gian khổ mà thế hệ đi trước đã trải qua. Điều khiến em xúc động là trong hoàn cảnh bị giam giữ, các chiến sĩ vẫn đoàn kết, tổ chức học tập, giúp đỡ nhau và luôn tin tưởng vào ngày đất nước giành được độc lập. Với em, chuyến tham quan Căng Bắc Mê giúp lịch sử trở nên gần gũi, đồng thời nhắc nhở thế hệ trẻ biết trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay. Lời chia sẻ ấy cho thấy giá trị lâu dài của một di tích không nằm riêng ở những bức tường được giữ lại hay số lượng hiện vật đặt trong tủ kính. Di tích thực sự phát huy giá trị khi câu chuyện quá khứ tiếp tục được truyền lại cho hôm nay, giúp người trẻ hiểu sâu sắc hơn giá trị của độc lập, tự do.
Đồng chí Lê Minh Căn, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Yên Cường cho biết, Căng Bắc Mê là Di tích có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử cách mạng của địa phương, nơi ghi dấu tinh thần kiên trung của những chiến sĩ cộng sản trong nhà tù thực dân. Xã xác định việc bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị di tích là nhiệm vụ thường xuyên; chú trọng phối hợp tổ chức các hoạt động về nguồn, giáo dục truyền thống cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên và học sinh. Trong không gian phát triển của tỉnh Tuyên Quang hiện nay, Căng Bắc Mê có thêm điều kiện kết nối với hệ thống di tích lịch sử cách mạng phong phú, trong đó có Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào và Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Bình.
Theo đồng chí Lê Minh Căn, địa phương mong muốn tiếp tục bổ sung tư liệu, hiện vật, hoàn thiện nội dung trưng bày, nâng cao chất lượng thuyết minh; từng bước gắn tham quan di tích với tìm hiểu cảnh quan, văn hóa và đời sống của đồng bào các dân tộc ven sông Gâm. Qua đó, Căng Bắc Mê sẽ phát huy tốt hơn vai trò một “địa chỉ đỏ”, góp phần giáo dục truyền thống và tạo thêm điểm nhấn cho du lịch văn hóa, lịch sử của địa phương. Việc kết nối Căng Bắc Mê với Tân Trào, Kim Bình cùng các di tích lịch sử, điểm du lịch văn hóa, sinh thái trên địa bàn có thể hình thành một hành trình giàu ý nghĩa: từ nơi những chiến sĩ cộng sản giữ vững khí tiết trong lao tù đến Thủ đô Khu Giải phóng, nơi diễn ra những sự kiện quan trọng trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám; từ những dấu tích của một thời đấu tranh gian khổ đến cuộc sống hòa bình, đổi mới hôm nay.
Để Căng Bắc Mê thực sự trở thành điểm đến có chiều sâu, việc bảo tồn cần tiếp tục gắn với nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, hiện vật, hồi ký và những câu chuyện về người từng bị giam giữ. Hoạt động của tổ chức Đảng trong nhà tù, hình thức học tập, đấu tranh của các chiến sĩ, mối liên hệ giữa người tù với cư dân quanh vùng và ảnh hưởng của Căng Bắc Mê đối với phong trào cách mạng địa phương là những nội dung cần tiếp tục được làm sáng rõ bằng các tài liệu có giá trị lịch sử. Cùng với đó, có thể tổ chức nhiều hơn những buổi sinh hoạt Đoàn, tiết học lịch sử địa phương, chương trình về nguồn và hoạt động trải nghiệm tại di tích. Khi trực tiếp nhìn những bức tường đá, gian phòng giam và hình ảnh về cuộc sống lao tù, người trẻ sẽ hiểu rằng độc lập, tự do hôm nay được đánh đổi bằng biết bao gian khổ, hy sinh. Từ sự hiểu biết ấy, lòng biết ơn và trách nhiệm với quê hương, đất nước sẽ được bồi đắp một cách tự nhiên.
Chiều xuống chậm bên sông Gâm. Nắng vắt qua sườn núi Rồng, in bóng những thân cây lên đoạn tường đá cũ. Dưới chân núi, dòng sông vẫn miệt mài chảy, mang theo phù sa và ký ức. Căng Bắc Mê im lặng, nhưng sự im lặng ấy không phải của quên lãng. Đó là sự lắng sâu của lịch sử, khiến người đến sau phải chậm bước, suy ngẫm về những con người từng đi qua năm tháng lao tù mà vẫn giữ trọn niềm tin. Tám mươi mốt năm sau mùa thu độc lập, những bản làng bên dòng Gâm đã trải qua biết bao đổi thay. Căng Bắc Mê vẫn trầm mặc giữa màu xanh núi Rồng. Sau những bức tường đá rêu phong, câu chuyện về ý chí kiên cường của những người cộng sản vẫn được nhắc nhớ, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào cho các thế hệ hôm nay, mai sau.
M.T
18-08-2026
18-08-2026
18-08-2026
.jpg)









