Trần Huy Vân

Minh họa của Tân Hà
Thấy tôi thẫn thờ đi từ khu mộ này đến khu mộ khác, mà vẫn chưa tìm thấy phần mộ của các liệt sĩ tỉnh Tuyên ở đâu, một chú bé chừng mười tuổi đến hỏi:
- Ông không tìm thấy phần mộ của các ảnh sao, ở tỉnh nào?
- Tuyên Quang.
- Ông theo cháu.
Chú bé giải thích cho tôi vẻ thành thạo: Nghĩa trang Trường Sơn này chia thành nhiều khu mỗi tỉnh thành một khu, trải rộng khắp khu rừng đại ngàn này. Ông không xem sơ đồ không biết tìm chỗ nào đâu, khu mộ của các tỉnh thành cháu đều biết chỗ, biết cả số các liệt sĩ đã hi sinh, ví như, chú bé đọc liền mấy tỉnh, số chiến sĩ hi sinh. Tôi không khỏi ngạc nhiên, hỏi chú bé:
- Nhà cháu gần đây sao?
- Gần ạ.
- Hôm nào cũng tới đây
- Sáng đi học, chiều đi chăn trâu, chiều nào cũng tới đây. Hôm rồi, có một bà má ở Hà Tây, già lắm rồi, già hơn cả nội cháu ấy, đến tìm con ở đây. Má cứ đi theo từng hàng mộ, ngôi mộ nào cũng dò dẫm sờ, rồi ghé mắt đọc tên trên tấm bia. Má đánh vần không nổi, miệng cứ lẩm bẩm: Có phải con đây không! Con ở chỗ nào mách dùm mẹ đi! Nhiều thế này mẹ tìm sao thấy! Cháu đến gần bảo:
- Nội ơi! Con của nội ở tỉnh nào? Má nheo mắt
nhìn cháu:
- Cháu biết chỗ sao, Hà Tây.
- Nội để cháu đưa đến chỗ phần mộ tỉnh Hà Tây. Má lật đật đi theo cháu. Hà Tây có một trăm sáu mươi hai liệt sĩ, chôn cất ở đây, con má ở huyện nào?
- Huyện Ba Vì.
- Ba Vì có ba mươi hai liệt sĩ, má cứ đến đó cháu tìm hộ cho.
Má theo cháu đến khu mộ tỉnh Hà Tây. Đến nơi má bảo:
- Cháu để bà nghỉ tí.
Má ngồi cạnh ngôi mộ, lấy khăn lau nước mắt, nhìn má tội lắm. Má ngó quanh nói: Các con mẹ nằm cả ở đây sao?
- Dạ! Còn nhiều nghĩa trang nữa ạ, khắp đất nước mình chỗ nào cũng có, bà nội cháu bảo thế. Tên các ảnh là gì ạ?
- Một đứa con, một đứa cháu Trần Thanh Mại, Trần Văn Tùng. Người làng Cổ Đô, Ba Vì.
- Để cháu tìm trên tấm bia xem có tên các ảnh không.
Cháu đọc đến mấy lượt không thấy tên hai ảnh. Làng Cổ Đô có hai ảnh đều là họ Nguyễn, cũng không trùng tên hai ảnh. Cháu không còn biết nói với má thế nào nữa, chỉ nghẹn ngào nhìn má. Thấy cháu yên lặng má hỏi:
- Không thấy sao?
- Dạ! Không thấy tên ở đây ạ.
- Bao nhiêu mộ ở đây mà không tìm thấy hai đứa nó, biết tìm ở đâu bây giờ.
Má lại khóc, run rẩy, cháu phải đỡ cho má ngồi xuống. Cháu gặp không ít người đến đây không tìm thấy người thân như má, khóc thê thảm, thương lắm.
Chú bé đưa tôi đến khu mộ các liệt sĩ tỉnh Tuyên Quang. Tôi đi theo các hàng mộ, chú bé lặng lẽ theo sau. Đi một lượt hết các hàng bia, cứ sợ mình bỏ sót, đi lại lần hai, lần ba, vẫn không thấy.
Tôi đứng lặng trước nấm mộ liệt sĩ người cùng làng, nước mắt trào ra. Chú bé khẽ hỏi:
- Ảnh đây sao?
Tôi lắc đầu.
- Ông không tìm thấy?
Tôi lại lắc đầu, lấy khăn lau nước mắt. Tay run run bấm điện thoại di động, nghẹn ngào báo tin cho nhà tôi: Không có anh cả ở nghĩa trang Trường Sơn này. Nước mắt lại trào ra, thấy tôi chống tay lên nấm mộ, xụt xùi khóc, chú bé bảo tôi:
- Còn một khu nữa.
- Khu nào vậy?
- Khu liệt sĩ vô danh, biết đâu ảnh ở đó.
- Đưa bác tới khu đó được không?
- Dạ!
Theo chân chú bé tôi đến khu mộ các liệt sĩ vô danh, trên đường đi chú kể: Ở đây ngày nào cũng có người đến thắp hương, đi tìm phần mộ người thân, gần đến ngày lễ càng đông. Những người đến đây không phải người nào cũng đau xót như ông và bà má Hà Tây đâu. Có nhiều đám thanh niên tới đây cười đùa, bá vai, bá cổ nhau, nhẩy nhót cứ như đang ở công viên thành phố ấy. Chẳng thấy họ tìm ai, không thắp hương, hay bùi ngùi xót xa gì. Cứ như đến để vui đùa, xem người ta xây nghĩa trang như thế nào. Ăn kẹo bánh còn vứt bừa rác ra đường, ngay cạnh các ngôi mộ liệt sĩ. Mấy đứa cháu lại phải bảo nhau đi nhặt, bỏ vào thùng rác. Sao có người như thế hở ông? Tôi không biết trả lời cháu thế nào, đành hỏi:
- Cháu biết câu: “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” không?
- Dạ! Cô giáo cháu có dậy câu ấy rồi.
- Họ là những kẻ uống nước không nhớ nguồn, ăn quả không biết ơn người trồng cây đấy, cháu hiểu không?
- Dạ! Cháu hiểu ạ. Ông nội cháu cũng hi sinh ở Quảng Trị này. Ba cháu đi tìm khắp các nghĩa trang mà không thấy. Bà nội bảo: Ông nằm đâu đó ở Quảng Trị này, cũng còn được nằm lại trên mảnh đất quê hương. Chỉ thương các ảnh ngoài Bắc, không được quy tập vào nghĩa trang, chết rồi vẫn không biết phần mộ ở đâu, người thân biết đâu mà tìm. Cháu đi chăn trâu, thấy ai ngoài Bắc vô, cần tìm mộ cháu phải giúp, chỉ làm vậy mới đáp đền công ơn của các anh ấy.
Chiều nào chúng cháu cũng ra đây, trâu chỉ để một đứa coi, còn lại quanh quẩn ở đây, giúp được ai thì giúp. Các bác bảo vệ khu nghĩa trang này mến chúng cháu lắm, còn khen chúng cháu nữa.
Đến khu mộ vô danh, mộ giống hệt các ngôi mộ khác, chỉ có một điểm riêng, trên bia mộ không có tên. Tôi đứng lặng nhìn, những hàng mộ ngang, dọc thẳng tắp, những liệt sĩ vô danh, hi vọng mong manh, anh cả tôi, người con, người cháu của bà mẹ Hà Tây, như chú bé kể, có mặt trong những ngôi mộ không có tên kia. Các anh đi vào cõi vĩnh hằng vẫn còn để lại một chút hi vọng, cho người thân đến đây. Nếu tất cả những ngôi mộ đều có tên, không hiểu khi đi khỏi đây những người như tôi, như bà mẹ Hà Tây còn đau xót đến nhường nào!
Thấy tôi đứng lặng trước mộ các liệt sĩ vô danh hồi lâu, trên tay vẫn cầm bó hương, chú bé bảo tôi:
- Ông ơi, ta lên khu đài tưởng niệm thắp hương viếng các ảnh thôi. Tôi đi theo chú bé.
* * *
Chiều Quảng Trị, qua đợt rét đậm đã có nắng ấm. Gió vi vút thổi trên ngọn cây xà nu, một thứ cây xanh tốt quanh năm, có sức sống thật diệu kì. Trên một vạn các anh yên nghỉ ngàn thu trong tiếng reo ngày đêm không nghỉ của rừng xà nu Trường Sơn. Tôi miên man nghĩ, chú bé lắc nhẹ tay tôi, hỏi:
- Ông còn đi đâu nữa không?
- Không! Phải tạm biệt nơi đây thôi.
- Ông từ Tuyên Quang vào đây có xa không?
- Xa đấy, trên một ngàn cây số.
- Tuyên Quang có cây đa Tân Trào, mái đình Hồng Thái, cô giáo cháu dạy thế, cô còn bảo: Đó là quê hương của cách mạng, nơi Bác Hồ đã từng ở và làm việc. Bao giờ lớn lên, cháu cố ra đấy một lần thôi cũng được.
- Cháu ra đó cứ hỏi bác, ở Hội Văn nghệ Tuyên Quang. Bác sẽ đưa đi thăm các di tích lịch sử ở Tuyên Quang.
- Vâng! Cháu sẽ ra, cháu chào ông.
Chú bé chạy vụt đi, tôi gọi lại: Chờ bác một tí. Tôi thục tay vào túi, chú bé đoán ra, nói ngay:
- Ông đừng làm vậy, nội cháu không cho phép nhận quà của ai. Nội bảo: Làm vậy là có tội với các anh đang yên nghỉ ở nghĩa trang này.
Tôi đứng lặng nhìn chú bé Vân Kiều đang tung tẩy chạy trên thảm cỏ, thấp thoáng sau những cây xà nu cổ thụ, cao vút. Đến lúc này tôi mới nhớ ra: Chưa hỏi tên chú bé, người bản nào, xã nào.
Khi quay ra, tôi gặp bác bảo vệ nghĩa trang, hỏi, bác nói: Có chi mô, mấy đứa trẻ người Vân Kiều, ở bản gần nghĩa trang, chiều mô cũng đến làm hướng dẫn viên tự nguyện, bọn trẻ ngộ lắm, cũng không biết tên là chi.
Về đến khách sạn, mọi người ăn uống ca hát thật vui, tôi không làm sao hòa nhập được. Hình ảnh chú bé Vân Kiều cứ nhẩy tâng tâng trước mắt tôi. Chu mới thật là bài ca tôi cần phải hát.
T.H.V
16-07-2024
16-07-2024









