Tản văn của Lê Thu

Tác giả Lê Thu
Cứ mỗi khi có dịp, tôi lại trèo lên trên tường thành nhà Mạc, để nhìn sang bên dãy núi Là. Vào mùa xuân, chỉ thấy những đám mây như tấm khăn voan hờ hững, trải dài lên đỉnh núi, pha loãng màu xanh của rừng. Đứng ở bên này, tưởng như chỉ cần hít một hơi dài là đã bơi sang được bên kia dãy núi, vì khoảng cách ấy chỉ là một cánh đồng bằng phẳng, như mặt hồ được phủ đầy màu xanh ngăn ngắt. Lúc ấy, tôi vô cùng mong ước “Giá như mình có đôi cánh của chàng trai Icarus, rồi bay lên trên đỉnh núi cao ngất kia, xem trên ấy có gì!…”. Dù lúc đó, mặt trời đang mải miết trải xuống thế gian vô vàn những mũi kim chói chang, nhọn hoắt, đầy quyền uy rừng rực của mình.
Tôi tìm đến Ngòi Là vào buổi chiều mùa hè rực nắng, dưới đường mương là cánh đồng Thụt, đồng Vông, đồng Lán, đồng Là... cứ nối nhau kéo dài, mãi đến gần chân núi. Bám theo dòng nước trong, khi nó mất hút vào cái miệng cống ngầm, thì cũng vừa đến chân hồ nước. Leo qua mái lên đỉnh con đập, đó là một đoạn đường thẳng tắp, dài đến hơn một nửa cây số, trông như cây cầu treo bắc qua lòng sông rộng, bên trên là hồ nước, bên dưới là vực sâu, mà chiều cao cũng bằng mấy tầng nhà. Khối đất dài, vẻ mảnh mai nhưng lại chặn đứng được cả bể nước mênh mang, chứa đến hơn ba triệu khối nước. Cũng thấy lạ, bờ đất phía hạ lưu con đập vẫn sạch sẽ và khô ráo, không giống cái bể nước nhà tôi, cứ chỗ nào nứt nẻ, chúng lại đùn ra những mảng vôi trắng đục.
Đứng nhìn theo không gian mênh mông mây nước, mặt hồ đầy bát ngát như cánh đồng màu xanh, giống khi tôi đứng trên núi Thổ Sơn nhìn sang dãy núi Là - vào ngày xuân nắng ấm. “Ngòi Là đây!”, tôi như muốn tan ra trong làn gió rười rượi mát, từ mặt hồ loáng nắng tràn vào. Giơ hai tay làm chiếc mũ lưỡi trai, để ánh mắt lướt trôi trên mặt nước bao la, phẳng lặng. Tôi thỏa thích ngắm nhìn từ dưới chân, rồi ngược lên trên đỉnh non cao, mà tôi chưa bao giờ tận thấy. “Hùng vĩ quá!”, tôi thốt lên ngạc nhiên đầy thích thú. Từ trên đập nhìn lên trên thượng nguồn, hồ nước này rộng hơn cả con sông Lô, qua thị xã quê tôi vào mùa nước ngập, mà với tôi, dòng Lô giang cũng rộng lắm rồi. “Những người xưa thật giỏi!” niềm cảm phục và mến yêu những con người đã dựng xây, vận hành công trình to lớn này, dâng đầy lên trong tôi nỗi tự hào, trải dài theo tháng năm mênh mang, xa thẳm. Tôi cứ đứng ngắm dãy núi đang soi mình xuống mặt nước xanh trong, thấy vừa xa, vừa gần và tôi nhớ đến câu chuyện xưa kia:
Chuyện rằng:
“Thuở hồng hoang, khi loài người mới được sinh ra, họ ở trong hang núi, chỉ biết hái rau, lượm quả để ăn. Thấy vậy, Ngọc Hoàng liền sai thần Nông xuống hạ giới, dạy cho con người sinh sống. Thần gọi chàng Là và nàng Nghiêm xuống trần gian khơi sông, san đồi, đắp núi để loài người lấy chỗ cấy trồng. Chàng Là, làm từ trên ngọn nguồn sông Gâm xuôi xuống biển, còn nàng Nghiêm làm từ dưới biển lên rừng. Hẹn ba ngày xong mới được về trời. Thần cho mang trâu, bò, gà, lợn cùng túi hạt giống lúa, ngô, đậu, bí. Rồi dạy cách chế ra cày bừa, trồng thuốc chữa bệnh…, để chàng và nàng mang xuống hạ giới, truyền dạy cho người. Chàng ngược lên thượng nguồn, gánh núi xếp thành từng dãy, nàng đi xuống dưới biển, cào đất biến thành đồng ruộng. Khi những ngọn núi sắp xong, cánh đồng thênh thang cũng dần bằng phẳng, họ gặp lại nhau và giúp nhau khiêng nốt hai quả núi lớn, nhưng đến giữa làng Khán và làng Dinh thì bị gãy gánh - tương truyền đó là núi Kho Đo và núi Chùa, ở xã Trung Môn bây giờ. Việc xong, chàng và nàng lỡ bén duyên nhau, họ rủ nhau trốn Thần Nông ở lại hạ giới, sống cùng loài người. Hết hạn, không thấy Chàng và Nàng về trời, Thần Nông vén mây nhìn xuống, thấy họ đã lấy nhau, bèn cử Thiên Lôi xuống trị tội. Thừa lúc chàng Là vắng nhà, nàng Nghiêm bị Thiên Lôi giáng cho một lưỡi tầm sét. Về nhà, thấy vợ đã chết, chàng thương tiếc khóc than, mãi đến kiệt sức rồi gục chết theo. Nàng biến thành núi Nghiêm, chàng hóa thành núi Là đứng ở gần nhau. Biết chuyện, Ngọc Hoàng giận lắm, bắt Thần Nông mỗi tháng phải xuống hạ giới một lần để dạy loài người sinh sống. Từ đó, dân gian thành kính gọi “Ông núi Là, bà núi Nghiêm”.
Không biết, có phải những giọt nước mắt tiếc thương của chàng Là đang tuôn chảy, đổ vào những khe cạn, thung sâu rồi hợp thành ngòi lớn, để tình yêu của mình dâng thành hồ nước, cho bao nàng tôm, anh cá, chú cua..., kể lại cho ai đã đến đây ngao du sơn thủy, về mối tình đắm say, chung thủy, nhưng dang dở của chàng. Và một ngày đầu xuân, tôi đi vãn cảnh chùa dưới chân núi Nghiêm. Nơi ấy, bốn bề quanh ngọn núi uy nghi là những cánh đồng bằng phẳng, xanh tươi và ở đó cũng có một hồ nước rộng lớn, nằm dưới chân ngọn núi linh thiêng, nom xa như giọt nước mắt của Ngọc Hoàng, thương cảm nàng Nghiêm chăm chỉ…
*
Hồ Ngòi Là vừa tròn nửa thế kỷ, thuộc xã Chân Sơn, còn hồ Ngòi Là 2 nằm bên xã Trung Môn, được xây dựng từ năm Một chín bảy ba, đến cuối năm Một chín bảy lăm thì hoàn thành. Thân đập cao chừng mười lăm mét, nhưng dài đến hơn nửa cây số - mà chỉ làm bằng đất, khi đầy nước, mặt hồ rộng đến hơn năm chục héc-ta, còn chiều dài kênh cũng hơn sáu mươi ki-lô-mét và tưới được gần bảy trăm héc-ta lúa, màu và ao nuôi tôm cá. Nước chảy tràn trề đến các xã Chân Sơn, Trung Môn, của huyện Yên Sơn, xã Kim Phú, phường Ỷ La, Tân Hà, Hưng Thành của thành phố Tuyên Quang. Tôi nhìn lên dãy núi của thượng nguồn hồ chứa, đỉnh núi Là cao đến Tám trăm sáu mươi mét, tất cả nước từ sườn phía Đông đều chảy về phía hồ Ngòi Là - hẳn nào, nước cứ trong lành và mát dịu - tôi lẩm bẩm một mình.
Lúc đi học, trong những chiều hè, bọn trẻ con chúng tôi hay rủ nhau ra cánh đồng vừa gặt, trò chơi là cuộc thi mót lúa, bắt cá, mò cua..., rồi giả mình làm bánh xe lu, đè rạp gốc rạ vàng dáng vẻ bất cần, vì không còn những nhành lúa trên lưng. Giữa cánh đồng vừa gặt, chỉ còn đám chim ri, chim sẻ mải mê nhặt những hạt thóc rơi, khi thấy có tiếng người, chúng kéo vụt nhau đi ríu rít, như bọn trẻ chúng tôi. Làn nước trong từ mương mẹ, chảy vào mương con, mương cháu rồi tràn ngập ra từng thửa trên, ruộng dưới khi đến mùa cấy cày. Có những năm bị hạn, mặt ruộng lại há ra những cái miệng dài, như hàng trăm, hàng nghìn chú chim non há mỏ chờ mồi, nó chỉ chịu ngậm lại khi có nước tràn vào. Và sâu trong những nứt nẻ ấy vẫn một màu bạc trắng, không đỏ như vết nứt dưới bàn chân của bà tôi những lúc lội bùn, trong những ngày rét buốt!. Và tôi cũng không quên có thằng bạn ma mãnh, nó đã giấu một bó lúa to dưới đống rơm vừa đập. Hay cũng đã có lần, mấy đứa tôi đi câu trộm cá, trong ao nhà của bác hàng xóm, lúc bác ấy không trông.
Tôi thích để đôi chân trần dẫm lên bờ ruộng đất, cho những lá cỏ mềm, mát lạnh thấm vào lớp da chân chai cứng, rồi đi xuyên qua cánh đồng làng, lúc thì chỉ một màu xanh tươi ngăn ngắt, khi thì lại óng ả, trải dài những sóng lúa rung rinh, như đứng giữa hồ nước mênh mang, sóng sánh… mà những đồng lúa, con mương đã mang theo bao hồn nhiên, nghịch ngợm của lứa tuổi học trò. Không biết, những đứa trẻ bây giờ, có còn thích màu xanh của những đám mạ non ngơ ngác?.
*
Chợ Tam Cờ, vào những ngày giáp Tết càng trở nên đông đúc, nhộn nhịp. Cơn mưa xuân đến sớm, bên trong, bên ngoài chợ lép nhép lớp bùn mỏng, càng khiến họ vội vã, tất bật. Khi bà ngoại tôi hỏi mua mấy cuộn lá dong, của cụ bà mặc trang phục “đồng bào” ở tận trong làng Là, mãi dưới gần chân núi. Cụ cười hiền lành, lộ hàm răng như những hạt na, cùng miếng trầu thẫm đỏ, giống hai màu liền nhau trên áo quần của cụ. Tôi hơi sợ vì thấy trên cổ của cụ có một cục tròn to, trông như quả bưởi nhỏ - mà chúng tôi vẫn nhặt làm bóng đá - quả bưởi màu da người căng phồng, đè xuống bên vai cụ nặng trĩu, làm chiếc khăn trên đầu cũng phải lệch nghiêng về một phía. Tôi được nghe cụ Bạ, người làng Trung Môn kể, xưa dưới núi Là có con beo vằn què một chân sau, nó hay xuống làng để bắt trâu bò, khi đi làm ruộng phải có người mang súng kíp đứng canh, chiều chưa tắt nắng đã phải vội về nhà, ban đêm không có ai dám ra ngoài đường, nếu có việc gì gấp, họ phải đi thành nhóm, ai cũng cầm một bó đuốc cháy to. Quãng năm Một chín bốn mươi - khi ấy bà mới lên năm tuổi - có ba chị em nhà bà B. người làng này đi lên trên đồi Dặm - ngay đầu đập Trung La bây giờ - để lấy măng về làm đám cưới cho con, khi mới đến chân đồi, bất ngờ con beo vằn to lớn ở đâu xuất hiện, nó xông đến vồ lấy bà B. rồi lôi lên đồi, hai chị em sợ quá chạy về làng gọi người cứu giúp. Những thanh niên trai tráng của làng và trong Động Móc cũng kéo đến giúp, họ lên đồi tìm con beo vằn, họ gõ mõ, đánh kẻng, còn dùng súng kíp bắn lên trời. Khi ấy có cả hai toán lính Pháp và Nhật cũng lên xem xét. Do cây cối rậm rạp nên con beo không kéo được bà B. đi xa, lúc họ tìm thấy thì bà đã tắt thở. Trên đường mang bà B. về làng, con beo què gầm thét, lấy hai chân sau cào đất từ trên đồi hất vào những người làng cứ rào rào. Mấy đêm sau, beo còn tìm đến mộ của bà cào tung đất lên. Sau lần đó, người làng đã bàn nhau đào những cái hố sâu để đánh bẫy, cuối cùng nó cũng sập xuống hố và bị bắn chết.
*
Đầu tháng Chạp, cha và anh trai cùng mấy chú hàng xóm, lên phía chân núi Là để lấy củi mang về nấu bánh. Họ đi từ sáng sớm, lên những quả đồi quanh hồ Ngòi Là, chặt những cây chết khô rồi kéo xuống đóng thành mảng nhỏ, bơi về bờ đập và chuyển xuống dưới lòng mương, rồi “Lõng” những khúc củi ấy về nhà. Lõng tức là phải lội xuống dưới lòng mương rộng chừng ba mét, kéo những khúc củi xuôi theo dòng nước, suốt từ đầu con mương dưới chân đập, đến đoạn cuối cùng gần thị xã, rồi mới chở về nhà. Cũng có chú dẫm phải mảnh chai dưới lòng mương, chân túa ra đầy máu, phải nhờ người cõng về.
Hình như Tết là dịp vui nhất trong năm của lũ trẻ, vì được xem mổ lợn, làm bánh, mà thế nào cũng được tí phần. Gói bánh là khâu tất bật nhất, nào là lá dong, đậu xanh, thịt lợn, lạt, nia để gói…, tôi háo hức đợi chiếc bánh bé được gói sau cùng. Đến tối mới mượn được chiếc nồi luộc của nhà hàng xóm. Khi bếp củi được nhóm lên, hai anh em tôi được giao nhiệm vụ trông nồi bánh chưng. Tôi chăm chú nghe tiếng nước sôi lục bục trong nồi và nghĩ đến chiếc bánh bé của mình đã chín đến chỗ nào. Nhưng gà gáy sang canh ba thì cơn buồn ngủ đã chiến thắng. Sáng hôm sau, những chiếc bánh đã được xếp thành hàng lên chiếc bàn. Những mảnh ván được đặt lên trên hàng bánh, chiếc cối đá và những khúc gỗ được chất lên mấy mảnh ván. May mắn là, chiếc bánh bé của tôi đã không nằm trong đó, vì không cùng cỡ. Tôi vội bóc chiếc bánh chưng vẫn còn hơi nóng để xem chín thế nào. Thật thích thú khi thấy chiếc bánh vẫn còn xanh màu lá. Tôi vội lấy sợi lạt giang chia ra thành bốn miếng, rồi ăn một cách ngon lành, mùi thơm của lá dong, của những hạt gạo nếp dẻo quánh và nhất là miếng thịt mỡ như tan trong nhân thịt đậu xanh béo ngậy.
*
Tôi biết đến lễ hội “nhảy lửa” của người Pà Thẻn ở xã Hồng Quang, trên huyện Lâm Bình trong một lần đi xem lễ hội. Nhưng hôm nay tôi mới biết đến nghi lễ “Tắm lửa” của người Cao Lan, ngay tại thôn Động Sơn, của xã Chân Sơn, nằm dưới dãy núi Là, trong một buổi chúng tôi đi câu cá trên hồ Ngòi Là 1. Chiếc nhà bè chỉ một mình trơ chọi giữa mặt nước xanh trong, mấy thằng tôi mỗi người ôm một chiếc cần câu chờ đợi. Trong khi mấy người bạn nhún nhảy vui sướng được cá to mắc mồi, làm chiếc bè dập dềnh lên xuống, họ giong cho con cá vùng vẫy đến kiệt sức, rồi mới lôi dần về. Còn tôi cũng khoái chí khi liên tục mắc lại mồi giun, vì vớ được đàn cá mương háu ăn, ngờ nghệch. Đến trưa, cậu chủ thuyền nướng con cá to nhất, để chúng tôi thưởng thức thành quả ngay trên chiếc bè mơ mộng.
Từ buổi sáng, người làng đã chuẩn bị đàn cúng tế, họ lên đồi, mang về những bó nứa tép, chẻ ra đan thành những tấm phên nhỏ chỉ hai màu âm dương, xanh trắng và dán những tờ giấy xanh đỏ được cắt thành những hình thù khác lạ. Chiều xuống, Thầy cúng - như cầu nối giữa người và các đấng thần linh - mặc trang phục áo dài, cùng những người già trong làng lập đàn cúng tế, làm lễ dâng cúng các vị thần. Mâm lễ có đủ thủ lợn, gà luộc, xôi nếp, rượu thơm, hoa quả, những loại bánh to nhỏ ngộ nghĩnh. Những bức vẽ các vị thần lạ mắt được treo đầy bức vách, những lá cờ kỳ dị cùng những lá bùa chú. Trên mâm lễ, những cây đèn, nắm nhang cháy sáng, nghi ngút tỏa hương thơm… Khi trời vừa xẩm tối, đống lửa to đã rực đám than hồng nóng bỏng. Thầy khấn vái thần linh, đọc những bài cúng tế trong những quyển sách dày, mà chữ viết trong đó tôi cũng chưa nhìn thấy bao giờ. Tiếng trống sành bỗng trở nên dồn dập. Những thanh niên “tắm lửa”, đầu trần, chân đất càng lúc, càng rung lắc dữ dội, như vũ điệu của loài chim thiên đường. Và khi thầy cúng ra lệnh cho các chàng trai, rằng các vị thần linh đã phù hộ, họ lao vào đống than rừng rực lửa, hất lên trời cả ngàn ánh sao cháy đỏ. Những tiếng kêu thất thanh, những nét mặt căng lên vì lo âu, sợ hãi của những người đang nghẹt thở đứng xung quanh đống lửa. Chỉ một lúc, cả đống than hồng nóng bỏng đã bị phá tan tành, những chàng trai thanh niên Cao Lan lần đầu tiên “tắm lửa” ấy được thầy cúng gọi về đàn tế. Những rung lắc vô thức kia dịu dần, một lát sau chỉ còn vài dư chấn nhè nhẹ. Những đôi chân lấm đầy than đen, nhưng thân thể họ vẫn bình an, vô sự. Những tiếng thở nhẹ nhõm thoát ra trong mỗi lồng ngực. Bất chợt, những tiếng vỗ tay phát ra đầy ngưỡng mộ.
Phải chăng, chàng Là và nàng Nghiêm đã hóa thành núi rừng, cỏ cây, ruộng đồng muông thú… ẩn mình trong dòng suối, hồ đầy để giúp đỡ muôn người, từ núi cao về nơi biển cả. Quả là, dưới rặng núi này còn nhiều điều kỳ bí…
Cô gái người Cao Lan bóc cho tôi chiếc bánh chim Gâu, do chính tay cô gói, tôi thấy chiếc bánh chưng của mình khi xưa lại chợt hiện về, chắc hẳn nó cũng ngon như thế. Trong lúc tôi nhìn cô gỡ từng lá bánh, cô kể cho tôi nghe về sự tích của bánh chim Gâu, về tình mẫu tử của chim mẹ với những đứa con của mình, như tình cảm của người Cao Lan gửi vào chiếc bánh. Tôi nói với cô gái “Bánh chưng và chim Gâu đều được gói từ hạt gạo nếp và bọc bằng những chiếc lá xanh”. Cô cười, khoe hàm răng trắng bóng!
Thành Tuyên, 01/2025
L.T
22-01-2025
22-01-2025
22-01-2025
22-01-2025

.jpg)






