Thèn Hương - Minh Huệ
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết sẹo mà nó để lại vẫn âm ỉ, hằn sâu trong từng mảnh đời, từng số phận. Chất độc da cam, một hậu quả nghiệt ngã của quá khứ, đã biến những ước mơ thành nỗi đau, những hi vọng thành gánh nặng. Thế nhưng, giữa dòng chảy khắc nghiệt ấy, vẫn có những con người kiên cường vượt lên, thắp sáng ngọn lửa nghị lực và tình yêu thương, vẽ nên những câu chuyện cảm động, chạm đến trái tim người đọc.
Tận cùng nỗi đau
Ở tuổi ngoài tám mươi, với đôi mắt đã mờ và đôi chân đã chậm, bà Nông Thị Mây ở xã Yên Nguyên vẫn miệt mài gồng gánh một gánh nặng mà không từ ngữ nào có thể diễn tả hết: chăm sóc hai người con gái nhiễm chất độc da cam. Nỗi đau ấy bắt nguồn từ người chồng - một người lính đã vào sinh ra tử trong kháng chiến chống Mỹ, đã khuất núi từ lâu, để lại cả một trời bi kịch cho vợ con. Người con gái đầu, chị Hoàng Thị Bạch, sinh năm 1971, từng là một đứa trẻ lanh lợi, hoạt bát, ham học. Nhưng sau một cơn sốt nặng khi còn nhỏ, cuộc đời chị rẽ sang một hướng khác, chị bị liệt toàn thân, nằm bất động mấy chục năm trời, như một bông hoa tàn úa. Người con thứ hai, chị Hoàng Thị Chiều, sinh năm 1979, tuy còn đi lại được, nhưng thần trí mù mờ, cả ngày la hét, hoảng loạn. Người mẹ già ấy phải khóa con mình trong gian bếp nhỏ để tránh nguy hiểm, một giải pháp đau đớn nhưng không còn lựa chọn nào khác. Từng ngày trôi qua, bà Mây âm thầm nấu ăn, tắm rửa, dọn vệ sinh cho hai con, như một cái bóng lặng lẽ trong ngôi nhà nghèo. Không một lời than thở, không một tiếng thở dài, bà chỉ lẩm nhẩm khấn trời cho mình sống lâu hơn một chút, khỏe mạnh thêm một chút, để còn có thể ở lại bên các con, chăm sóc chúng đến hơi thở cuối cùng. Tình yêu mẫu tử của bà, như một dòng suối mát lành giữa sa mạc khô cằn, đã và đang nuôi dưỡng những mảnh đời bất hạnh, khiến ai nghe cũng phải rưng rưng xúc động.
Gia cảnh của Cựu chiến binh chống Mỹ Khánh Đức Khu ở xã Tùng Bá khiến ai nấy đều xót xa, bởi quá thương cho số phận nghiệt ngã ấy. Ông Khu có hai con gái, Khánh Thị Thuận và Khánh Thị Thức, cả hai đều chỉ có thể lê lết quanh quẩn trong nhà từ nhỏ đến nay, sống trong sự phụ thuộc hoàn toàn. Ông Khu mang dáng vẻ khắc khổ của một người lính trở về từ chiến tranh, với tâm tư nặng trĩu của một người cha không biết khi ông bà qua đời thì hai đứa con sẽ thế nào, bởi chúng không thể tự làm gì để tồn tại. Hình bóng của chiến tranh, của chất độc da cam, vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống hòa bình của gia đình ông, là lời nhắc nhở đau lòng về những hi sinh không tên, về những di chứng dai dẳng mà thế hệ đi trước đã gánh chịu.
Cái bóng lặng lẽ của ông Phạm Gia Nguyễn ở xã Hùng An còn làm đau lòng người hơn. Trở về từ chiến tranh, vợ chồng ông sinh được người con gái lành lặn. Hạnh phúc làm cha, làm mẹ biến thành nỗi đau khôn cùng khi con gái ông lập gia đình. Với khao khát được làm mẹ, được nhìn thấy một sinh linh lành lặn chào đời, cô đã mang thai đến năm lần. Thế nhưng, mỗi lần hi vọng nhen nhóm lại là một lần bị dập tắt không thương tiếc: tất cả năm lần, cô chỉ sinh ra "một bọc". Từ "một bọc" ấy được ông kể lại trong nước mắt - dù không cụ thể, nhưng đủ sức gợi lên một hình dung đau đớn về sự mất mát, về niềm hi vọng bị xé toạc bởi sự tàn khốc của chất độc hóa học. Đến lần thứ năm, sức chịu đựng của người mẹ trẻ đã không còn, cô đã qua đời ngay sau đó, mang theo bao nhiêu giấc mơ dang dở. Niềm hy vọng về một thế hệ sau lành lặn trong hình hài một con người cứ thế tan biến, để lại nỗi đau không thể hàn gắn trong lòng người cha già.
Như những bản tình ca
Trung tướng Nguyễn Hữu Chính, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam từng ứa nước mắt phát biểu: "Hàng trăm nghìn nạn nhân chất độc da cam đã chết, hàng trăm nghìn người đang sống trong đau đớn bệnh tật đau khổ và đói nghèo; họ là những người nghèo nhất trong những người nghèo, đau khổ nhất trong những người đau khổ”.
Dẫu vậy, giữa những nốt trầm của cuộc đời, vẫn có những thanh âm tươi sáng cất lên. Trong các hoạt động văn hóa cộng đồng, bà con Nhân dân thường thấy hình ảnh hai vợ chồng chị Đoàn Thị Luyến, phường Hà Giang 2 biểu diễn các tiết mục âm nhạc. Cả hai vợ chồng đều là nạn nhân chất độc da cam/dioxin, đều bị khiếm thị, nhưng lại có giọng hát trong trẻo và cao vút, góp thêm niềm vui cho các hoạt động văn hóa cộng đồng. Hai người gặp nhau tại một hội thi âm nhạc ở tỉnh Lào Cai và nên duyên chồng vợ, như hai tâm hồn đồng điệu tìm thấy nhau giữa cuộc đời đầy thử thách. Từ đó đến nay, hai vợ chồng đều tự rèn thanh nhạc để tham gia các cuộc thi của Hội Người tàn tật trên cả nước, các hoạt động cộng đồng để có thu nhập nuôi con nhỏ. Hình ảnh tự lực vươn lên trong cuộc sống của hai vợ chồng chị Luyến luôn là hình ảnh đẹp trong lòng những ai được tiếp xúc. Dù là nạn nhân chất độc da cam/dioxin, họ không ỷ lại, không trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước hay sự cưu mang của cộng đồng, mà vươn lên bằng tài năng trời cho để hiến dâng cho đời lời ca tiếng hát ngọt ngào. Họ là minh chứng sống động cho câu nói: "Trong cái rủi có cái may", và hơn hết, là biểu tượng của tinh thần lạc quan, kiên cường bất chấp hoàn cảnh.
Ông Hà Kim Lành, nạn nhân chất độc da cam ở xã Chiêm Hóa là một trong những nhân chứng sống của thời kỳ chiến tranh khốc liệt. Năm 1968, ông lên đường nhập ngũ, chiến đấu tại chiến trường ác liệt Quảng Trị. Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đến năm 1977, ông phục viên trở về quê hương, tiếp tục cống hiến qua nhiều cương vị công tác tại xã và thôn. Mang trong mình di chứng của chất độc da cam khiến sức khỏe suy yếu, cuộc đời ông lại hằn sâu thêm một nỗi đau khi người con gái thứ hai mất sớm vì bệnh hiểm nghèo. Dẫu vậy, ông vẫn kiên cường vượt lên nghịch cảnh, sống lạc quan và giàu nghĩa tình. Ông chia sẻ, những năm qua, chính quyền địa phương luôn dành sự quan tâm, thăm hỏi vào các dịp lễ, Tết; các cấp Hội, đoàn thể thường xuyên tặng quà, động viên tinh thần. “Dù cuộc sống còn nhiều vất vả, nhưng tôi không thấy mình cô đơn hay thiếu thốn. Tôi cảm thấy ấm lòng vì mọi người luôn bên cạnh, không để tôi bị lùi lại phía sau”. - ông Lành xúc động nói.
Ông Nguyễn Thành Tuyên, phường Minh Xuân. Ông nhập ngũ năm 1973, chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên, ông bị thương và nhiễm chất độc da cam. Trở về đời thường trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, sức khỏe bị tàn phá mỗi khi trái gió trở trời, nhưng ông vẫn không khuất phục số phận. Năm 1991, hưởng ứng phong trào trồng 5 triệu ha rừng, ông cùng gia đình khai hoang 9 ha đất trồng rừng, rồi chuyển sang trồng cây ăn quả mang lại thu nhập ổn định cho gia đình. Từ kinh nghiệm phát
triển kinh tế của bản thân, ông tích cực tham gia công tác Hội, vận động hội viên thi đua lao động sản xuất. Trong đợt dịch Covid-19, ông đã ủng hộ 10 triệu đồng, thể hiện tinh thần trách nhiệm và tấm lòng sẻ chia của một người lính năm xưa. Và còn nhiều tấm gương nghị lực khác nữa, tuy thân thể luôn đau ốm vì bị ảnh hưởng của chất độc da cam nhưng các nạn nhân luôn nỗ lực vươn lên trong cuộc sống bằng các công việc thường ngày của một gia đình như trồng rừng, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng cây ăn trái để cải thiện cuộc sống gia đình, đem lại nguồn thu nhập hàng trăm triệu mỗi năm và tạo sinh kế cho những người nghèo xung quanh có công ăn việc làm góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.
Ông Tuyên, ông Lành, chị Luyến là một trong những tấm gương về nghị lực vượt gian khó. Không chịu đầu hàng số
phận - họ đã vượt lên bi kịch cuộc đời, cất lên những bản tình ca cuộc sống. Mỗi cuộc đời là một trang sách mở ra những nỗi đau, nhưng cũng là một bản anh hùng ca về ý chí vươn lên, về tình người và lòng nhân ái. Chúng nhắc nhở chúng ta rằng, dù chiến tranh có đi qua, hậu quả của nó vẫn còn đó, và trách nhiệm xoa dịu những vết thương ấy không của riêng ai, mà là của cả cộng đồng.
Hơn cả nghĩa tình
Hiện Tuyên Quang có hơn 3.600 nạn nhân chất độc da cam/dioxin còn sống đang được hưởng chế độ, trong đó có trên 2.000 người là nạn nhân trực tiếp, số còn lại là nạn nhân gián tiếp. Qua rà soát đối tượng “nghi nhiễm” chất độc hóa học còn hàng nghìn người chưa đủ điều kiện công nhận là nạn nhân chất độc da cam. Bên cạnh chính sách trợ cấp hàng tháng từ Nhà nước, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh đã thực hiện tốt vai trò là cầu nối nghĩa tình, mang hơi ấm đến những số phận kém may mắn. Hội không ngừng vận động và huy động nguồn lực từ cộng đồng để cung cấp sự hỗ trợ thiết thực về vật chất và tinh thần, từ xây nhà tình nghĩa đến hỗ trợ sinh kế. Song song đó, Hội còn tuyên truyền mạnh mẽ để nâng cao nhận thức xã hội về nỗi đau da cam, đồng thời hỗ trợ giải quyết chế độ chính sách một cách minh bạch, hiệu quả. Đặc biệt, Hội còn dũng cảm đấu tranh đòi công lý cho các nạn nhân, khẳng định vai trò then chốt trong việc xoa dịu vết thương chiến tranh và thắp lên hy vọng cho những cuộc đời tưởng chừng bị lãng quên.
Với phương châm hoạt động “sát cơ sở, thân doanh nghiệp, gần nhà hảo tâm” các cấp hội đã huy động từ nhiều nguồn tham gia ủng hộ xây dựng Quỹ Nạn nhân, trong 10 năm được gần 67 tỷ đồng, Hội đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực như: xây mới, sửa chữa nhà cho hội viên; trao tặng quà bằng các hiện vật thiết thực trong cuộc sống; hỗ trợ khám chữa bệnh, cấp xe lăn, xông hơi giải độc, chăm sóc, nuôi dưỡng nạn nhân thế hệ thứ hai, tặng sổ tiết kiệm, hỗ trợ vốn sản xuất, trợ cấp khó khăn đột xuất, góp phần giúp các gia đình hội viên thoát nghèo, vươn lên ổn định cuộc sống.
Tỉnh Hội và các cấp hội đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng tiếp nhận hàng nghìn hồ sơ giám định, trong đó có hơn nghìn hồ sơ đủ điều kiện được chuyển sang Hội đồng giám định y khoa tỉnh, và đã có gần 2.000 người được kết luận mắc bệnh liên quan đến chất độc da cam/dioxin, đủ điều kiện hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Trong đó người trực tiếp tham gia kháng chiến suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên là gần 150 người.
Mười năm nhìn lại là một hành trình đầy gian nan nhưng cũng đầy tự hào của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Tuyên Quang. Bằng tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái và sự tận tụy không ngơi nghỉ, cùng với sự đồng hành của cả hệ thống chính trị, Hội đã thực hiện được nhiều việc làm thiết thực, góp phần xoa dịu nỗi đau da cam - một trong những vết thương dai dẳng nhất còn lại sau chiến tranh - đồng thời lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc, cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Chặng đường phía trước còn dài và nhiều thử thách. Nhưng với tinh thần đoàn kết, sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, sự đồng hành của cộng đồng, chắc chắn Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh sẽ tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối nghĩa tình, là mái nhà chung ấm áp của những số phận kém may mắn do hậu quả chiến tranh để lại.
T.H - M.H