Truyện ngắn của Nguyễn Trần Bé

Mấy ngày nay trên cánh đồng thôn An Tân xuất hiện một bà già suốt ngày cặm cụi làm một việc không ai khiến, chẳng ai nhờ là đi nhặt những vỏ chai thuốc trừ sâu, những mảnh thủy tinh vỡ, những chiếc túi giấy bóng mà người ta vứt la liệt khắp các xứ đồng, soi bãi, bỏ vào chiếc bao tải dứa. Có ai hỏi, bà nhặt những thứ ấy làm gì? Bà cười mà rằng, nhặt để vứt đi. Mà đúng là bà vứt đi thật. Khi nhặt đầy bao tải, bà lặc lè lôi ra ngoài ghềnh Hoàng Mã, thả xuống Giếng Trời. Tên “Giếng Trời” là do bà gọi, chứ thực ra đó chỉ là một vực sâu không có đáy, là nơi đổ rác của cả làng An Tân - một cái làng toàn dân ngụ cư ở khắp nơi tụ về, mang theo biết bao chuyện lạ kỳ.
Một trong những chuyện lạ đó chính là bà già nhặt rác này. Sự kỳ lạ của bà không chỉ là việc nhặt chai lọ, mảnh thủy tinh và bao bì thuốc trừ sâu ở khắp các xứ đồng để vứt đi, mà nó còn toát lên ở dáng vẻ khác thường của bà. Lưng bà cong như con tôm đã rang chín. Tóc bạc một nửa mái đầu, nửa kia còn xanh nguyên. Hàm răng dưới của bà còn đủ cả, nhưng hàm trên thì chẳng còn chiếc nào. Bà có thể cầm đũa được cả hai tay. Chân trái bà dài hơn chân phải chừng nửa gang, khi đi cứ khục khặc, lặc lè. Bà nói rất lắp. Nhiều lúc để nói một câu, bà phải “lấy đà” hàng chục câu. Có khi vì vậy mà bà ít nói chuyện với mọi người xung quanh. Bà ăn uống rất thất thường, đa phần nấu một bữa ăn cả ngày, thức ăn chủ yếu là rau, mắm, thỉnh thoảng mới có tí “chất tươi” do bà tự kiếm được (có thể là vài con cua, lưng giỏ ốc, mấy con cá rô cờ, hoặc là một con ếch nhỏ...). Bà thường từ chối sự giúp đỡ của mọi người, với lý do: “Có người còn khổ hơn tôi, hãy nhường phần giúp tôi cho họ…”. Ăn uống kham khổ, nhưng “nói trộm vía”, bà chẳng mấy khi ốm đau. Bà không còn ai thân thích, một mình sống bằng hai sào ruộng tốt (ưu tiên cho gia đình chính sách) và tiền trợ cấp của Nhà nước dành cho vợ liệt sĩ. Ngoài ra bà còn tăng gia thêm từ mảnh vườn quanh nhà theo kiểu mùa nào thức nấy. Trong các việc nhà nông, bà giỏi nhất nhổ mạ. Mạ bà nhổ chẳng bao giờ gãy rập, đứt gốc, lại thuôn đều và sạch đất khiến những người đi cấy rất thích. Mỗi vụ gieo cấy, bà thường đổi công nhổ mạ cho những nhà nhiều trai tráng để họ cày bừa cho mình.
Gần đây làng An Tân có phong trào làm đường và mương bê tông, theo thể thức “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”. Bà cứ nằng nặc đòi Trưởng thôn cho
tham gia. Mọi người cười ồ. Bà nghiêm mặt bảo, tôi già yếu không làm được việc nặng thì làm giám sát. Mọi người lại cười ồ. Nhưng Trưởng thôn không cười. Sau một hồi suy nghĩ, ông nói: “Tôi đồng ý với ý kiến của bà. Việc làm đường và mương bê tông cần phải có người giám sát mới đảm bảo chất lượng”.
Từ bữa đó người ta thấy bà già thường xuyên đi kiểm tra, giám sát việc thi công đường và mương bê tông. Bà kiên quyết bắt những tổ, đội nào làm kém chất lượng, sai quy cách phải làm lại. Mấy thanh niên quen làm ẩu tỏ ra khó chịu với bà, có người nghĩ đến chuyện đưa tiền lót tay để bà bỏ qua. Bà trừng mắt quát, chúng mày đừng có giở trò mà chết với tao! Mấy thanh niên nọ
căm lắm. Có đứa định nổi xung với bà, nhưng lại không dám, vì bà làm đúng phận sự, lại là đối tượng chính sách, là người trái tính trái nết, động vào bà khác nào động vào tổ kiến lửa!
Thôn An Tân được báo cáo điển hình về thành tích làm đường, làm mương bê tông chất lượng tốt tại Hội nghị tổng kết của xã. Trưởng thôn được ủy ban nhân dân huyện tặng Giấy khen, nhưng ông không nhận. Ông phát biểu rằng, công đầu là của bà già, phải thưởng cho bà mới đúng. Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện về dự hội nghị, hỏi Trưởng thôn:
- Bà già ấy ở đâu? Sao không cử bà ấy đi dự hội nghị?
Trưởng thôn nói nhỏ:
- Bà già này không bình thường. Chúng tôi sợ đến hội nghị bà ấy nói linh tinh sẽ làm hỏng việc lớn của xã.
- Không bình thường sao bà ấy lại làm tốt được việc giám sát công trình? - Phó Chủ tịch huyện hỏi.
Trưởng thôn không trả lời được. Phó Chủ tịch huyện quay sang hỏi Chủ tịch xã, ông này cũng không giải thích được. Phó Chủ tịch huyện nổi nóng:
- Các anh thấy chưa? Người làm tốt thì để ở nhà, người làm làng nhàng thì đi dự hội nghị. Như thế thì tổng kết chính xác làm sao được?
Chủ tịch xã và Trưởng thôn ngượng chín mặt mà chẳng cãi được câu nào, đành hứa với Phó Chủ tịch huyện sẽ nghiêm túc rút kinh nghiệm!
Phó Chủ tịch huyện lắc đầu, cố nén tiếng thở dài. Lát sau ông bảo:
- Tôi muốn về thôn An Tân gặp bà già này, nhân thể thăm một số con mương và đường bê tông ở đó. À, mà bà ấy tên là gì nhỉ?
- Dạ, là bà Hiên chèo ạ. - Trưởng thôn nói.
- Sao lại là Hiên chèo?
- Dạ, vì ngày trước bà ấy hay hát chèo, anh ạ.
*
… Hiên hồi trẻ rất đẹp. Cưới chồng được một tháng thì chồng Hiên đi bộ đội. Cặp uyên ương Hiên - Sân ngày ấy đẹp đôi nhất làng. Chàng cao to, khỏe mạnh, thổi sáo trúc rất giỏi. Nàng thắt đáy lưng ong, tóc dài óng ả, làn da trắng mịn. Đặc biệt nàng có giọng hát chèo hay nổi tiếng làng xã. Chẳng biết từ lúc nào dân làng đã gọi tên Hiên gắn liền với chữ chèo, thành Hiên chèo. Những đêm tập hát chèo đã đưa họ đến với nhau, yêu thương, trao thân gửi phận cho nhau.
Hôm tiễn chồng vào Nam đánh giặc, Hiên khóc như mưa. Tình duyên của họ đang độ nồng nàn thì anh Sân phải đi xa. Dáng vẻ âu lo, buồn rười rượi của Sân khiến nhiều người ái ngại. Mấy kẻ vốn ghen tỵ với mối tình của Sân - Hiên rì rầm to nhỏ những lời độc địa, rằng không sớm thì muộn Sân cũng sẽ đào ngũ, vì khó mà xa được cô vợ đang hừng hực yêu đương, đang khát khao tình ái; rằng người như cô Hiên, lúc nào cũng mơn mởn xuân sắc, nhìn đã thấy toát lên vẻ phồn thực đầy quyến rũ, không sớm thì muộn cũng sẽ bỏ nhà theo trai… Những phụ nữ có cùng cảnh ngộ “ép xác” chờ chồng đi B, nhìn cặp vợ chồng trẻ bằng ánh mắt cảm thông xen lẫn lo lắng. Họ dìu Hiên về nhà, nơi cuối làng…
Suốt mấy tháng ròng, ngày nào Hiên chèo cũng ra bưu điện xã ngóng thư Sân. Hôm nào cô nhận được thư chồng thì cả làng đều biết. Cô hò hét, chạy nhảy tứ tung như trẻ nhỏ. Những hôm không nhận được thư Sân thì ngược lại, cô lầm lũi như một cái bóng. Có lẽ thời kỳ này là sự thử thách lớn nhất đối với Hiên. Người cô gầy rộc, tóc tai rũ rượi, áo quần lếch thếch. Cô chẳng thiết làm, chẳng thiết ăn, cũng chẳng thiết hát. Nét đẹp mê hồn của cô chẳng biết biến đi đâu, thay vào đó là một thân hình khô khẳng, cùng vẻ mặt vô hồn. Nhưng rồi cuộc sống cứ tiếp diễn, cô vẫn phải sống để chờ chồng, để “làm việc bằng hai”, để hoàn thành trách nhiệm của người ở hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Hiên buồn làm mọi người buồn lây. Hồi trước, cứ chiều chiều dân làng An Tân lại được nghe tiếng hát chèo ngọt ngào của cô. Đêm đêm được nghe tiếng sáo vi vu, réo rắt của Sân. Những chiều “bè nhà nước” xuôi qua khúc sông làng, mọi người thường được nghe tiếng cô Hiên chèo hò trêu những anh lái bè. Những câu hò kiểu như: “Bè trôi lờ lững trên sông/Có cô em gái đứng trông anh bè”, hoặc: “Ba xu một mớ rau dền/Anh hò thì ít anh rên thì nhiều”… cô nhại đi nhại lại không biết bao nhiêu lần mà người nghe vẫn thấy thích. Cô hò hay đến mức có anh lái bè mê mẩn bỏ cả bè bơi vào bờ xem mặt người con gái tài hoa. Hò chán cô lại đùa bằng những câu đại loại: “Anh bè ơi, có lấy chị em không?” Khi anh bè hỏi: “Chị em tên là gì?” Hiên cười hinh hích mà rằng: “Chị em là láng đầu chò”…
Nay thì tiếng hát ca, các trò vui như vậy không còn nữa, làm cho mọi người nhớ và buồn. Cánh lái bè lâu lâu không thấy tiếng hò của Hiên chèo, nhớ đến độ thả neo bơi vào bờ để tìm người con gái có giọng hát đắm say, mê hoặc lòng người.
Lợi dụng hoàn cảnh của Hiên, mấy kẻ háo sắc ở làng đêm nào cũng mò đến nhà cô ve vãn, tán tỉnh. Họ nghĩ rằng, người phụ nữ có cái vẻ phồn thực và hừng hực như cô thì không thể chịu nổi sự đòi hỏi của xác thịt khi xa chồng. Giống như những nhà sinh lý học, họ lập luận rằng, nếu cô Hiên chưa lấy chồng có thể không sao, nhưng sau khi đã “ăn dở hơi chồng”, đã “nếm mùi đời” thì khó lòng mà chịu được những cơn thèm khát nhục dục. Nhìn bề ngoài và nhìn vào mắt Hiên ai cũng thấy hình như những kẻ háo sắc kia nói đúng. Nhưng trái với mọi dự đoán của người đời, Hiên vẫn vững vàng vượt qua tất cả mọi sự cám dỗ. Không một kẻ “ham của lạ” nào ve vãn nổi cô. Trước sự “vô cảm” của Hiên, mỗi người đưa ra một luận giải khác nhau. Có người cho rằng vì cô quá yêu chồng; người thì bảo cô là một phụ nữ biết trọng danh dự; kẻ khác lại khẳng định cô sợ thiên hạ đàm tiếu, chê cười; những gã ưa tiếu lâm thì một mực lý giải rằng, tại nhiều người đến nhòm ngó quá, bị “chạm trán” liên tục thành ra chẳng kẻ nào đắc lợi… Thôi thì lý do gì cũng được, miễn là cô “thủ tiết” chờ chồng từ nơi chiến trận trở về.
Đêm hè thanh vắng. Dưới ánh trăng mờ, Hiên bơi ra gò nổi giữa dòng Lô - nơi cát bồi lẫn phù sa màu mỡ. Nàng lặng lẽ cởi bỏ hết áo quần rồi trườn mình xuống nước, hóa thành “Con gái của Thủy thần”. Nàng quẫy đạp, lặn ngụp dưới dòng nước màu cam. Rồi nàng chồm lên bờ cát trắng, quăng tấm thân ngọc ngà xuống đó, vòng hai tay ôm lấy cát, quằn quại. Thân thể nàng giật lên điên loạn. Nàng thở phì phò, hồng hộc, đôi bàn tay ghì chặt những gốc cây lưỡi bò, cây lá trắng. Nàng nhổ bật hết những gốc cây nào mà nàng nắm được.
Sau chừng nửa giờ hóa dại, nàng như được thỏa mãn, nằm dang rộng chân tay, ngửa mặt ngắm những vì sao lấp lánh. Đôi bầu nhũ tiên trắng ngần của nàng căng mọng, nở vểnh một cách kiêu hãnh, lấp lóa ánh trăng đầu hạ. Hai bàn tay nàng vuốt ve trên đôi bầu vú tròn trịa, hồng tươi mơn mởn, rồi lướt xuống cặp đùi nần nẫn, thon dài, trắng như trứng bóc bám đầy những hạt cát lóng lánh. Gương mặt nàng sáng lên, tươi rói.
Sau mỗi lần tắm ngoài gò nổi (nàng chỉ tắm ở đó mỗi khi quá thèm chồng), gương mặt Hiên chèo ngày càng đẹp hơn, đầy sức quyến rũ, khiến cho những kẻ háo sắc càng thêm thở dài và nuốt nước bọt mỗi khi nhìn thấy nàng. Nghe đồn, trong một lần nào đấy có kẻ tình cờ bắt gặp Hiên chèo tắm ngoài gò nổi. Hắn nín thở nhìn trộm. Một “tòa thiên nhiên” cực đẹp hiện lên trước mắt làm cho hắn bần thần và run lên bần bật. Hắn toan nhào đến để chiếm đoạt một kiệt tác của tạo hóa, nhưng chẳng hiểu sao đôi chân hắn không thể nhúc nhích. Hắn khuỵu xuống. Rồi dường như không thể chịu được cơn khát thèm của gã đàn ông trung niên, hắn nằm vật xuống, úp mặt ôm lấy bãi cát, gồng mình nhấp nhổm, giật lên hưng hức. Sau sự thỏa mãn bằng một cơn mê sảng, hắn ôm lấy “của quý” rên hừ hừ.
Nhận được giấy báo tử của chồng, Hiên chèo như người mất trí. Khóc chán cô lại cười. Đêm nào cô cũng ra tắm ở gò nổi. Có lần cô quên cả mặc áo quần, cứ trần trụi như nhộng về nhà. Bà con dân làng và những người cùng cảnh có chồng hi sinh nhìn cô thương xót. Họ dành cho cô sự đùm bọc, che chở đặc biệt, bởi cô không còn ai thân thiết ngoài người chồng đã vì nước quên thân!
Hiên quẫn trí nhảy xuống Giếng Trời. Ai cũng nghĩ cô đã chết, bởi đáy cái giếng ấy thông xuống dưới sông! Vài tháng sau mọi người hết sức bất ngờ khi thấy Hiên chèo lững thững về làng, trong tình trạng của một phế nhân. Chân phải Hiên bị gập khúc, nổi cục ở ống đồng, bước đi tập tễnh. Hàm răng trên của cô gãy hết khiến cái miệng méo xệch, mỗi khi nói cứ lập cập, run run… Mấy bà già ở làng khăng khăng bảo đấy là hồn ma cô Hiên chèo. Nhưng không phải ma, đó là cô Hiên chèo bằng da bằng thịt. Với tấm thân tàn tạ ấy, Hiên chèo sống khắc khoải trong vòng tay yêu thương của dân làng cho đến khi thành một bà già…
*
Chủ tịch xã và Trưởng thôn dẫn Phó Chủ tịch huyện đến nhà bà Hiên chèo. Cửa nhà mở nhưng không thấy bà ấy đâu. Lũ trẻ con bảo, bà ấy đang nhặt vỏ chai thuốc trừ sâu và túi giấy bóng ở xứ đồng lụt.
Khi ba người đàn ông đi xe máy trên con đường bê tông ra tới cánh đồng, bỗng nghe văng vẳng tiếng hát chèo của ai đó, giống hệt giọng ca đào xưa, lẫn trong tiếng rì rào của sóng lúa đang thì con gái. Tiếng hát mê hồn, ma mị như từ cõi xưa vọng về. Không thấy bà Hiên chèo ở ngoài cánh đồng!
Bất chợt một bóng chim từ ruộng lúa bay vút lên. Nó cất mấy tiếng kêu khắc khoải trước khi mất hút vào tầng không bao la.
N.T.B
Minh họa của Quảng Tâm
21-10-2025
21-10-2025
21-10-2025
21-10-2025