Bút ký của Tạ Bá Hương

Dễ đến hai năm nay, sau cơn tai biến, ông Nông Hải Dự ở thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên (nay là xã Hàm Yên), tỉnh Tuyên Quang buộc phải ngồi một chỗ. Ngồi một chỗ, ông buồn lắm. Thỉnh thoảng ông mới ra khỏi nhà, nhưng cũng chỉ loanh quanh với mấy người bạn già hàng xóm. Đôi chân từng vào Nam ra Bắc, lặn lội trên các nẻo đường Tổ quốc, trên các chuyến xe đò, hay cúi gập người luồn qua những cánh rừng đại ngàn sâu thăm thẳm, những trận đánh ác liệt, giờ không có điều kiện đi xa nữa. Hai năm nay, người lính già này chưa ra khỏi phố huyện. Những chuyến đi trở thành kỉ niệm đẹp của người lính một đời người sương gió. Với dằng dặc hai mươi năm quân ngũ, ông đã nếm trải biết bao nhiêu sự hi sinh, mất mát của mình, của đồng đội. Vậy nên sau này, khi đã rời quân ngũ, đôi bàn chân ông vẫn mải miết đi. Ông đi bằng tâm thế của một người lính trả nghĩa cho đồng đội của mình đã ngã xuống, mà xương thịt của họ vẫn còn nằm lại rải rác trên khắp các rẻo đất của Tổ quốc. Có những chuyến đi thất bại. Cũng có chuyến đi thành công, mang lại niềm hạnh phúc lớn lao cho ông. Bởi ông luôn tâm niệm rằng, mỗi lần tìm được mộ phần đồng đội, được đưa các anh về nằm lại trên quê nhà, là mỗi lần ông trả được nghĩa cho những người ngã xuống vì quê hương, xứ sở. Một ngày ông còn sống là một ngày ông đang nợ họ. Thế nên còn sức khỏe, ông đều tranh thủ tìm về các chiến trường xưa, vừa thăm lại nơi ông từng chiến đấu, vừa xác định tọa độ nơi đồng đội ông hi sinh tại đó. Cứ lặng lẽ như vậy mà thấm đẫm bao nhiêu tình người, tình đồng chí với nhau. Ông đi nhiều đến nỗi bà vợ ông còn bảo:
- Hoa chân ông nhiều hơn người khác.
Ông bảo:
- Họ đã hi sinh để tôi còn được sống đến ngày hôm nay đấy.
Bà nói vậy cho vui thôi, chứ thực tế thì những việc ông làm vì nghĩa tình đồng đội, bà đều ủng hộ ông cả. Bà chưa một lần chê trách ông vì điều đó. Mỗi lần ông có ý định về lại chiến trường xưa để tìm đồng đội, bà đều sốt sắng chuẩn bị cho ông đủ thứ. Mấy bộ quân phục cũ đều được bà là lượt phẳng phiu. Biết sức khỏe ông không tốt khi tuổi già đang sầm sập ùa về, bà lại ra phố huyện mua cho ông vài vỉ thuốc bổ. Tất cả được bà cẩn thận xếp vào chiếc túi khoác để ông không phải lo lắng trong từng chuyến đi dài ngày. Ông biết ơn bà nhiều lắm, người vợ mà ông gặp trên mặt trận Lào Cai năm nào đã luôn ở bên ông, chăm sóc cho ông suốt mấy chục năm qua. Dẫu nhà nông còn nhiều vất vả, khó khăn, nhưng ông bà luôn biết bù đắp và mang lại hạnh phúc cho nhau. Số tiền ông gom góp cầm đi để về lại chiến trường xưa đều là tiền bà dành dụm từ việc thu hoạch nông sản trong vườn nhà. Có lần, bán vụ thanh long được mười lăm triệu, bà đưa cả cho ông cầm mang đi. Ông bùi ngùi không nỡ. Sinh hoạt hàng ngày của hai vợ chồng đều trông cả vào nương chè, vườn thanh long, nếu ông cầm đi, bà sẽ lấy gì chi tiêu trong quãng thời gian ông đằng đẵng xa nhà. Tính ông hay lo xa, lại thương bà, vì ông mà một đời chịu nhiều vất vả. Bà biết tính ông, nên cố gặng:
- Ông cứ yên tâm, tôi xoay sở được.
Hôm tôi đến chơi nhà, ông bảo:
- Tuổi thơ tôi vất vả, thiếu thốn tình cảm. Cũng may sau này giời cho tôi may mắn có được bà ấy.
Đôi mắt ông chợt trũng sâu, đượm buồn. Một quãng người thơ dại hiện ra với rất nhiều biến cố. Ở đó là một góc phố huyện nghèo nàn, lưa thưa những mái nhà lợp bằng rơm rạ. Con đường nhỏ, mùa mưa thì lầy lội, nắng lên thì bụi đất đỏ bay mù mịt. Phố huyện nhưng chỉ khác các vùng nông thôn lúc bấy giờ là có thêm vài hàng quán, bán những thứ lặt vặt. Ông sinh ra và lớn lên ở cái góc phố nghèo túng ấy. Cha mất sớm, mẹ đi thêm bước nữa, cậu bé Dự phải theo mẹ ở với dượng. Trong con mắt trẻ thơ non nớt, kí ức về dượng hiện lên là một người đàn ông vũ phu, với những trận đòn roi đều như cơm bữa. Nhưng có một điều mà cậu bé Dự luôn biết ơn dượng, biết ơn mẹ là cả hai người vẫn cố gắng cho Dự đi học chữ Bác Hồ ở ngoài phố huyện. Hàng ngày, sau những buổi cắp sách tới trường, cậu bé lại theo đám bạn lít nhít trong xóm nghèo, lùa trâu đi chăn thả trên các khu rừng, hay trên cánh đồng sau vụ gặt. Tuổi thơ tinh nghịch, thích chơi trận giả, đóng vai người lính chiến đấu. Trò chơi trận giả vô tình thấm vào ý nghĩ non nớt của một cậu bé chưa một lần ra khỏi phố huyện. Hình ảnh người lính Cụ Hồ hiện ra, ám ảnh cậu bé trong suốt quãng đời tuổi thơ của mình. Do đó, khi đang học lớp bảy trường huyện, cậu bé Dự quyết định bỏ học, xung phong vào quân ngũ. Lúc ấy cậu bé mới vừa bước sang tuổi mười tám, cái tuổi bồng bột và nhiều hoài bão. Đó là vào năm một nghìn chín trăm sáu mươi bảy, thời điểm mà cả nước đang tập trung sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân năm sáu tám.
Dù chưa hình dung hết những vất vả của người lính trận, nhưng Nông Hải Dự vẫn quyết tâm rời bỏ góc phố huyện nghèo nàn, sẵn sàng hành quân ra chiến trường. Sau khi tham gia huấn luyện năm tháng tại Tuyên Quang, chàng trai phố huyện Hàm Yên được bố trí vào Đại đội hai, Tiểu đoàn hai hai, trực thuộc Sư đoàn một. Đây là đại đội pháo binh, được lệnh hành quân cấp tốc vào Tây Nguyên. Dòng dã hàng tháng trời, cuối cùng mảnh đất Tây Nguyên với đặc trưng là vùng đất đỏ Bazan, đầy nắng gió và cả sự chết chóc cũng dần hiện ra trước mặt. Vốn tính thông minh, chỉ sau một năm bước vào đời quân ngũ, ông đã trở thành pháo thủ DKR. Trong đội hình này, ông và đồng đội dựa vào rừng núi để chiến đấu. Trận đầu tiên của ông trên vùng cao nguyên trung phần này là trận đánh vào cứ điểm của Mỹ tại Chư - chu - ta - ra - cờ - leng của tỉnh Kon Tum (nay là tỉnh Bình Định). Đó là trận đánh vào đêm mùa khô. Đêm ấy, trời tối đen như mực. Rừng cao nguyên trung phần như giấu vào trong lòng bao sự bí hiểm. Đêm oi nồng, khô khát, thỉnh thoảng mới có vài cơn gió nóng thổi qua những cánh rừng xào xạc. Đêm ấy súng nổ, cả bầu trời Kon Tum như vỡ toạc ra, sáng rực. Pháo nhả đạn, đất đai bị cày xới tung lên, cây cối từng chùm đổ gục xuống trước sức công phá của lửa đạn. Bộ đội bộ binh nhanh chóng di chuyển, tiếp cận với từng mét đất. Đại đội pháo của ông nhịp nhàng bắn yểm trợ. Ròng rã suốt nhiều ngày, trận đánh trở nên ác liệt, thương vong của bộ đội ta và cả quân Mỹ - Ngụy mỗi ngày một nhiều lên. Đại đội quyết định cử ông và một số pháo binh phối hợp làm nhiệm vụ cõng thương binh ra vùng an toàn. Cả một không gian với tiếng nổ, khói bụi và tiếng thét gọi nhau thất thanh khi đạn lửa ken dày, đan nhau.
Sau chiến dịch Tây Nguyên vào mùa khô năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám, đơn vị ông được điều xuống miền Đông Nam bộ. Từ cao nguyên trung phần xuống đồng bằng là cả một hành trình dài. Những người lính như ông đêm ngày hành quân qua những cánh rừng già, nơi sự bất trắc có thể đến bất cứ lúc nào. Muỗi, vắt hoành hành, sốt rét rừng ác tính ập đến, cướp đi sinh mạng người lính khi tuổi đời còn rất trẻ. Rồi, phải cảnh giác với những ổ phục kích của địch. Người lính buộc phải vượt qua bằng kinh nghiệm sống và cả kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường. Với Tây Nguyên, nơi được coi là “nóc nhà Đông Dương”, người lính còn có thể dựa vào rừng núi hiểm trở để tác chiến thuận lợi, còn giờ đây, khi hành quân xuống miền đông Nam bộ, nơi chỉ có đồng bằng và sông nước, đó sẽ là những trở ngại lớn cho ông, cho đồng đội của ông, vốn chỉ quen với rừng, với núi. Bàn chân ông vẫn lặng lẽ bám theo đội hình hành quân. Khi chưa kịp đặt chân xuống đến miền đông Nam bộ, thì tại Tây Ninh, đơn vị của ông đã kịp tham gia trận đánh vào Sóc Con Trăng. Đây là một sóc Khơ - me có từ khá lâu đời. Sau khi ổn định biên chế tổ chức và làm nhiệm vụ nghiên cứu chiến trường, đơn vị của ông được giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt căn cứ này, căn cứ nằm bên bờ suối Tông Lê Chân, một ngọn suối sát đầu nguồn sông Sài Gòn. Tại đây quân Mỹ xây dựng một cụm chốt dã ngoại kiên cố nhằm ngăn chặn quân chủ lực ta, trực tiếp uy hiếp Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở phía Tây. Lực lượng ở đây có hai Tiểu đoàn bộ binh thuộc sư đoàn số một “Anh cả đỏ” Mỹ, với hàng chục xe tăng, xe bọc thép được bố trí bên trong hàng rào thép gai kiên cố. Trận này, bộ đội ta diệt được tám mươi phần trăm mục tiêu của Mỹ, trở thành trận đánh đẹp nhất trong cuộc đời quân ngũ của ông, với sự phối hợp chặt chẽ giữa pháo binh, bộ binh, công binh và đặc công.
Thắng lợi của từng trận đánh sẽ mang lại khí thế lớn cho người lính. Nhưng cuộc đời cầm súng không phải lúc nào cũng có được niềm vui đó. Sự mất mát, hi sinh luôn hiện hữu đối với họ. Ông Dự cũng luôn ý thức được điều đó. Tuy vậy, bản chất người lính Cụ Hồ đòi hỏi ông và đồng đội của ông sẵn sàng chấp nhận sự hi sinh, mất mát của bản thân chỉ với mục tiêu là đánh đuổi kẻ thù, giải phóng dân tộc, nước nhà được độc lập. Bàn chân ông đã lặng lẽ lội khắp chiến trường Tây Nguyên, xuôi về chiến trường miền đông, miền Tây Nam bộ, rồi sang chiến đấu tận Xiêm Riệp, Kampong Cham của nước bạn Cam Pu Chia. Trên cơ thể của ông cũng từng bị mảnh bom Mỹ găm sâu vào da thịt trong trận địch phục kích. Cái đau đớn về thể xác cũng không thể nào đau đớn hơn nỗi đau tinh thần khi sau mỗi trận đánh, đồng đội của ông cứ dần vơi đi. Mỗi vị trí chiến đấu thừa ra khoảng trống, lại tiếp tục được bổ sung, lấp đầy. Mỗi ngày chứng kiến đồng đội ngã xuống, lòng ông lại như có dao cắt. Trong những câu chuyện chiến trường năm xưa, kí ức của người lính già luôn dội ngược về mảnh đất miền Tây Nam bộ đầy nắng gió và cả sự chết chóc. Đó là cái đêm mưa tầm tã. Mưa xối xả. Cả bầu trời miền tây chìm trong mưa bão, khiến những ngọn núi trước mặt cũng chỉ nom thấy một màu xám đục.
Dịp ấy cũng đang cữ mùa thu. Sau chuỗi ngày khô khát, bầu trời như xé toạc ra bởi cơn mưa lớn dữ dội. Đêm mưa cứ vời vợi một nỗi niềm ma mị. Ông và một đồng đội có tên là Lê Minh Phúc (sau này hi sinh khi vừa kịp giải phóng Sài Gòn chưa đầy một năm) cứ vén màn mưa mà đi về phía Bàu Cỏ. Nhiệm vụ cấp trên giao cho ông và người chiến sĩ Lê Minh Phúc là bằng mọi cách để đưa thi thể hai chiến sĩ hi sinh hiện đang bị địch giữ lại. Địa điểm mà địch đóng quân là khu vực bãi cỏ gianh lấp xấp, việc tiếp cận địa điểm này là bài toán rất khó. Chỉ cần một sơ xuất nhỏ sẽ có thể mất mạng như chơi. Những khẩu DKZ trên đài quan sát, với họng súng đen ngòm, chĩa khắp bốn phía, sẵn sàng nhả đạn khi thấy có điều gì nghi vấn. Hai người lính trẻ lầm lũi đi trong mưa, đến gần địa điểm địch canh giữ thì cả hai cùng nằm xuống, bò dọc theo bãi cỏ gianh, nhẹ nhàng tiếp cận mục tiêu. Mưa càng lúc càng to. Mưa vô tình trở thành người bạn đồng hành, làm khuất tầm nhìn của địch. Càng vào gần, mùi tử thi càng bốc lên nồng nặc. Đã mười ngày nay, hai đồng đội của ông bị phơi nắng, phơi mưa, thi thể đã phân hủy mạnh. Họ đã anh dũng ngã xuống trên đường đi tuần tra và chẳng may rơi vào ổ phục kích. Trong đoàn đi hôm ấy có cả thảy năm người. Hai người đi đầu là Tiểu đội trưởng Hà Tiến Thiên (quê Thái Nguyên) và Tiểu đội phó Dương Văn Cội (quê Phú Thọ) bị hi sinh tại chỗ. Người đi thứ ba là Lương Văn Họp, quê Ninh Bình thì bị thương vào đầu, máu chảy ròng ròng. Hai người đi sau cùng may mắn hơn khi họ trở về đơn vị an toàn. Số hi sinh thì bị địch thu giữ xác, nên suốt mười ngày ròng rã, đơn vị ông không thể nào tiếp cận, đưa các anh về chôn cất được. Do đó, khi trời đổ mưa xuống, mọi người trong đơn vị đều xác định, đây là thời điểm tốt nhất để thực hiện trách nhiệm với đồng đội đã hi sinh mà thân xác vẫn còn nằm trong sự quản lý của địch.
Đêm càng về khuya, mưa càng nặng hạt. Ông và chiến sĩ Lê Minh Phúc cứ vạch cỏ gianh ra mà trườn. Mưa nhanh chóng xóa đi vết chân. Mưa làm khuất tầm nhìn. Mưa giấu đi những tiếng động lạ nơi Bàu Cỏ. Khi tiếp cận được mục tiêu, cả hai người chụm đầu vào, phân công nhau chớp nhoáng. Ông sẽ tiếp cận xác Tiểu đội trưởng Hà Tiến Thiên, còn anh Lê Minh Phúc tiếp cận xác Dương Văn Cội. Lúc này thì cả hai cái xác đã trương phềnh, biến dạng, bốc mùi khó chịu. Ông lặng lẽ khóc, ông khóc không phải vì nhiệm vụ nặng nề mà ông khóc vì niềm tiếc thương cho đồng đội hi sinh. Lật cái xác lên, ông bàng hoàng khi phát hiện một quả lựu đạn địch đã cài trước đó dưới lưng tử sĩ. Kíp nổ vừa bật ra, ông nhanh chóng đưa tay nắm chặt lấy, rồi dùng cỏ quấn quanh kíp nổ, kịp ngăn chặn cái chết đang đến rất gần. Nếu bây giờ mang xác ra, địch sẽ dễ phát hiện. Bởi vậy ông và Lê Minh Phúc buộc phải đào đất, chôn các anh tại chỗ. Chôn cất xong, bò được ra khu vực an toàn thì trời ngớt mưa. Dường như ông trời cũng đang lặng lẽ hỗ trợ người lính đi tìm thân xác người lính. Nếu giả sử khi đang chôn cất tử sĩ, trời tạnh mưa, tầm nhìn thoáng hơn, thì một điều chắc chắn rằng, ông và đồng đội của mình sẽ không còn có cơ hội nào để trở về được nữa. Dù sau này, khi có độ lùi về thời gian, nhiều thứ quên đi bởi tuổi tác, nhưng những câu chuyện và những kỉ niệm về đời quân ngũ thì vẫn còn đọng mãi. Nó luôn là thước phim rõ nét, đưa ông trở về với quá khứ đầy bi thương, nhưng cũng rất hào hùng. Ông bảo:
- Chúng tôi đi với khí thế của tuổi trẻ, hăng hái và hồn nhiên lắm, nhưng cũng mất mát nhiều lắm.
Tôi hỏi:
- Vậy đây là lý do để ông làm công việc đi tìm đồng đội?
- Đúng. Tôi đang trả nghĩa cho đồng đội. Tiếc là sức mình có hạn anh ạ.
Chạm vào mạch nguồn quá khứ, lòng ông đượm buồn. Đôi mắt ông nhìn ra khoảng sân rộng trước nhà, như cố tìm lại một cái gì đó thật thiêng liêng, cao cả, được cất giữ bấy lâu nay trong tâm trí của người lính già. Một đời phong trần, gắn bó mười tám năm binh nghiệp, tham gia và chứng kiến hàng chục trận đánh khác nhau, hiểu thấu đáo giữa cái sống, cái chết, nên ông luôn trân trọng giá trị của cuộc sống này. So với đồng đội hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông thấy mình quá may mắn. Ông bảo, những việc ông làm vì đồng đội vẫn còn quá bé nhỏ so với sự hi sinh tính mạng và tuổi trẻ của họ. Bởi vậy, từ số tiền Nhà nước chi trả chế độ bệnh binh cho ông, ông cố gắng dành dụm cho những chuyến đi vào chiến trường Tây Nguyên, hoặc dọc các chiến trường miền Nam. Có nhiều chuyến đi như vậy mà phải về tay trắng, bởi trên rẻo đất của chiến trường xưa, tất cả mọi thứ đã thay đổi. Từ tên gọi địa danh, đến nhân chứng và địa hình đều bị tác động về mặt thời gian. Nhớ có lần vào Tây Ninh cùng với cán bộ chiến sĩ ở Đội quy tập hài cốt liệt sĩ (Quân khu 7), mặc dù tọa độ được xác định, các phương án được lên kế hoạch cụ thể, nhưng ròng rã suốt hai mươi ngày tìm kiếm, đào bới, những nắm xương thịt của đồng đội hi sinh năm xưa vẫn bặt vô âm tín. Hình như xương thịt những người lính ngã xuống qua các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã hòa vào đất đai Tổ quốc, làm nên màu xanh bất tử trên suốt dặm dài đất nước. Song, cũng có nhiều chuyến đi khá thành công với ông. Đã có chín liệt sĩ hi sinh tại chiến trường Tây Nguyên, miền Nam được ông tìm kiếm, đối chứng, xác định rõ tọa độ, rồi thông tin cho thân nhân liệt sĩ làm thủ tục đưa các anh về nằm lại trên quê hương, bản quán. Ngay tại Hàm Yên quê ông, liệt sĩ Hoàng Văn Đằng, chiến đấu và hi sinh tại Gia Lai, sau mấy chục năm gửi thân xác trên cao nguyên, đã được đưa về an táng tại quê nhà năm hai nghìn không trăm hai mươi hai. Ngày đưa anh về, mẹ Nông Thị Cam cứ khóc vật vã. Đã ngoài chín mươi tuổi, lòng mẹ không ngày nào không nhớ tới người con trai của mình. Lúc anh rời quê lên đường nhập ngũ trong hình hài của tuổi hai mươi yêu dấu, giờ đây, sau mấy chục năm gửi thân xác trên vùng đất nắng gió Tây Nguyên, anh trở về trong hình hài một nắm tro cốt. Lòng mẹ Cam bời bời nỗi đau, nỗi xúc động và cả sự tự hào về đứa con trai mà mẹ rứt ruột đẻ ra. Hôm anh về Hàm Yên, người lính già Nông Hải Dự cũng có mặt bên mẹ Cam.
Nhìn mẹ Cam xới cơm, đặt lên trước di ảnh của anh, mời anh về ăn cơm cùng mẹ mà lòng ông không khỏi xúc động. Ông hiểu nỗi đau của người mẹ mất con. Ông hiểu cái giá của hòa bình, độc lập. Ông cũng hiểu ý nghĩa và trách nhiệm lớn lao của con người trước đất nước, trước cuộc sống hiện tại và cả sự đằm sâu của lịch sử. Bởi thế ông thấy mình cần phải làm nhiều hơn cho đồng đội của mình đã hi sinh. Suốt từ năm hai nghìn không trăm mười ba đến nay, tức là trên mười năm có lẻ, đã có hơn sáu trăm liệt sĩ do ông tìm kiếm thông tin, kết nối làm thủ tục đưa hài cốt các anh sau bao năm không rõ tin tức về quê nhà. Mỗi lần như vậy, ông thấy thêm nhẹ lòng và có thêm động lực. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, khi tuổi già ập đến, ông biết mình không còn đi được xa nữa, nên đã lập trang Facebook cá nhân để kết nối, liên lạc với bạn bè, đồng đội cũ để đăng tải, cung cấp thông tin về mộ liệt sĩ trên nền tảng mạng xã hội, giúp các gia đình ở xa có được thông tin hữu ích. Bên cạnh đó, ông cũng đã kết nối, xây dựng mạng lưới cộng tác viên ở nhiều tỉnh, thành phố, những người có chung hoạt động hỗ trợ, kết nối tìm kiếm mộ phần, giúp thân nhân liệt sĩ có điều kiện quy tập các anh trở về an táng tại quê nhà. Và cứ thế, đôi bàn chân ông lặng lẽ, làm cái việc lặng lẽ. Nhưng chính cái lặng lẽ đó của ông lại ngời lên sắc hương sâu đằm về tình người, tình đồng đội trong suốt một quãng đời sương gió.
T.B.H
21-10-2025
21-10-2025
20-10-2025