Truyện ngắn của Phù Ninh

Minh họa của An Bình
1.
Chàng trai đi chiếc xe đạp địa hình. Đường hẹp men dòng sông. Gió mơn man. Xuống con dốc thoải. Vô thức ngẩng lên. Vầng mây trắng lãng đãng trôi cùng chiều tựa như bạn đồng hành. Đột nhiên chiếc xe chồm lên, làm chàng mất đà ngã xoài xuống. Định thần, thì ra vấp phải hòn đá mồ côi.
May người không xây sát, chỉ một bên bàn đạp tuột bi. Nhặt lắp lại là ổn. Dựng xe, ngồi nghỉ, tựa lưng gốc sung. Chắc hàng trăm tuổi ngọn cao ngút trời, hiếm thấy. Vắng hoe hoắt. Phía phải đường là chằm rộng mang mang. Mặt nước lặng tờ. Ven bờ cỏ rạp mình vàng hoang hoải. Rải rác, mặt chằm những chòm cây lá xanh ngăn ngắt, như chẳng bận tâm đã tiết cuối thu. Loài cây rễ cắm bùn sâu, ngập nước nửa thân, cùng họ với sú vẹt, bần đước. Trầm ngâm. Kiến tạo địa chất thật lắm vẻ. Núi rừng cảnh sắc tựa vùng ven biển. Vừa lúc, một cô gái khăn mỏ quạ che gần kín khuôn mặt. Chỉ nhìn rõ đôi mắt lá răm đen ngời ngợi. Không rõ từ đâu, cô bước nhanh va phải chàng trai. Bất ngờ gặp người lạ nơi lâu nay tưởng là thế giới riêng của mình, đứng sững lại ngượng ngập:
- Tôi vô ý, thật xin lỗi
- Lỗi là ở tôi. Cô làm gì mà đi vội thế?
Giọng không mấy thân thiện:
- Mò cua bắt ốc ấy mà.
Nói rồi cô gái tháo tua rỏ, đổ ốc vào hõm rễ sung. Những con ốc loa vỏ bóng, chồng lên nhau phát ra tiếng lạo xạo. Xách cái giỏ rỗng rượm đi.
- Để thế này không sợ tôi lấy mất sao?
- Người như anh ai đi lấy thứ quê mùa này.
Chàng trai cười:
- Quê mùa giờ là đặc sản đấy. Cô cho tôi là người thế nào mà tin anh ta sẽ không lấy đi số ốc đến mấy cân khi vắng chủ?
- Là là... người không làm hại người khác.
- Cảm ơn nghĩ tốt về tôi. Nếu cho theo đi kiếm ốc với thì hay biết mấy!
- Chỉ sợ người ta ngại lội bùn thôi.
Nghe hai tiếng “người ta”, chàng trai vội xắn quần bước theo. Bùn sâu ngập quá đầu gối. Mép nước thấy lác đác những con ốc há miệng im lìm. Nhẹ tay vớt là bắt được. Hai người chung một chiếc giỏ, đi sát bên nhau. Chàng trai trượt chân va phải làm cô gái suýt ngã. Bèn chữa thẹn:
- Hình như ốc chỉ nổi vào mùa thu?
- Vâng. Ốc ăn sương. Ngày nắng ráo mới nổi. Mùa xuân ốc đẻ trứng, suốt hè chìm dưới đáy chằm.
Chuyện chằm nước, cua ốc, tưởng như không đâu mà lan man quấn quít. Xa trông tưởng họ là một đôi tình nhân. Nắng lên rạng rỡ. Sương tan nhanh. Ốc vội vàng khép vảy, lẳng lặng chìm mất tăm. Trước đó không lâu chúng còn lềnh bềnh khắp mặt nước.
Nửa buổi nhặt ốc, họ đã nên quen. Non trưa, xong việc cô gái mời chàng trai về thăm nhà. Đường vào nhà phải qua một cây cầu tạm. Không phải kiểu cầu khỉ ở Nam bộ, mà là cái mảng hẹp ghép bởi mấy cây mai. Người lạ bước lên, mảng bập bềnh dễ bị ngã. Cô gái vác xe sang trước, quay lại giúp chàng trai. Quanh co đoạn đường khá xa thì hiện lên ngôi nhà ba gian tường gạch lợp ngói âm dương. Nhà hướng ra khu chằm rộng. Nhìn từ xa tưởng đâu là một phần trong dự án bảo tồn làng cổ. Hàng cau lâu năm thân mảnh thẳng tắp, cao vút, yên ả, sang trọng mà bình dị. Gần nhà, bên đường hai rặng duối xén tỉa cầu kỳ, lá xanh thẫm, lấm thấm quả vàng. Sân lát gạch Bát Tràng, ngả màu gan gà. Hai cây mộc thưa cành, mùi thơm thoang thoảng.
Giữa sân, một lão nông, tóc chớm bạc, đang chẻ cây tre dài. Nan đã vót nhẵn xếp thành hàng hong nắng.
Cô gái nói nhỏ:
- Bố em luôn chân luôn tay thế đấy.
Chàng trai bước lên:
- Cháu chào bác. Bác đang làm nan gì đấy ạ?
Ông lão hơi nheo mắt:
- Vâng chào anh tới chơi. Mời vào trong nhà.
Xếp dọn những mẩu tre, nan hỏng đâu đấy, ông lão mới vào tiếp khách.
Cô gái nhanh tay pha nước.
Chủ, khách nhẩn nha uống trà. Cạn lượt chén đầu, ông lão nói:
- Vừa nãy, là lão làm nan đan mấy cái đão. Anh chưa thấy bao giờ phải không. Mà quê anh ở đâu ta?
- Dạ nhà cháu ở mạn dưới, vùng Bạch Lưu, Hải Lựu. Cái đão thì cháu biết chuyên dùng đơm cá rô. Bây giờ đang độ cuối thu, tháng ba mưa rào mới cần đến, sao bác đan sớm thế.
- Đan vào cuối thu, tre, nứa, mai vàu... kiệt nước, đem dùng thì ít bị mọt ăn. Những chiếc đão đan xong là cho ốc vào rồi gác lên bếp. Một công đôi việc.
- Nuôi ốc trên gác bếp. Thế chúng ăn gì để sống ạ?
Ông lão cười rạng rỡ:
- Ăn khói, ăn bồ hóng.
- Lần đầu tiên cháu được nghe chuyện lạ này.
- Ốc nhặt về bỏ vào ngâm nước. Vài ba ngày nhả hết bùn cặn rồi cho vào đão để lên bếp. Bếp đều khói, mới đủ nuôi ốc.
2.
Ông lão tuổi Canh Thân, lấy vợ người Tày. Vợ chồng ở với nhau mới tròn một năm thì bà vội vã ra đi ngay sau ngày vượt cạn, để lại cho chồng hài nhi đỏ hỏn là một bé gái. Ông chật vật nuôi con bằng sữa dê và bắp non. Buồn thương nguôi ngoai. Thoáng chốc đã hơn hai mươi năm. “Để Cha ở một mình sao được”. Thưa với cha như vậy và cô quyết định theo học từ xa chuyên ngành chăn nuôi của đại học Nông nghiệp I. Cầm tấm bằng đại học, nơi mời, nơi gọi, cô đều cho qua.
Đêm qua ông chộn chạo, mãi mới vào giấc. Sáng ra, trời trở. Lay phay mưa. Hun hun gió. Ngó ra ngoài, chàng trai ngần ngừ:
- Con ngại bác nhiễm lạnh. Hay để hôm khác.
- Bác lớn lên ở đất này trải bao khốn khó, mưa gió có là gì.
Nói rồi ông thắt dao, quàng áo mưa, sắn quần cao, rảo bước.
Theo sau, chàng trai cũng phải sải chân mới kịp. Chừng hơn nửa giờ qua những đầm, chằm, hai người dừng lại nơi đỉnh một gò mọc đầy cỏ tranh nổi lên giữa chằm rộng. Thật chẳng khác Tháp Rùa giữa Hồ Hoàn Kiếm. Ở đó vẻ đẹp đài các huyền thoại. Còn đây không gian thoáng đãng vẻ đẹp phóng khoáng hoang sơ.
Vừa may, mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn. Ông lão gấp áo mưa.
- Gò này tên gì ạ?
Câu hỏi làm ông như sống lại thời ấu thơ, hồi lâu mới nói: Như con người vậy, đồng bãi, đồi gò nơi nào chẳng có tên. Chỗ này cỏ gianh mọc um tùm nên thành tên gò Gianh. Vô số gò đồi. Gò Tròn, gò Bánh Xe, gò Cây Trám, gò Cây Trâm, gò Mít, gò Chẩu. Chằm ao cũng thế. Nhiều lắm. Chằm Ắt, chằm Nứa, chằm São, chằm Cũi, chằm Đẩu, chằm Cây Đen... Chằm Mung đây to nhất. Trước kia gọi chằm Mông, sau, nói chại thành chằm Mung.
Chàng trai lắng nghe, ghi nhớ những tên đất lạ, thắc mắc không biết ở đây người dân sinh sống thế nào.
Như đọc được ý nghĩ, ông lão nói:
- Chằm bềnh lầy thụt, người bước xuống còn khó nói gì đến trâu. Cột mấy cây nứa lại, đứng trên đó cuốc từng vầng cỏ, lật ngược, rồi dẫm cho chìm xuống. Chừng vài chục nhát đã hết tầm. Lại phải dịch bè. Ra chằm từ tinh mơ, cuốc được khoảng rộng bằng hai tấm chiếu là mặt trời ở đỉnh đầu. Chằm bềnh rất sẵn cá, tôm. Cá quả, cá trèo đồi có con cỡ bắp chân. Cá rô vây vàng to bằng bàn tay, tôm càng, tôm lỡ, tôm riu, ốc cua, lươn trạch, trai, hến, trẵm trục bốn mùa đều dễ kiếm. Thành ra mệt mỏi vẫn ham làm.
Chàng trai ngập ngừng, sao bây giờ chằm để hoang?
Ông lão, vẻ buồn rượi:
- Người trẻ đi công ty, đi lao động nước ngoài. Trông lên ngó xuống nhà nào cũng toàn ông tóc bạc, bà chân run làm gì nổi với đám ruộng chằm. Một đua nhau vật bùn đắp ao dạo bảo rằng “Nhất canh trì nhì canh viên”. Mạnh ai nấy làm, lấn đất, mất cá. Đến đận nhiễm bệnh cá chết phơi trắng chằm.
3.
Mặt sông Cái mờ mờ hơi nước lẫn sương đêm. Hai cha con, nón lá, chân trần, áo nâu, vai khoắc bị cói lặng lẽ rời nhà. Ra đi vào lúc trời chưa rạng vì không muốn một ai nhìn thấy, sợ hào lý sách hỏi khó dễ, hoặc người quen nói lời ngáng chân. Qua vòm cổng gạch, cha quay mặt lại, khụy gối, hướng vào làng, kính cẩn vái lạy, như thể trước mặt là bài vị thành hoàng hay bài vị tổ tiên dòng họ mình. Con, lầm lụi làm theo. Vái xong, dường như trút được nỗi băn khoăn, là kẻ bỏ làng, họ bước dẻo chân hơn. Làng đâu còn là của họ. Mấy sào ruộng địa chủ bắt nợ không còn một thước. Ở lại làng cầm chắc sẽ chết đói. Phải đi tìm đất sống. Nghe nói, mạn ngược nhiều củ rừng, măng rau ăn sống người. Vạy cứ hướng ấy mà đi. Của nả mang theo nhét cả trong bị, quần cũ, con dao, đấu gạo, bao, lưng bát muối. Dọc đường đói khát, mệt mỏi xiết kể, vẫn mải miết bước. Trước mặt đã thấy ngọn núi che khuất tầm nhìn. Càng đi núi càng như chạy, trêu ngươi, chẳng thể đuổi kịp.
Cuối ngày thứ năm. Trời âm âm u u. Vẻ sắp mưa. Bụng đói, chân mỏi rã rời. Hai đấu gạo đem theo, mỗi ngày chỉ ăn một bữa nay hết sạch. Bát muối còn kín chôn. Chừng đó ai người ta đổi gạo cho. Hai cha con dừng chân chỗ gốc cây sung. Nhìn lên, trên cành loáng thoáng quả chín. Cây sung chắc đến trăm tuổi, dễ cùng tuổi cây đa làng. Bụng bảo dạ thầm reo, đỡ cơn đói rồi. Con cố tìm cách leo lên. Thân cây quá lớn, không có cành thấp để bám tay, cũng chẳng có mấu lấy chỗ đặt chân. Cha bảo, nhặt đá, nhặt đá. Con nhắm ném vào những chùm sung, quả lộp độp rơi. Nhặt ăn ấm bụng. Cây sung có hai bạnh rễ to, cao ngang đầu người, lõm sâu ở giữa. Vơ cỏ trải lên như một cái ổ rơm dưới quê thành chiếc giường khác nào nệm ấm.
Một đêm ăn được, ngủ được, mãi khi sáng bảnh mới thức giấc. Ngơ ngác nhìn xung quanh. Hóa ra đêm qua ngủ bên bờ một vùng chằm nước. Mặt chằm chỗ ngập nước, chỗ um tùm lau lách. Việc đầu tiên tìm kiếm thứ gì bỏ bụng. Lại ném sung. Chẳng được bao lăm. Những cành nhiều quả thì cao, ngoài tầm ném.
Cha con men quanh bờ chằm. Đây đó những con ốc lập lờ mặt nước, lùa tay hớt lấy. Bẻ cành cây khều ốc nổi xa bờ. Vừa chạm là khép vảy chìm mất tăm. Cha nạy vảy, xem, chắc là ốc sống vội chụm củi nhóm lửa.
Ngọn lửa bốc cao xua tan hơi lạnh buổi sáng còn phảng phất. Con định bỏ ốc vào, cha ngăn, chờ lửa lụi, nướng than hồng ốc mới thật chín.
Than vạc. Mùi thơm làm ứa nước miếng. Người cha cạy vảy, nhét thêm hạt muối, đưa cho con. Ở quê, từng quen cua nướng ốc lùi. Hôm là bữa ốc thay cơm, ngon lạ.
Sau bữa, uống ngụm nước chằm, con ghé nón múc lên, cha nói: “Phải chăng Trời bảo, đất sống là đây, còn tìm đâu nữa”.
Và thế là họ trở thành người đầu tiên lập nghiệp ở Như Xuyên, khúc sông không có bên bồi.
Gọi là lập nghiệp chứ một khi đất nước bị ngoại bang thống trị, người dân nào có quyền gì, cho dù là làm chủ ở vùng đất hoang. Tại đây, một tên thực dân đã lập đồn điền trồng cà phê và nuôi bò. Thay vì nộp tô, hàng năm tá điền phải đi phu xới cỏ cà phê ba mươi công. Chủ đồn điền là bác sĩ ở Hà Nội, chỉ thỉnh thoảng đi săn, nhân thể thăm đồn điền. Việc quản lý do một cai người Việt. Một buổi sáng, đám người trại Sao Vang đang cuốc bềnh, chợt nghe tiếng loạt soạt. Một con hươu bị thương từ trong rừng chạy ra. Đám người sẵn cuốc trong tay liền quây lại đập chết rồi dìm xuống bềnh, lấp cỏ lên, đẩy xa bờ. Vừa lúc bọn người săn sộc tới bắt nọn:
- Các người giấu con hươu chỗ nào mau đem ra trả ngay. Ông chủ Tây đang đến kia kìa.
- Chúng tôi cuốc ở đây từ sáng. Làm gì có hươu nai nào.
Bọn họ dáo dác tìm. Hồi lâu không thấy dấu vết gì mới bỏ đi. Những người cuốc bềnh chia thịt con hươu nặng hơn một tạ.
Chuyện trại Sao Vang, chàng trai nghe thấy sống động như ở ngay trước mặt, đâu hay chính là chuyện về ông nội và cha của người kể. Lại liên tưởng, hình như ốc là thức ăn chính của người nguyên thủy, chẳng thế mà di chỉ khảo cổ thời tiền sử nào cũng đầy vỏ ốc.
4.
Hành lang dài hun hút. Những bước chân vội vã gây ra tiếng ồn khó chịu. Chàng trai vẻ căng thẳng, mắt hướng vào phòng cấp cứu, tai áp ai phôn lắng nghe, vội nói to:
- Xin thầy báo với hội đồng cho hoãn đến tuần sau. Em đang trông người nhà ở bệnh viện.
Giữ máy, chàng trai chạy ra đầu hành lang.
- Tôi sẽ thu xếp. Em vừa nói người nhà, là ai vậy chứ?
- Dạ thưa...
Từ phòng điều trị có tiếng gọi:
- Người nhà bệnh nhân đâu?
- Em xin phép ngắt máy.
Chàng trai vào. Y tá trực nói:
- Anh trông chừng, chai đạm này hết thì chuyển ống truyền sang chai kia. Nhớ đừng để cạn quá.
Nhìn ông lão thiêm thiếp ngủ, chàng trai thở một hơi dài. Đâu đã hết nỗi lo.
Thời gian thì lùi được, nhưng tiền chi cho cuộc bảo vệ biết vay mượn đâu bây giờ!
Cửa phòng chợt mở. Cô gái lao vào, vẻ thất thần hỏi:
- Cha em sao rồi?
- Bác vừa chợp mắt, đừng đánh thức. Bác sĩ bảo bệnh của người già thôi, không có gì nguy hiểm. Một hai ngày là được ra viện.
- Em lo quá. Về đến nhà, đọc mảnh giấy đặt giữa bàn, biết anh đưa bố đi viện liền đạp xe đến đây ngay.
- Thế xe máy đâu?
- Bán rồi.
- Sao vội thế?
- Để anh bảo vệ luận án.
5.
Chàng trai rời Hà Nội, tâm trạng lâng lâng, nhớ như in phần kết luận bản luận án sau nhiều lần viết lại: “Không chỉ ở ven biển mà trung du, miền núi cũng có những khu đất ngập nước. Những ao, đầm, chằm, bềnh lầy thụt là môi trường thuận lợi cho nhiều loài thủy sản và chim nước sinh sống. Đồng thời nó đóng góp lớn vào nguồn dự trữ nước ngọt”. Và lời của Chủ tịch hội đồng khoa học nhà trường: “Tôi đánh giá cao ý nghĩa thực tiễn của luận án. Lâu nay ta chỉ biết ram-sa nước mặn, bây giờ còn biết ram-sa nước ngọt. Từ nhận thức, cần có hành động gìn giữ loại bồn nước tự nhiên này”.
Vừa về, hỏi thăm sức khỏe ông lão, nghỉ ngơi chốc lát, được mời vào bữa. Trên mâm đặt ba tô bún ốc chêm đậu rán, thịt luộc, thêm ớt đỏ, tía tô tím, mùi tàu xanh tỏa mùi thơm ngầy ngậy.
Ông lão cười, trách yêu, thế mà con bảo làm món đặc biệt.
Chàng trai đỡ lời, dạ thưa, con rất thích món này.
6.
Đưa con gái gói tiền, nhiều mệnh giá từ năm mươi ngàn đến năm trăm ngàn, cũ mới xen nhau, ông lão nói, các con đưa nhau đi mà sắm đồ cưới, giường, tủ, chăn màn, khăn áo và các thứ khác cần cho cuộc sống. Còn về đám cưới, cha tính, sẵn con lợn to trong chuồng nhờ ngả ra làm cỗ mời họ, mời làng, mời bạn là xong.
Cô gái bật cười, có phải con gái người Ba Na, Xơ Đăng đâu mà đi bắt chồng.
Vẻ nghiêm nghiêm, ông lão nói, từ cổ người Tày có tục lấy rể kế thế. Nhà nào sinh con một bề như nhà ta đây thường nhắm nhà có hai, ba con trai làm thông gia. Kén rể, chọn một trong số con trai nhà ấy. Thỏa thuận đôi bên rồi thì đám cưới ở nhà gái, đón rể về, đổi sang họ vợ. Từ đấy chàng rể trở thành con trai, thờ cúng tổ tiền nhà vợ. Mẹ con là gái Tày, làm đám cưới như thế là theo phong tục chứ sao. Cũng phải giữ một phần tục người Kinh, nhà trai phải đưa cái lễ gia tiên. Nói bên ấy sắm buồng cau, trăm giầu và đôi gà trống đẹp mã là đủ.
Xem ra cha mình tính toán kỹ, không để mang tiếng, không phải tốn kém, cô gái và chàng trai làm đám cưới theo phong tục người Tày đúng lời ông lão. Chẳng phải xe hoa, chẳng thuê hội trường mà vui như tết vậy.
7.
Khu đầm chằm rộng mờ mờ sương phủ. Những cô vạc ăn đêm ngủ muộn còn say giấc. Chợt chòm cây xao động. Những ả cò trắng, cò bợ với bác dang cánh dài rục rịch nhún chân, vỗ cánh vẻ háo hức. Chân trời xa tít đang chờ.
Lắng láo quáo tiếng chim, lòng rộn niềm vui. Chàng trai vừa qua buổi tuần đêm. Việc ngăn không để kẻ xấu xâm hại khu đầm chằm khá vất vả. Chẳng là đồn đại về khu bảo tồn lắm chim nhiều cá, mấy kẻ quen ăn sẵn từ nơi khác mò đến. Cá đầu hôm, tôm gà gáy, kẻ ranh ma thường hành sự vào quãng thời gian này. Vỏ quýt dày móng tay nhọn, cũng cữ ấy có người đi tuần, hoặc hai vợ chồng cùng đi như sớm nay. Người cùng làng phần đông đã là đồng chủ nhân khu bảo tồn, không lại ai đi ăn trộm của chính mình. “Của đau con xót”, họ tự nguyện đi tuần, chẳng đợi phân công.
Cùng các loài thủy sinh, hàng đàn cò trắng, cò nâu, vịt trời, dang, sếu cuối chiều bay rợp trời về tìm chỗ đậu. Xem ra đã đạt tiêu chuẩn về qui mô và đa dạng sinh học vợ chồng họ gấp hoàn thành hồ sơ đề nghị cấp trên công nhận ram-sa Như Xuyên là khu bảo tồn cấp tỉnh.
Hôm qua lúc ra đây em gặp một con cuốc, nó vội lủi vào chòm sậy, lại nhìn thấy tổ cồng cộng có ba quả trứng.
- Loài này anh chưa thấy bao giờ.
- Nó là loài chim nước, lông hơi xám, chen những vệt trắng, bơi như vịt trời nhưng bay không xa. Tổ cồng cộng làm tổ bằng cỏ khô, kết rất dày, lềnh bềnh trên mặt nước, mà trứng không hề ướt.
- Hay quá. Có khi phải đề nghị đưa vào sách đỏ, bảo vệ khẩn cấp. Ram-sa Như Xuyên mình có thêm hiện tượng thú vị dẫn dụ khách.
- À, tết này anh lên mạng, quảng cáo “Giò ốc” cho em.
- Đào đâu ra cái thứ sản phẩm lạ hoắc thế?
Người chồng có bằng thạc sĩ ơi, tin em đi. Rồi anh sẽ thấy. Quảng cáo bắt mắt, lọt tai vào: “Nguyên liệu là ốc ăn khói, gói với thịt ba chỉ. Sản phẩn OCOP ba sao. Điện thoại 0888507310. Quý khách có thể đến nơi để trải nghiệm quy trình chế biến. Hàng chuyên phục vụ tết, chỉ bán từ giữa tháng Chạp đến Tết ông Công ông Táo”.
Anh biết không, năm nọ ốc nhiều vô kể, cha thần người ngồi nhìn nia đầy ốc. Ăn không xuể, cho không mấy nhà lấy, bán chẳng ai mua, nghĩ, sao ta không đem gói giò nhỉ. Thế rồi hai cha bảo em phụ với ông đập ốc sống trộn thịt ba chỉ tươi, mộc nhĩ, gói bằng lá chuối tươi, đem luộc kỹ. Khi chín, vớt ra đợi nguội, em hồi hộp lắm, ăn không ra gì thì chẳng tiết kiệm còn lãng phí thêm. Cắt một khoanh, cha, con ăn thử. Thật bất ngờ, cắn miếng giò sần sật, ngon mà lạ rất lạ, đặc biệt không hề ngán. Từ ấy, tết nào cha cũng làm món đặc sản. Em đã nắm được bí quyết này, ta em sẽ thành đặc sản. Vợ chồng nhìn nhau cười rạng rỡ.
Hoàng Thôn, 19/5/2024
P.N
21-08-2024
21-08-2024
21-08-2024
21-08-2024