Bút ký của Tạ Bá Hương
.jpg)
Minh họa của Quảng Tâm
Làng nằm gọn trên bến Hang Mang, phía hữu ngạn sông Lô. Làng chỉ mươi nóc nhà, toàn người Ninh Bình lên khai hoang từ những năm một chín sáu mươi hai của thế kỉ trước. Họ đi theo khẩu hiệu: “Chiến sĩ khai hoang, phát triển kinh tế, văn hóa miền núi”. Mươi nóc nhà ấy chiếm trọn một vùng đất rộng lớn, trù phú, do phù sa sông Lô mỗi năm lại được bồi đắp từ những trận lũ lụt. Những ngày đầu đặt chân về vùng đất nơi bến ghềnh này, mọi thứ còn hoang vu lắm. Cây cối rậm rạp, rừng chỉ ngằn ngặt một màu xanh nhức mắt. Con đường mòn heo hút, nhỏ như sợi chỉ mành, len lỏi trong những khu rừng. Nứa ngộ vòi vọi, đâm ngọn nhọn hoắt lên trời. Không biết con đường ấy có từ khi nào. Gọi là đường, nhưng nó không thực sự rõ ràng, nhiều đoạn cây rừng mọc lấp lối đi. Nghe đâu, đường ấy trước đây được hình thành bởi những bàn chân của cánh lục lâm ở những làng khác, phía thượng nguồn sông Lô. Họ thỉnh thoảng có dịp đi qua săn bắt thú rừng, hoặc đốn gỗ, đóng bè xuôi sông Lô, mang về tỉnh bán cho người thị xã. Dân bản địa dạo ấy chỉ có ba nóc nhà của các cụ Tài Đắc, cụ Tuyết Hồ, cụ Hải và cụ Tí Ngọ ở vùng Hà Tây, Nam Định, Thái Bình lên. Thấy người già trong làng sau này kể lại rằng, gia đình các cụ đặt chân lên đất này từ những năm bốn mươi của thế kỉ trước. Các cụ dắt díu nhau đến thẻo đất “khỉ ho, cò gáy” này, cũng vì bất đắc dĩ cả thôi. Những năm còn người Pháp đô hộ, đối mặt với sự đói khát, chết chóc diễn ra hàng ngày ở các làng quê vùng chiêm trũng, các cụ ấy đành mang theo con cái, gia đình lên Tuyên Quang và chọn chỗ đất heo hút nơi bến ghềnh mà gây dựng sản nghiệp.
Do Tuyên Quang và Ninh Bình là hai tỉnh kết nghĩa, nên các cuộc di dân sau này diễn ra với qui mô lớn. Thời điểm bắt đầu vào năm một chín sáu mươi mốt. Một số gia đình có nhiệm vụ đi tiền trạm, rồi các toán gia đình khác cũng lục tục kéo nhau lên. Cuộc di dân đi khai hoang trên các vùng đất mới thời điểm ấy kéo dài mãi đến năm một chín sáu mươi tư mới dừng lại. Tuy nhiên, sau đó vẫn có những toán gia đình lên khai hoang, nhưng cũng chỉ nhỏ lẻ, không rầm rộ như những năm đầu thập kỉ sáu mươi của thế kỉ trước. Trong số hộ gia đình lên bến Hang Mang thời điểm đó đều là dân từ các làng quê thuộc xã Ninh Phong, Ninh An (huyện Hoa Lư). Họ lựa chọn vùng này khẩn hoang đất đai, hình thành nên tên đất, tên làng như ngày nay. Đó là cả một quá trình nhọc nhằn không thể nào tả siết. Cái tên Khánh An ra đời từ thời còn qui mô Hợp tác xã Hồng Thái, với mươi nóc nhà lợp cỏ gianh, cột ngoàm tạm bợ và các bức phên vách nứa, thông thốc gió lùa.
Người làng Khánh An neo bám vào bến Hang Mang mà sinh sôi, nảy nở. Mấy chục mạng người gầy guộc vì thiếu ăn, thiếu ngủ, cứ vò võ bên góc rừng hoang vu, đầy sự huyền bí. Rồi chả biết ngày mai sẽ ra sao khi nom chỗ nào cũng thấy bạt ngàn rừng xanh, núi đỏ. Giờ trở lại quê cũ dưới Ninh Bình cũng chả biết sống thế nào. Đất chật người đông, ruộng chia nhân khẩu chả đủ canh tác. Hơn nữa, vùng cố đô Hoa Lư hầu hết là những cánh đồng chiêm trũng, nước nhiễm phèn chua, chỉ có loài cói với sức sống mãnh liệt mới có thể sinh sôi được trên loại đất ấy. Việc làm ra hạt thóc nuôi sống nhau là bài toán hết sức nan giải. Cây lúa loi thoi mọc trên cánh đồng bời bời những gió. Nhiều vụ thất bát, trắng tay do phụ thuộc quá nhiều vào chất lượng nguồn đất và cả sự thách thức từ thiên nhiên. Trên quê mới, số lương thực Nhà nước cấp cho mỗi hộ tình nguyện lên khai hoang chỗ bến ghềnh mỗi ngày lại vơi dần đi. Người làng buộc phải gồng mình lên để sống. Nếu cứ ngồi than thở với nhau thì chỉ có nước chết đói. Nhà nọ giúp đỡ nhà kia, đó là truyền thống tốt đẹp mà người làng lưu giữ được từ hồi còn ở quê cũ. Rừng nhiều quá. Rừng sẽ cho gỗ tốt để làm cột nhà, xẻ ván. Rừng cho nứa, cỏ gianh để lợp mái. Sông cũng mênh mông quá. Sông sẽ cho nước để canh tác nông nghiệp. Sông cho nguồn lợi thủy sản cải thiện bữa ăn trong mỗi gia đình. Vậy là với quyết tâm mới, người khai hoang nhanh chóng bắt tay vào khai khẩn đất đai, đánh gốc bốc trà, dựng nhà dựng cửa. Họ sẽ biến vùng đất hoang vu này thành những cánh đồng màu mỡ, những căn nhà vững chãi đủ che mưa, che nắng, che cho tương lai tốt đẹp của họ. Đấy là niềm tin, là khát vọng của người khai hoang trong những ngày đầu đặt chân lên quê mới.
Đang bừng bừng khí thế để gây dựng một cuộc sống nơi bến ghềnh Hang Mang, chấp nhận khó khăn, gian khổ, thì một hôm, cụ Bân bảo với mọi người.
- Cứ thế này thì khó sống đây. Hay là ta trở về quê cũ?
Lời ông cụ Bân nói ít nhiều cũng khiến người làng có chút xao động. Nhưng cũng có người vặc lại:
- Về quê cũ thì biết sống thế nào?
- Tôi thì kệ các ông các bà. Tôi về quê cũ thôi, chứ ở đây rừng núi hoang vu, mờ mịt như tương lai của chúng ta thôi.
Tưởng cụ Bân nói trong lúc vì một lí do bực dọc nào đó, nhưng đùng một cái, cụ Bân làm thật. Cụ nhượng lại nhà cửa, hoa mầu, dắt díu gia đình xuôi lại Ninh Bình quê cụ. Thấy bảo, ngày chia tay với cụ nó bịn rịn lắm. Gắn bó với nhau bao nhiêu năm ở quê cũ, rồi cùng dắt díu nhau lên quê mới xây dựng cơ nghiệp, nhưng nỗi nhớ quê với nếp sống quen thuộc cứ đeo bám vào cuộc đời cụ. Nhiều đêm cụ không ngủ được. Từ con đường, vạt cỏ ven đê đến ngôi nhà tranh vách đất ở quê cũ nó cứ làm cụ ám ảnh. Sau những đêm trằn trọc như vậy, cụ mới dám quyết định kéo cả gia đình trở lại nơi chôn rau cắt rốn, nơi những cánh đồng chiêm trũng lụt lội quanh năm. Nơi đồng bằng với đường chân trời xa hút mắt, những điệu chèo cổ ngọt lịm. Dẫu biết rằng, trở về quê cũ là chấp nhận thêm một rủi ro mới. Sẽ bắt đầu từ đâu trên vùng đất chiêm trũng ấy? Rồi của cải, tiền bạc đâu mà bắt xe khách về Ninh Bình? Chỉ còn cách đi bộ, người lớn gánh gồng của nải, trẻ con thì cuốc bộ. Đứa nhỏ nhất sẽ được bố trí ngồi trên quang gánh, gánh bộ về thị xã Tuyên Quang mới có thể mua vé xe khách xuôi quê. Thời ấy, để mua được tấm vé xe cũng mất cả tuần chờ đợi. Mấy chục cây số đường rừng, các thành viên trong gia đình, nom chân ai cũng nhức mỏi, phồng rộp lên như bị bỏng lửa.
Cái hôm cụ Bân chia tay bà con ở lại quê mới mà xem ra bịn rịn mãi mới chịu dời đi. Những cái bắt tay, những vòng ôm của cụ với người làng như lửa ấm lan truyền sang nhau. Biết bao giờ mới có dịp gặp lại những gương mặt xạm màu nắng gió? Suốt mấy đêm liền, nhà cụ Bân người ra vào nườm nượp. Toàn người làng Khánh An và các làng lân cận khác đến chơi. Họ thức suốt đêm mà tâm sự. Cánh đàn bà ngồi kín mấy cái giường, vừa chuyện trò, vừa bỏm bẻm nhai trầu. Cánh đàn ông ngồi kín hai dãy ghế, nhiều người đến chả còn chỗ, đành ngồi phệt xuống nền đất. Giọng ai cũng oang oang như lệnh vỡ, vừa nhấp ngụm chè mạn xao suốt, vừa chia nhau từng miếng thuốc lào, rít vang cả một góc làng. Đâu đó những tiếng chó sủa rộ lên dai dẳng. Trong đêm tối, dòng sông Lô vẫn thao thức chảy. Dòng nước chạm vào ghềnh Hang Mang, sóng trào ngược lên, tung bờm trắng xóa. Qua hết ghềnh Hang Mang, những con sóng lại rủ rỉ chậm nguồn, xuôi mãi phía hạ du.
Đời người cứ như dòng sông trôi chảy. Có lúc dòng sông phẳng lặng, êm đềm, không chút gợn sóng lăn tăn. Tuy nhiên, cũng có lúc dòng sông ấy trở nên thác nghềnh, réo xôi phì phì qua bao nhiêu nỗi buồn tủi của cuộc đời.
Ngày gia đình cụ Bân chuyển đi, những người ở lại neo bám vào đất đai nơi bến Hang Mang vẫn kiên trì ngày đêm vỡ đất. Đôi tay trần tơ tướp máu rồi cũng lành lại. Cuộc sống khiến con người buộc phải đối đầu với gian nan, thử thách. Một khi chinh phục được thiên nhiên, thành quả từ trong lao động, sản xuất sẽ mang lại cho họ những mùa quả ngọt, ấm no. Trên từng vuông đất xạm màu, giờ đã được san ủi, hình thành nên ba cánh đồng màu mỡ, bao gồm: đồng Lụt, đồng San, Mắt Rồng. Những cánh đồng ấy đều nằm dọc theo phía hữu ngạn sông Lô, người làng dùng để gieo trồng các loại cây nông nghiệp ngắn ngày, chủ yếu là lúa, ngô, lạc và đậu tương. Gặp đất mới, cây trồng mọc lên tươi tốt. Mùa vụ lần lượt đi qua, cuộc sống dần ổn định. Của cải sau mỗi vụ thu hoạch khiến lương thực nhà nào cũng đầy ắp trong mỗi chiếc hòm gian. Đó là loại hòm mà người làng ghép lại từ các ván gỗ lớn, có bốn chân, rộng bằng cả gian nhà.
Nỗi lo về cái ăn, cái mặc giờ không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa. Chỉ điều ấy thôi cũng khiến người làng Khánh An yên tâm ở lại quê mới. Thế nhưng, người làng lại có nỗi lo khác. Dạo ấy, đất nước còn đang trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Biết bao nhiêu làng mạc bị phá hủy, nhiều cái chết tang tóc lắm. Người dân li tán khắp nơi sau mỗi lần súng nổ. Ngay như dưới bến Lù, cách làng Khánh An chưa đầy một ki-lô-mét đường chim bay, quân Mỹ đã thả hai quả bom vào giữa làng. Đấy là sự kiện xảy ra vào ngày mùng sáu tháng tám năm một ngàn chín trăm chín mươi sáu. Trong sự kiện này, nhà bà Hữu và nhà bà Hạc, mỗi nhà chết hai người. Nhà ông Cói, nhà ông Tiếm, ông Dự… mỗi nhà chết một người. Nhà ông Hào chết cả hai vợ chồng. Nhưng nhiều nhất là nhà bà Quế, ba bà cháu đều chết cháy cả. Như vậy, đã có cả thảy hơn mười người ở bến Lù chết vì bom Mỹ. Đấy là chưa kể hàng chục người khác bị thương mà di chứng của nó còn âm ỉ đến tận bây giờ trên cơ thể người làng. Cũng may cả làng Khánh An nơi bến ghềnh Hang Mang lại chả bận gì.
Có lần bà cụ Khới nhắc lại sự kiện này. Cụ Khới kể:
- Hôm ấy tao định bụng xuống nhà bà Hữu ở bến Lù chơi. Tao thân với bà ấy lắm. Nhưng có việc, nên tao để hôm sau. Chứ hôm ấy mà xuống, khéo giờ không còn ngồi đây.
- Nghe kể dịp ấy bến Lù tang thương lắm.
Bà cụ Khới chép chép miệng, đôi mắt nhìn hoang hoải ra phía bờ sông Lô đang rì rầm nổi sóng.
- Chứ còn gì nữa.
Những làng quê luôn thanh bình, yên ả. Người dân thôn quê sống trong các làng mạc đều thật thà, chất phác. Họ chỉ mong ngày ngày làm lụng để có miếng ăn đút vào miệng. Chả ai muốn chiến tranh cả. Nhưng khi đất nước có giặc ngoại xâm, các gia đình đều sẵn sàng gửi ra chiến trường những người con ưu tú nhất của mình. Họ sẵn sàng hi sinh vì sự tồn vong của dân tộc. Một truyền thống tốt đẹp ấy được truyền từ đời nọ sang đời kia, tạo nên cốt cách kiên trung ở người Việt.
Trên các làng xã bị chiến tranh tàn phá, họ lại xúm tay vào đỡ lẫn nhau, dựng lại nhà cửa, nhanh chóng ổn định cuộc sống. Người bến Lù cũng vậy và người bến Hang Mang cũng vậy. Mọi thứ mất mát rồi cũng qua đi, giống như thân lúa ngoài đồng, khi vượt qua nắng hạn, mưa dầm, cuối cùng thì vẫn mang lại cho cuộc sống này những hạt mẩy được chắt ra từ bùn đất quê nhà.
Dạo Mỹ thả bom xuống bến Lù, tuy bến Hang Mang không nằm trong tọa độ rải bom, nhưng cũng khiến người làm táo tác một bận. Người nọ gọi người kia, tiếng gọi vang vọng cả một khúc sông vắng. Mọi người hối hả dắt díu nhau chạy ngược về dãy núi Vịt. Đây là dãy núi đá vôi, nằm cuối làng Bình Thuật, giáp với Ninh Tuyên và Ba Luồng. Làng Bình Thuận lại giáp với làng Khánh An, cũng đều là dân khai hoang từ Ninh Bình lên cả. Hai làng có mối quan hệ tốt đẹp, cùng chia nhau tấc đất mà canh tác. Núi Vịt, hay còn được người làng gọi là núi Đông Tình. Nương trồng ngô của người làng Bình Thuận liền kề với nương trồng sắn của người làng Khánh An. Có lẽ vì sự chia sẻ ấy mà hình thành nên tên gọi “Đồng Tình” chăng? Ở giữa lưng chừng ngọn núi ấy có một cái hang đá, cửa hang rất rộng, lòng hang có thể chứa đựng cả trăm người. Nơi đó là khu vực nghỉ ngơi vào mỗi buổi trưa của những người đi làm nương. Núi Đồng Tình đã mang lại cho dân hai làng nguồn sống. Cây lương thực ngắn ngày trồng trên đất này cứ vươn lên tốt bời bời mà chả phân tro gì sất. Không chỉ vậy, núi Đồng Tình còn mang lại cho hàng chục hộ gia đình của hai làng sự chở che, đùm bọc vô điều kiện.
Khi tiếng nổ phát ra từ loại bom bi mà người Mỹ rải xuống bến Lù, người làng Khánh An gọi nhau chạy vào hang núi Đồng Tình tìm sự trú ẩn. Khi thấy an toàn, người làng Khánh An và làng Bình Thuận thở phào nhẹ nhõm, lại bồng bế nhau trở về nhà. Sau này tôi hỏi cụ Khới:
- Cụ có sợ không?
Cụ chửi tôi:
- Cha tiên nhân bố nhà anh, bom đạn thế ai mà chả sợ.
Nhưng cụ lại bảo:
- Đời mình thì thế nào cũng được, chỉ một lần chết thôi mà. Nhưng nhỡ bom nó đánh trúng mình, mình nằm xuống thì chỉ lo cho người ở lại.
Người bến Hang Mang là thế. Gần hết một đời trải qua bao nỗi cơ cực, vất vả, nhưng rồi họ đều vượt qua. Ý chí và khát vọng sống giúp họ dùng bàn chân trần, rám nắng mà trèo qua nỗi sợ hãi. Nếu không vượt qua nỗi sợ hãi thì làm sao họ có thể tồn tại được trên một vùng đất heo hút, nơi góc rừng bên bến sông Lô. Để rồi, đời nọ nối tiếp đời kia, những thế hệ tiếp theo lại lần lượt ra đời, bám chặt vào từng nắm đất mà làm nên cơ nghiệp từ hai bàn tay trắng. Thế hệ đầu tiên đặt chân lên bến Hang Mang rồi cũng phải lần lượt ra đi, giống như thân tre, khi đổ xuống lại có lớp măng mới mọc lên. Qui luật sinh tử nó trở thành một vòng tròn khép kín, bao bọc lấy mỗi phận người. Số người già trong làng cứ vơi dần mà chả thể nào cưỡng được. Người ta chẳng quên những ông bà là thế hệ đầu tiên lên khai khẩn đất hoang. Nào là cụ Tuân, cụ Hóa, cụ Năng, cụ Bễu, cụ Ân… Hồi xưa có cả một bài hát đồng dao về các cụ này. Lũ trẻ chăn trâu vẫn rỉ rả hát những câu hát đồng dao ấy. Không biết câu hát có từ khi nào, ai đặt lời, nhưng đám trẻ con trong làng vẫn hát say sưa:
Ông Tuân đục đá
Ông Hóa móm răng
Ông Năng cao kều
Ông Bễu thấp chân
Ông Ân tóc bạc…
Hát rỉ rả thế mà chả thấy làm sao. Nếu vô tình đang hát mà gặp các ông ấy, đám trẻ mục đồng đều sợ xanh cả mắt, tìm đường lẩn trốn. Đổi lại, các ông chỉ cười cười, nom có vẻ bao dung lắm, chỉ đôi lần mắng yêu lũ trẻ:
- Cha tiên nhân bố chúng mày. Ông mà mách bố mẹ thì chúng mày no đòn.
Cái câu “cha tiên nhân” dường như là câu cửa miệng của người bề trên chửi đám con nít trong làng. Chả ai tức giận vì câu ấy, nghe lâu thành quen, đôi khi không thấy người già chửi yêu như vậy, đâm ra nhớ. Ngôn ngữ cứ mộc mạc thế mà chứa đựng bao nhiêu tình yêu thương mà người già dành cho các thế hệ con trẻ. Đôi khi nó lại trở thành dòng nước mát, tưới lên tâm hồn của đám trẻ, từ đó nuôi dưỡng, chở che, đùm bọc cho lớp người sau lớn lên thành người lương thiện.
Mãi sau này vẫn không ai biết chính xác cha đẻ của những câu đồng dao kia. Chỉ biết rằng, thông qua câu đồng dao lấm láp ấy mà nhận mặt từng gương mặt người làng. Đó là một ông Tuân dành cả một đời người nơi bến ghềnh Hang Mang để đục đẽo đá. Từng phiến đá to kềnh, nặng cả tấn, được ông dùng trâu mộng kéo từ gốc đa làng về xếp đầy một góc vườn. Tiếng búa, tiếng đục mỗi ngày lại chí chát vang lên, hòa lẫn tiếng sóng đổ ồn ào dưới bến sông Lô. Người làng Khánh An vẫn khen ông là thợ đá lành nghề. Hồi còn ở Ninh Bình, cha mẹ ông, dòng họ ông đều sinh sống từ nghề làm đá. Nghề ấy truyền sang ông như một duyên nợ đã được định sẵn. Khi lên vùng quê mới, ông quyết không bỏ nghề, ông coi đó vừa là tình yêu, vừa là hồn cốt và nét đẹp truyền thống mà tổ tiên truyền lại. Hơn nữa, nghề làm đá cũng mang lại nguồn sinh kế, giúp ông trang trải cuộc sống vốn khó nhọc nơi quê mới. Chỉ từ những phiến đá thô nháp, qua đôi bàn tay ông, nó lại trở thành sản phẩm độc đáo, phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân trong vùng. Nào là cái cối xay ngô, xay đậu, đến cái cối giã gạo, cái trục lăn bằng đá để quạn lúa. Bây giờ thì bọn trẻ không hình dung ra cái vật dụng đó, vì nó quá xa thời hiện đại, khi mọi thứ đều được tự động hóa bằng máy móc.
Nhưng ngày xưa, thời chưa có điện, khoa học chưa phát triển nên mọi thứ đều được làm thủ công. Thế nên, cái cối đá giã gạo, xay ngô, cái trục lăn quạn lúa lại là những vật dụng không thể thiếu đi trong mỗi nếp nhà. Cây lúa sinh nở trên đồng làng làm cho người nông dân quá nhiều gian nan, nhưng khi thu những gánh lúa về, người ta lại mất nhiều công sức để tách hạt ra từ bông. Hồi đó, vào mỗi vụ thu hoạch, từng đoàn xe trâu ỳ ạch chở lúa về sân kho Hợp tác xã. Một cái sân rộng, lát gạch đỏ au, cứ kìn kìn những lúa. Thế nên Quản trị Hợp tác xã Hồng Thái đành phân chia xem nhà nào gặt trước, nhà nào gặt sau để tránh sự trồng lấn. Sân kho tuy rộng, nhưng không thể nào chứa đựng nổi số lúa từ cánh đồng San, đồng Lụt, Mắt Rồng gặt về cùng lúc của người dân trong làng. Cả một không gian thơm nồng mùi hương lúa chín, vàng óng, chảy tràn trên bãi sân kho. Lúc này trục lăn bắt đầu vào việc. Nó trước kia là những khối đá nhiều hình thù, được cụ Tuân gọt đẽo mà thành nên cái trục lăn tròn lẳn, dài hơn sải tay người lớn, to như cái thùng phi đựng nước. Hai đầu trục lăn được khoét lỗ, nối vào hai thanh gỗ nghiến. Hai cái thanh ấy lại nối với hai sợi dây thừng, móc lên vạy trâu. Lúa được xếp thành vòng tròn, con trâu đi trước, trục lăn nặng nhọc lết theo sau. Mỗi mẻ lúa như vậy cũng mất cả tiếng đồng hồ thì hạt thóc mới chịu dứt ra khỏi bông.
Ông cụ Tuân cứ lầm lũi sống với cái nghề làm đá của mình. Tính ông ít nói, ít giao tiếp, nhưng được cái hiền lành, thương người, nên cả làng Khánh An ai cũng quí mến. Sau này ông mất, con cháu chả còn ai nối nghề. Như vậy, nghiệp đá của cả một dòng họ nối tiếp nhau gây dựng, giữ gìn từ đời này sang đời khác thì đến đời ông là mất hẳn.
Trong số nhân vật mà trẻ con làng Khánh An vẫn say sưa hát hồi đó, giờ chả ai còn sống. Ông Hóa, rồi ông Năng, ông Bễu, ông Ân... lần lượt trở về với tiên tổ. Ngày còn sống, người ta đã thấy ông Hóa móm răng từ khi nào. Mỗi khi ông cười, chỉ nhô ra hai hàm lợi thâm sỉn. Tính ông hay rượu, nhưng chả làm hại hay làm phiền ai bao giờ. Nhà nào có công to việc lớn, ông luôn là những người đầu tiên có mặt để đỡ đần, chả kể nặng nhọc. Còn ông Năng là người có vóc dáng cao lênh khênh. Có lẽ ông là người có chiều cao nhất làng. Chân tay ông dài lêu đêu, được lắp vào cái thân hình vóc hạc. Riêng ông Bễu thì có chiều cao rất đỗi khiêm tốn. Cái lưng trở nên dài khác thường so với cơ thể ông. Trong khi đó, hai ống chân ngắn tun hủn. Mỗi lần ông bước đi, hai chân cứ bai ra, nom ngồ ngộ. Ông làm trong Ban quản trị Hợp tác xã, được tiếng là công tâm, một đời không dám tơ hào cái gì của Nhà nước, dù chỉ là một hạt thóc. Riêng ông Ân tóc bạc thì chỉ theo đoàn người khai hoang từ Ninh Bình lên quê mới và dựng cửa, dựng nhà trong một thời gian không lâu. Khuôn mặt ông vốn khắc khổ, lại điểm trên đầu mái tóc bạc trắng như cước, nên nom ông già hơn những người cùng trang lứa trong làng. Sau này, theo chân ông Bân, ông Ân cũng đưa cả gia đình trở về quê cũ. Người làng mải mê làm lụng, thời gian cũng dần xóa đi một phần kí ức. Chả ai có thông tin về ông. Chỉ biết rằng, ông mất cách đó vài năm, kể từ ngày trở về quê cũ. Mộ phần được chôn cất trên chính đồng đất chiêm trũng, nơi ông sinh ra và lớn lên.
Dòng sông Lô chảy qua bến ghềnh Hang Mang, chứng kiến biết bao mảnh đời. Những mảnh đời đến và đi, vui buồn và đau khổ. Dù thế nào thì bến sông ấy vẫn là nơi neo đậu của hàng chục nóc nhà, chở che cho đoàn người khai hoang năm xưa có thêm nghị lực, khát vọng mà vượt qua trăm nỗi truân chuyên. Họ bám vào đất, nhờ lộc đất để có cái ăn hàng ngày, rồi sinh nở ra các thế hệ nối tiếp. Những ai già cả mất đi, thân xác lại trở về với đất, xin đất đai trên quê mới một nấm mộ còm mà vùi mình vào đó. Số người già chỉ còn lác đác mấy cụ còn sống, nhưng tuổi cũng ngoài chín mươi, đều như ngọn đèn treo trước gió. Được cái các cụ đều minh mẫn cả. Có thể kể ra đây như cụ Khới, cụ Được, cụ Sự và chị gái bố tôi - bà Cận - nhưng cũng vừa mất năm ngoái. Các cụ đều chân trần ngang qua hai thế kỉ trong một đời người. Trong tâm thức của các cụ còn lại, quê cũ chỉ còn là hồi ức, cứ chập chờn hiện ra trong ý nghĩ rất mơ hồ. Ở đâu lâu thì cũng bắt con người ta phải quen cả. Đó là thuộc tính con người. Huống hồ trên quê mới bây giờ, cuộc sống đã có quá nhiều sự thay đổi, thế nên con người buộc phải thay đổi theo để mà thích nghi với nó. Khúc sông Lô chảy qua bến ghềnh Hang Mang trở thành chứng tích, nơi chứng kiến, lưu giữ một quãng người sương gió.
T.B.H
21-08-2024
21-08-2024
21-08-2024
21-08-2024