Thách thức và cơ hội của văn học dân tộc thiểu số trong kỷ nguyên số

Thứ tư, ngày 18-03-2026, 09:19| 1.478 lượt xem

Đỗ Thị Thu Huyền

đến công chúng trẻ. Chẳng hạn, tiểu thuyết Đàn trời của nhà văn Cao Duy Sơn được chuyển thể thành phim truyền hình, Lặng yên dưới vực sâu do nhà văn Đỗ Bích Thúy viết kịch bản đã mở rộng sức sống cho văn học miền núi, giúp khán giả đô thị hiểu hơn về đời sống tinh thần của đồng bào vùng cao. Sự “dịch chuyển thể loại” này là xu hướng tự nhiên, đồng thời cũng là cơ hội để văn học dân tộc thiểu số tiếp cận công chúng bằng nhiều kênh khác nhau.
Việc thúc đẩy truyền thông sẽ tạo ra một đời sống mới cho tác phẩm bởi đa phương tiện giữ vai trò quan trọng trong đời sống hiện đại (sự quan tâm của công chúng với văn học thông qua các phương tiện nghe nhìn). Với văn học dân tộc thiểu số, một trong những kênh truyền thông quan trọng của truyền thông đại chúng là sóng phát thanh - truyền hình (trong 3 phương tiện/ hướng tiếp cận hữu hiệu của hiện nay: phát thanh, điện ảnh truyền hình và YouTube). Việc phát hành và quảng bá dưới dạng sách in, sách điện tử (Ebook) cũng giúp thu hẹp khoảng cách giữa độc giả và nhà văn trong bối cảnh toàn cầu hóa. 
Theo khảo sát của nhiều chương trình phát triển văn hóa đọc, tại các vùng dân tộc thiểu số, thói quen đọc đang chịu ảnh hưởng mạnh từ văn hóa nghe nhìn. Giới trẻ ngày càng ưa chuộng các hình thức tiếp nhận trực quan, nhanh, tiện lợi. Tuy nhiên, chính kỹ thuật số lại mang đến cơ hội mới để khôi phục và mở rộng thói quen đọc.  Công nghệ số giúp bà con dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp cận thông tin và tri thức hơn bao giờ hết. Việc đọc không còn giới hạn trong sách in mà có thể qua điện thoại, máy tính bảng hoặc các nền tảng sách nói, sách điện tử. Điều quan trọng là làm sao duy trì được niềm hứng thú và năng lực đọc sâu trong bối cảnh bị phân tâm bởi vô vàn thông tin mạng.
Một trong những cách hiệu quả để lan tỏa các tác phẩm văn học dân tộc thiểu số là phát triển sách song ngữ và thư viện số mở. Sách song ngữ giúp đồng bào dễ dàng tiếp cận nội dung, đồng thời bảo tồn ngôn ngữ mẹ đẻ - vốn là “linh hồn” của văn học dân tộc. Bên cạnh đó, mô hình thư viện số cộng đồng cần được đầu tư đúng mức. Nếu trước kia việc mang sách in lên vùng cao tốn kém và khó duy trì, thì nay chỉ cần một đường truyền tốt, một thiết bị truy cập tiện ích là đã có thể đọc, nghe và tra cứu tài liệu. Mô hình Tủ sách cộng đồng với sự tham gia của cả chính quyền, nhà trường, hội đoàn và người dân cũng là ví dụ tiêu biểu cho hình thức xã hội hóa văn hóa đọc phù hợp với đặc trưng cộng đồng dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không gian ngôn ngữ dân tộc đang bị thu hẹp, nhiều cộng đồng có ngôn ngữ riêng nhưng chưa có hệ thống chữ viết hoàn chỉnh hoặc việc sử dụng tiếng mẹ đẻ ngày càng giảm trong đời sống hiện đại. Khi sáng tác bằng tiếng dân tộc khó phổ biến, văn hóa đọc lại càng cần được khơi dậy từ chính cộng đồng, thông qua việc bảo tồn ngôn ngữ, khuyến khích sáng tác song ngữ và đào tạo đội ngũ phê bình, nghiên cứu tại chỗ.
Công nghệ mở ra không gian sáng tạo không giới hạn. Nhà văn có thể thử nghiệm các thể loại mới như flash fiction, truyện tương tác, fanfiction hoặc sáng tác trực tuyến có sự tham gia của cộng đồng. Sự phát triển của AI cũng có thể hỗ trợ quy trình biên tập, phiên dịch, thiết kế bìa sách, thậm chí dựng audiobook. Tuy nhiên, yếu tố bản sắc, tiếng nói riêng của cộng đồng dân tộc mới là giá trị mà công nghệ không thể thay thế.  Tính đến tháng 4/2025, tỷ lệ phủ sóng 3G, 4G, 5G toàn quốc đã đạt 99,8% dân số. Đây là bước tiến vượt bậc so với giai đoạn mười năm trước, khi vấn đề “không có sóng” từng là trở ngại lớn đối với nhiều vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số. Chính vì vậy, thách thức đặt ra hiện nay ở hầu hết các thôn bản xa xôi không còn nằm ở việc có hay không có hạ tầng kết nối mà ở cách thức cộng đồng sử dụng công nghệ số: để giao tiếp, để giải trí, hay để sáng tạo và gìn giữ bản sắc văn hóa của chính mình. Một ví dụ đáng chú ý là dự án “Em Vui” – nền tảng kỹ thuật số do Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) phối hợp với Plan International tại Việt Nam triển khai. Ứng dụng này giúp thanh thiếu niên dân tộc thiểu số nâng cao nhận thức về phòng ngừa tảo hôn và nạn mua bán người thông qua các hình thức học tập, tương tác trực tuyến gần gũi, dễ tiếp cận. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của những nhà sáng tạo nội dung trẻ người dân tộc thiểu số như Thảo Nguyên Farmer (Hoài Thương) hay Lộc Ánh Thu trên các nền tảng như TikTok cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ của văn hóa dân tộc trong môi trường mạng. Thông qua các video giới thiệu phong cảnh, ẩm thực, ngôn ngữ và phong tục của người Tày ở Tuyên Quang, họ đã góp phần đưa văn hóa bản địa đến gần hơn với công chúng đại chúng, đồng thời khẳng định rằng thế hệ trẻ dân tộc thiểu số đang chủ động sử dụng không gian số như một kênh truyền tải và sáng tạo văn hóa mới.
Bước vào kỷ nguyên số, yêu cầu đổi mới tư duy sáng tạo trong văn học nghệ thuật càng trở nên cấp thiết. Bên cạnh tính hiện đại của lối viết, rất cần sự đột phá của những đề tài được lựa chọn. Khi những đề tài như giữ nước, dựng nước, truyền thống, bản sắc dường như trở nên quen thuộc. Câu hỏi đặt ra là, liệu có nên đi vào những vùng đất “khó” như ngoài những đề tài lớn như Đảng và Bác, Điện Biên Phủ…, thì công cuộc chuyển mình của đời sống vùng cao, những chủ đề như làm thủy điện, mất rừng… sẽ được khai thác theo cách thức ra sao.
Xu hướng chung hiện nay, và ở cộng đồng các dân tộc thiểu số cũng không ngoại lệ, có thể nhận thấy thanh thiếu niên ngày càng gắn bó với thiết bị số và các nền tảng trực tuyến, trong khi sự quan tâm đối với sách xuất bản truyền thống có phần suy giảm. Tuy thế, vấn đề không nằm ở việc thiếu nội dung đọc mà là cần một sự định hướng. Khi người đọc trẻ phải đối diện với “biển thông tin” khổng lồ, họ dễ bị cuốn vào dòng chảy của các nội dung giải trí tức thời, trong khi việc thưởng thức tác phẩm văn học đòi hỏi năng lực chọn lọc và độ tập trung cao. Để phát triển văn hóa đọc, đội ngũ sáng tác, nghiên cứu, phê bình và đội ngũ làm công tác truyền thông giữ vai trò rất quan trọng. Tuy thế, lực lượng này trong lĩnh vực văn học dân tộc thiểu số vẫn còn mỏng.
Văn học dân tộc thiểu số nên được quảng bá qua các nền tảng truyền thông đại chúng: truyền hình, podcast, phim tài liệu, hoạt hình, ứng dụng di động. Những nội dung này vừa bảo tồn ngôn ngữ, vừa tạo sức hút với thế hệ trẻ. Bên cạnh phát triển truyền thông số và sản phẩm đa phương tiện, việc đưa văn học dân tộc thiểu số vào hoạt động giáo dục là cực kỳ quan trọng và cần thiết. Việc xây dựng các podcast văn học, phim ngắn chuyển thể, clip đọc truyện trên nền tảng số như VOV6, VTV5, YouTube, TikTok… là bước đi khả thi, giúp kết nối văn học với đời sống đương đại.
Các nhà trường, đặc biệt ở vùng miền núi, cần tăng cường giảng dạy văn học dân tộc thiểu số song hành với giáo dục kỹ năng số. Các tiết học có thể tích hợp tư liệu nghe nhìn, tương tác số, khuyến khích học sinh tìm hiểu văn hóa qua hình thức đọc - kể - trình bày đa phương tiện. Cùng với đó, nên hình thành Câu lạc bộ đọc sách số, Ngày hội văn học dân tộc thiểu số trực tuyến hoặc Cuộc thi kể chuyện bằng tiếng mẹ đẻ trên nền tảng số để lan tỏa phong trào đọc, viết trong cộng đồng.
Một giải pháp quan trọng là sự hỗ trợ từ các chính sách của nhà nước và nguồn lực xã hội hóa. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích các dự án xã hội hóa về văn hóa đọc ở vùng dân tộc, đồng thời hỗ trợ kinh phí cho việc in - số hóa - dịch thuật tác phẩm. Các nhà xuất bản, tổ chức văn hóa, trường đại học, đài truyền hình có thể liên kết để hình thành chuỗi giá trị văn hóa đọc số, trong đó cộng đồng dân tộc là trung tâm của sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Bên cạnh chính sách hỗ trợ, cần đẩy mạnh các hình thức khuyến khích sáng tác như trại viết, tọa đàm, hội nghị, giải thưởng riêng cho tác giả dân tộc thiểu số.
Để diện mạo văn học dân tộc thiểu số Việt Nam có thêm những cơ hội phát triển, rất cần có những điều chỉnh một số hoạt động đã và đang thực hiện như trại viết, tọa đàm, hội nghị, giải thưởng… Một số ý kiến cho rằng cần có giải thưởng văn học nghệ thuật dành riêng cho các tác giả là người dân tộc thiểu số để khuyến khích những tác giả trẻ là người dân tộc thiểu số đam mê sáng tạo hơn. 
Kỷ nguyên số không làm suy yếu văn học dân tộc thiểu số, mà ngược lại, nếu được định hướng đúng, nó sẽ trở thành chất xúc tác mạnh mẽ cho sự lan tỏa của bản sắc. Vấn đề không nằm ở công nghệ mà ở cách chúng ta định hình hệ giá trị văn hóa và trao quyền cho cộng đồng được sáng tạo, đọc và kể lại câu chuyện của chính mình bằng phương thức mới. Văn học dân tộc thiểu số với bề dày của truyền thống và tính đa sắc, có thể mang đến tiếng nói vừa phong phú vừa độc đáo trong dòng chảy toàn cầu hóa nếu biết khai thác công nghệ mà vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa. Để phát triển bền vững, cần một chiến lược tổng thể gồm bảo tồn ngôn ngữ, chú trọng văn hóa đọc, đẩy mạnh truyền thông đa phương tiện và ứng dụng công nghệ phù hợp.


Đ.T.T.H

Tin tức khác