Chuyện trăm năm của một bến sông

Thứ ba, ngày 16-07-2024, 09:24| 4.203 lượt xem

Bút ký của Hồng Giang

 

Minh họa của Tân Hà

 

Hơn một trăm năm trước, vùng này còn hoang vu lắm. Đêm đêm còn nghe tiếng hổ gầm trên bến đá sát bờ sông. Ban ngày người ta còn bắt gặp từng đàn lợn rừng ra sông uống nước. Chúng quẫy đằm ùm ũm trong những hố nước gần bờ, bên dưới gốc sung già mấy người ôm không xuể. Nứa dại mọc bạt ngàn xen lẫn lau lách. Những cây sấu, cây đinh, cây chai hàng trăm năm tuổi. Khỉ kéo nhau từng đàn nhảy nhót trên những tán cây, dỡn nhau tranh giành quả dại kêu chí chóe. Còn chim rừng thì chưa ai tính là có bao nhiêu loại, chừng bao nhiêu con?

Từ lúc bình minh ló lên sau đỉnh Mười cho đến khi nhọ mặt người đủ loài chim đua nhau cất tiếng, vang động cả khu rừng. Mùa lũ cũng thật là khủng khiếp. Sau những đợt mưa dài ngày nước ngập mênh mang cả một vùng. Ngoài sông nước réo ào ào, cuồn cuộn như đang bị đun sôi dưới lòng đất, muốn tràn cả lên bờ. Chính vì vậy những làng người Tày ở cách xa đây đến cả quăng dao. Còn các động người Dao cũng không ai ở chỗ này. Họ thường cất những ngôi nhà tạm bợ, sơ sài trên những gò cao, ở một vài vụ, khi đất nương kém màu lại chuyển đi nơi khác. Có thể nói hàng trăm năm trước, nơi đây là chỗ không người. Làm chủ vùng đất này chỉ có hổ gấu, hươu nai... Rắn rết và chuột bọ.

Bỗng một hôm có ba người đầu quấn khăn dạ, ăn mặc theo lối người Thổ, một người vai mang súng kíp, hai người kia dao dài cài thắt lưng, cả ba cùng đeo túi vải bên sườn. Họ dừng lại bên một cửa hang đá sát bờ sông. Lòng hang hẹp, chỗ rộng nhất chỉ trải vừa cái chiếu. Đỉnh hang có một lỗ hổng to bằng miệng chậu, như là lỗ thông hơi.

Không ai biết họ là ai, từ đâu đến?

Đồn rằng họ là tàn quân của đám phỉ phía mạn Chiêm Hóa chạy về. Vùng đó đang có cuộc tàn sát tranh giành lãnh địa giữa hai tộc người Dao và Thổ. Các quan cai trị người Pháp, tri châu người bản xứ đều bất lực, không can thiệp nổi. Cũng có người nói đó là chủ trương của nhà bảo hộ Pháp, muốn chia rẽ các dân tộc để dễ bề cai trị. Mặc cho các sắc tộc tàn hại nhau, miễn là không đụng chạm đến quyền lợi và an ninh vùng họ cai quản. Người đứng tuổi có vẻ là trưởng nhóm. Ông này cao lớn, râu quai nón trông như người tây. Tên là ông Sinh Khai. Hai người kia sàn sàn tuổi nhau, đều là người Dao. Một người là Trương Văn Khoa, người kia là Triệu Văn Páo.

Trong vùng vừa trải qua một trận dịch, người chết nhiều, nên đã vắng vẻ càng thêm vắng vẻ. Thời bấy giờ sốt rét ác tính còn chưa có thuốc chữa. Người ta chỉ biết lấy cây ký ninh, một loài cây mọc dại trong rừng mang về sắc uống. Mười người mắc bệnh này, khỏi được hai ba người. Ai cũng mặt xanh, nanh vàng, da dẻ bủng beo. Thực ra thì bệnh này không lây qua đường sinh hoạt hoạt như ăn, uống, nằm chung giường. Nó chỉ lây lan do muỗi đốt, truyền từ người nọ sang người kia. Nhưng thổ ty, chánh tổng, lý trưởng vùng này có lệnh cấm. Ai ở bản nào, làng nào ở nguyên làng ấy. Bắt gặp người bản này sang bản khác là lý dịch, trương tuần gô cổ lại, giam vài ngày. Khi thấy người bị bắt không lên cơn sốt hay có triệu chứng mắc bệnh mới được thả ra. Thời bấy giờ chánh tổng, lý dịch cát cứ một vùng, làm vua một cõi, không ai dám chống lại.

Nhóm ông Sinh Khai ở hang được mấy hôm thì hết gạo hết muối. Cả bọn ngay từ trước khi đến đây cũng đã biết lệnh cấm trong vùng, nên chưa biết tính cách nào. Tiền và bạc trắng họ có, nhưng không dám vào bản. Một mặt đảng cướp trên Chiêm đang cho người truy đuổi ráo riết vì trước khi đi họ đã dám cả gan lấy tiền trong kho của ông trùm.  Nếu bắt được chắc chắn cả bọn sẽ bị ông trùm trói vào hang kiến vàng, phơi ngoài nắng cho đến chết mới thôi.

Tiến thoái lưỡng nan, chưa biết tính cách nào. Hết gạo còn có cách đào củ mài, hái rau rừng ăn tạm. Nhưng không có muối thì chưa có cách. Những năm lang bạt kỳ hồ trên vùng núi Bắc Giang theo tàn quân của ông Đề Thám, ông Sinh Khai học được cách đốt cỏ gianh lấy nước gio làm muối. Một cách cũng chỉ có tính tạm thời không thể dùng lâu vì lượng muối trong gio cỏ gianh không đáng kể. Dùng lâu người vẫn bị phù nề.

Ngay cả cách ấy ở chỗ này cũng không dùng được vì không có đám cỏ gianh nào đáng kể. Chỉ nơi đất xấu, cằn cỗi cỏ gianh mới mọc nhiều vì bỏ hoang không ai đụng tới.

Buổi tối hôm ấy, Trương Văn Khoa đánh liều bảo:

- Hay để tôi thử vào động người Thanh Y xem sao? Dù sao tôi cũng là người cùng dân tộc. Hơn nữa người Thanh Y vốn quý người, không ác như người Thổ, họ lại ở cách biệt, không tụ bạ đông nhà như người Thổ, người Kinh.

Cả bọn im lặng, không ai ra lời. Đây là việc hệ trọng, chết người chứ không phải chuyện chơi. Nhưng cũng không còn cách nào khác. Dù muốn dù không họ còn phải lưu lại vùng này khá lâu nữa mới tìm ra lối thoát. Hai người trong bọn đều là thổ dân vùng này, họ táp vào chỗ nào cũng được. Còn mình, ông Sinh Khai không biết về đâu?

Tự nhiên ông Sinh Khai thấy chua xót trong lòng. Nỗi nhớ quê hương bản quán của mình khiến ông muốn trào nước mắt. Ông cố ghìm cảm xúc, không muốn cho hai người kia trông thấy sự thiểu não của mình. Ôi làng quê khốn khó của mình bên bờ sống Cái. Nơi đồng non, bãi nổi, lau lác rậm rạp chả kém gì nơi này. Quanh năm con người vất vả, không kiếm nổi bữa ăn hàng ngày. Những lũy tre dày nối tiếp nhau bao quanh mái tranh nghèo, nhà nọ nối tiếp nhà kia. Mùa lũ đến cả làng nháo nhác chạy lũ. Tiếng trống  ngoài điếm canh hối thúc mà vợ chồng con cái dắt díu nhau không biết về đâu. Đã nghèo còn gặp lắm cái eo. Sưu cao thuế nặng lại thêm phần quấy nhiễu của của bọn cường hào ác bá sở tại.

Anh Sinh Khai vốn có tài thả cụp, một dụng cụ nom như cái rổ cái, có khung chữ thập, xung quanh miệng buộc đá. Bên trong cụp gá mồi như kiểu người ta bẫy chuột. Thấy mồi thơm cá chui vào, cụp xập xuống và mắc ở trong đó. Thường là loại trắm, chép nặng cả ký trở lên. Anh còn là đô vật có số má trong vùng. Năm nào mở làng mở hội vật, anh cũng đoạt giải nhất. Nhà nghèo lại lấy được cô vợ đẹp nhất làng. Đó là hạnh phúc và cũng là tai họa của đời anh!

Thường thì cơm xong, làm điếu thuốc lào, anh xách đồ nghề xuống vụng chíp. Chỗ này vốn ngày xưa do khúc sông chuyển dòng để lại thành một cái hồ. Chỉ những năm nước lớn, sông Cái mới tràn vào đây. Nghề bắt cá hồi đó trong vùng rất ít người làm. Chính vì vậy mà tôm cá trong hồ tương đối nhiều. Ngoài những chiếc cụp đan bằng tre đánh bắt cá lớn, anh còn mang theo chùm câu ngầm. Những chiếc lưỡi câu được móc nhái có sợi dây gai buộc vào cọc cắm dọc theo bờ nước. Một đoạn lông gà làm phao đánh dấu. Chỉ người cắm cần, thả cụp mới biết  chính xác nó nằm chỗ nào. Tất cả mọi việc làm xong vào lúc canh hai. Anh nhảy xuống nước tắm táp qua loa rồi về. Đêm nào cũng vậy, lâu thành lệ. Anh không ngờ một đêm xảy ra chuyện, khiến anh phải bỏ làng ra đi. Đêm đó sau khi cất dọn đồ nghề, nghe phía sau có tiếng động vội nghoảnh lại. Một bóng đen từ phía trong nhà anh lao vụt ra. Theo bản năng, anh vớ vội cái chày giã gạo dựng gần đấy, quát  kẻ kia đứng lại. Nghe vút một cái ngang mặt, anh vội né người tránh cái côn đôi của kẻ lạ mặt. Thuận tay vung cái chày trong tay ngược lên. Chỉ nghe “bép” một tiếng như khi ta đập ống tre. Vợ anh trong nhà thấy động cầm đèn chạy ra, đầu tóc bù xù hớt hải. Cái đèn dầu trong tay thị rơi xuống đất khi nhìn thấy gã đàn ông đang giãy giụa lăn lộn dưới đất là ai. Gã chính là con trai chánh tổng Sâm, một tay ăn chơi khét tiếng. Y đã có đến ba vợ rồi, vợ nào cũng đẹp mà vẫn tòm tem vợ người nếu thấy vào mắt. Dân làng đổ đến, khiêng y lên bệnh viện tỉnh. Hồi đó giao thông không được như bây giờ, chưa có xe cứu thương về được đến làng. Người nhà tổng Sâm phải thay nhau cáng bộ y lên tỉnh và y đã chết dọc đường.

Đám chân tay tổng Sâm năm bảy thằng xô vào bắt trói Sinh. Anh bị đánh nhừ tử. Tổng Sâm tính sáng hôm sau sẽ đưa anh lên huyện, phen này thằng đô vật này sẽ rũ tù. Bọn chúng trói anh vào cột nhà, thay nhau canh chừng. Gần sáng Sinh tỉnh lại. May cho anh chỗ chân cột có mảnh bát vỡ, anh khều chân và xoay người cầm lên. Chính thứ vô dụng này đã giúp anh thoát nạn..Thấm thoắt từ đó đến nay đã năm năm có lẻ.

*

Câu hỏi của Trương Văn Khoa vào lúc đó đã cắt đứt dòng hồi ức của anh. Sinh Khai bảo:

- Cẩn thận kẻo tuần phiên bắt được thì phiền phức không nhỏ. Có cần người nữa đi cùng không?

- Ai dà. Không cần đâu. Tôi đi một mình tiện hơn.

Sinh Khai rút trong bọc ra hai đồng tiền Đông Dương đưa cho Khoa. Số tiền này đủ mua vài cân muối và chục đấu gạo. Anh ta buộc lại ống quần rồi mất hút vào đêm tối. Còn lại hai người trong hang. Tự nhiên thấy bồn chồn cứ như lửa đốt đít. Đến gần tảng sáng vẫn không thấy Khoa về. Cả hai người không ai ngờ lúc đó Trương Văn Khoa đã bị bắt. Anh ta hai tay bị trói giật cánh khửu đằng sau, chân cũng bị buộc mấy vòng dây thừng, đang bị nhốt trong chuồng trâu nhà Xã Chi người Tày. Định là vào động người Mán, đường rừng chưa thuộc, lanh quanh thế nào khoa lạc vào bản người Thổ, gặp đám tuần phiên mang về đây. Xã Chi người cao lớn, có tiếng là trọng nghĩa khinh tài. Nhưng không biết ngày hôm đó xảy ra chuyện gì khiến ông bực mình. Đám xã đoàn tuần phiên muốn lấy lòng chủ, đánh Khoa thừa sống thiếu chết. Nhưng anh một mực không khai báo điều gì. Thời đó trong vùng rất loạn. Đảng cướp nổi lên nhiều nơi. Chưa bao giờ thù hằn dân tộc nổi cộm lên như lúc này. Quan phủ, quan huyện sức giấy về bắt buộc các tổng, các xã phải làm thật nghiêm. Nếu gặp kẻ làm loạn cứng đầu có thể “tiền trảm hậu tấu” vì đường đi lối lại khó khăn cách trở. Có người chưa rõ chuyện gì đã bị đâm chết, xác quẳng xuống sông Gâm. Lại thêm dịch sốt rét hoành hành, mạng người chưa bao giờ bị xem thường, coi rẻ đến như vậy!

Trương Văn Khoa coi như cầm chắc cái chết trong tay. Anh biết nếu có khai ra cũng không chắc thay đổi được tính mệnh. Cả ba người nếu vào tay quan phủ không chết cũng cầm chắc tù đày, không biết khi nào về. Thật may, đêm hôm đó có người từ trên Bình Nhân cưỡi con ngựa đen vào nhà Xã Chi. Người này chính là người đã từng kết nghĩa anh em với Trương Văn Khoa những ngày lưu lạc trong rừng Nhã Nam. Anh ta bị đạn bắn vào vai, nằm lại giữa rừng. Nếu Khoa không liều chết cõng anh ta về trại thì sẽ bị quân Pháp bắt được, có khi chết trong tù. Tên người này là Triệu Mai, người Quần Trắng, một sắc dân chi khác của ngành Dao. Từ ngày ở Nhã Nam hai người chia tay nhau, Triệu Mai giã từ vũ khí, về nối nghiệp nhà, làm nghề thuốc gia truyền. Không biết có phải do lòng giời xui khiến không? Hai người gặp nhau ở đây liệu có phải tình cờ?

Ông Xã Chi người chắc như gỗ lim, tự dưng mắc căn bệnh kỳ quái, thuốc nào cũng không khỏi. Nhờ thầy lập đàn, xin giải hạn cũng không kết quả. Hai bên yết hầu tự nhiên nổi hạch như đeo tràng hạt. Ban đầu chỉ hơi vương vướng khó chịu. Sau rồi phát sốt, đau không chịu nổi vào những hôm thời tiết thay đổi. Nghe có người mách phía trên chợ Thụt có ông lang người Quần Trắng từng chữa được bệnh này, ông lập tức cho người đi đón.

Hai bên chủ khách tỏ rõ câu chuyện, ông Xã Chi vội sai người nhà cởi trói cho Trương Văn Khoa. Còn bảo lấy quần áo của mình cho anh ta mặc. Tiếng tăm trọng nghĩa khinh tài của ông Xã Chi là điều có thật.

Lúc bấy giờ Trương Văn Khoa mới thưa với ông:

- Xin ông bỏ lỗi cho. Quả thực anh em chúng tôi có ba người. Tháng trước chúng tôi rủ nhau lên Bắc Mục mở lò rèn. Nhưng trên ấy loạn quá, không làm ăn được nên mới kéo nhau về đây. Không may gặp tuần phiên bắt giữ có điều gì không phải xin ông lượng cho. Chúng tôi chỉ xin mua ít muối và gạo làm lương ăn rồi tìm đường đi nơi khác kiếm sống ạ..

Xã Chi cả cười:

- Các anh biết làm nghề rèn thì còn phải đi đâu nữa? Thế có biết làm súng kíp không?

Trương Văn Khoa tính bốc đồng lại nổi lên:

- Chuyện nhỏ. Chỉ sợ làm ra không có người mua thôi á!

Suy nghĩ một hồi, ông cho hai người nữa đi theo Trương Văn Khoa ra hang đá đón hai người cùng bọn.

Mấy ngày sau, ông Xã Chi cho người chặt cây, lấy lá cọ dựng ngôi nhà gỗ hai gian. Một gian làm lò rèn, một bên làm lán ở. Lò rèn bên sông có từ đó..

Nghe câu chuyện của Sinh Khai, ông Xã Chi có vẻ mùi lòng thốt lên:

- Anh hùng gian nan, hồng nhan bạc phận. Thôi, anh cứ ở đây với ta. Nếu không chê đứa con gái út ta sẽ gả cho.

Cô này không đẹp,  nhưng lại có duyên, ăn nói nhanh nhảu, hoạt bát.

* *

Ít năm sau Việt Minh về hoạt động trong vùng. Ông Xã Chi có chân trong tổ chức. Những  ngày đầu của cách mạng thường dựa vào những người yêu nước có điều kiện kinh tế như ông lấy cơ sở hoạt động. Một mặt che mắt bọn thực dân ở chỗ chúng không ngờ vì cho là họ đang làm việc cho chúng. Một mặt họ là người có điều kiện kinh tế. Người nghèo theo cách mạng chỉ có nhiệt tình, sẵn sàng hi sinh tính mạng, nhưng đời sống lại quá khó khăn về sinh hoạt hàng ngày.

Giao thông liên lạc thời bấy giờ chủ yếu về tỉnh lỵ theo đường sông. Ông Xã Chi cho người xẻ ván, đóng thuyền. Bề ngoài mở bến đò ngang cho dân trong vùng. Thực chất bên trong là để đưa đón cán bộ hoạt động. Một lần có đội công tác của ông đội trưởng họ Chu (sau này nghe nói ông ấy lên đến cấp tướng), Trương Văn Khoa và Triệu Văn Páo xin theo. Ông Sinh Khai lúc này đã có gia đình riêng, lại phải trông nom bến đò nên ở lại. Họ bùi ngùi chia tay nhau. Chẳng ai ngờ vận mệnh con người cũng theo vận nước nổi trôi, họ không còn gặp lại.

* * *

Đã bao nhiêu nước trên nguồn đổ về qua khúc sông này. Bao nhiêu thế hệ người nối tiếp nhau lưu giữ bến đò gần cả trăm năm? Người ta có thể quên đi một vài người vì những lý do nào đó. Nhưng những ấn tượng về người lái đò đầu tiên vẫn còn mãi mãi. Bây giờ, bến đò ấy đã có một một cây cầu cứng bắc qua sông. Đò ngang, rồi phà chạy máy đã kết thúc vai trò lịch sử của mình. Hôm khảo sát tìm chỗ đặt mố cầu bên tả ngạn, người ta tình cờ tìm thấy trong hang đá gần bờ chiếc đe thợ rèn và mấy nòng súng kíp đã hoen rỉ. Đoàn cán bộ vội liên hệ với địa phương để đưa các hiện vật này về nhà bảo tàng. Theo họ, đây có thể là dấu tích còn lại của xưởng quân khí năm xưa ở vùng này.

H.G

 

Tin tức khác