Những đóng góp của quân đồng minh ở Tân Trào

Thứ năm, ngày 19-09-2024, 09:14| 6.714 lượt xem

Nguyễn Phi Khanh

Ảnh của Việt Trường

 

Những ngày Tháng Tám sôi sục cách đây 79 năm, từ Thủ đô Khu Giải phóng ở Tân Trào, Tuyên Quang, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, toàn dân ta đã vùng lên Tổng khởi nghĩa thành công, lật đổ ách thống trị tàn bạo của phát-xít Nhật, thực dân Pháp và phong kiến tay sai, giành chính quyền thắng lợi trên phạm vi cả nước. Trong thời khắc lịch sử, khẩn trương, hào hùng ấy, có một sự kiện chưa được nhiều người biết tới. Đó là Cơ quan Tình báo chiến lược Hoa Kỳ và đội Con Nai của quân Đồng Minh đã hoạt động hỗ trợ tích cực, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Sau khi gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II và thôn tính gần hết châu Âu, tháng 6/1940 phát-xít Đức xâm chiếm nước Pháp, dẫn đến sự cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam chao đảo. Ngày 22/4/1940, phát-xít Nhật xâm lược Đông Dương, buộc Pháp phải ký “Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương”.

 

Mùa hè năm 1944, quân Đồng Minh giải phóng nước Pháp. Ở Việt Nam, người Pháp bí mật cung cấp cho quân Đồng Minh đóng ở Côn Minh (Trung Quốc) nhiều tin tức tình báo về quân Nhật; nhờ đó, các máy bay chiến đấu của Mỹ đã ném bom phá hủy hàng loạt căn cứ quân sự của Nhật; nhiều phi công Mỹ được giải cứu khi máy bay bị Nhật bắn rơi. Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, bắt giam hết người Pháp. Cơ quan Tình báo chiến lược Hoa Kỳ (OSS) thấy cần phải có thông tin tình báo từ những người Việt Nam chống Nhật.

Sự hợp tác của Hoa Kỳ với Mặt trận Việt Minh

Ngày 11/11/1944, Trung úy phi công Mỹ là Rudolph Shawn, Phi đoàn 51, Không lực 14, nhảy dù xuống Cao Bằng do máy bay bị trúng đạn hỏng động cơ. Shawn được lực lượng Việt Minh cứu thoát khỏi vòng vây của quân Nhật và trú ẩn tại căn cứ địa Pác Bó. Sau đó Shawn được gặp Bác Hồ, được Người tặng một bản “Chương trình Việt Minh” bằng tiếng Anh. Với tầm nhìn chiến lược cần tranh thủ sự giúp đỡ của quân Đồng Minh để kháng Nhật, cuối tháng 12/1944, Bác Hồ bí mật cùng một nhóm du kích đưa Trung úy Shawn vượt biên giới Việt - Trung sang Côn Minh an toàn. Tại Côn Minh, Người thương thuyết với  2 vị tướng Mỹ là Claire Chennault, chỉ huy Không lực 14 và William J. Donovan, Giám đốc OSS, đề nghị họ hợp tác với Mặt trận Việt Minh để cùng chống Nhật. Bộ Chỉ huy quân Đồng Minh ở Côn Minh đồng ý hợp tác với Việt Minh, đề nghị Bác Hồ - với mật danh Lucius, thường xuyên cung cấp thông tin về quân Nhật ở Bắc Kỳ cho họ. Khi Bác Hồ trở lại Cao Bằng, OSS cử sĩ quan tình báo Frankie Tan và chuyên gia điện đài Mac-shin đi theo. Sau đó ít lâu, hai người Mỹ này cùng Bác Hồ và đoàn cán bộ Việt Minh rời Pác Bó, Cao Bằng, bí mật xuyên rừng, ngày đi đêm nghỉ, tránh các đội tuần tra của Nhật, bám theo các cơ sở cách mạng và tháng 5/1945 tới căn cứ địa Tân Trào, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. 

Ở Tân Trào, Mac-shin hằng ngày báo cáo qua điện đài về Bộ Chỉ huy quân Đồng Minh ở Côn Minh tình hình thời tiết, các cuộc chuyển quân của Nhật do mạng lưới trinh sát của Việt Minh thu thập, đồng thời huấn luyện một số cán bộ Việt Minh sử dụng điện đài. Tại Côn Minh, ngày 16/5/1945 đội đặc nhiệm tình báo SO, bí danh Con Nai (Deer Team) thuộc lực lượng OSS của quân Đồng Minh, được thành lập. Đội gồm 7 người: Thiếu tá Allison K.Thomas, đội trưởng; Trung úy Rene Defourneaux, đội phó; thượng sĩ William F.Zielski, điện đài viên; Trung sĩ Lawrence R.Vogt, chuyên gia vũ khí, tham mưu trưởng; Trung sĩ Aron Squires, chuyên gia vũ khí kiêm chụp ảnh; binh nhất Henry A.Prunier, thông dịch viên; binh nhất Paul Hoagland, quân y. Đội có nhiệm vụ giúp lực lượng Việt Minh huấn luyện quân sự, đẩy mạnh hoạt động du kích, chỉ điểm cho không quân Mỹ ném bom và hợp tác với Việt Minh thu thập thông tin tình báo chống phát-xít Nhật trong giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II.

Giữa tháng 6/1945, Lực lượng hỗ trợ không bộ (Air Ground Aid Section - AGAS) của Không lực 14 phái trung úy Daniel Phelan nhảy dù xuống Tân Trào, xúc tiến cùng Việt Minh xây dựng sân bay dã chiến ở thôn Lũng Cò, xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương. Sân bay có đường băng dài 400 m, rộng trên 20 m đủ điều kiện để máy bay cỡ nhỏ của Mỹ cất và hạ cánh, cung cấp vũ khí, lương thực, thuốc men cho Việt Minh. Đây là sân bay đầu tiên của cách mạng Việt Nam và là sân bay duy nhất tại Khu giải phóng, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa đón quân Đồng Minh việc tiếp nhận hàng viện trợ của quân Đồng Minh bằng đường không. 

Những hoạt động của đội tình báo Con Nai ở Tân Trào

Giữa tháng 7/1945, chiếc máy bay C-47 Dakota chở 3 đội viên đội Con Nai là Thomas, Prunier, Zielski và 3 phái viên người Pháp đến Minh Thanh, nhưng vì thời tiết xấu nên cả nhóm phải nhảy dù xuống Tân Trào. Họ được Bác Hồ, đồng chí Văn (tức Võ Nguyên Giáp) và các cán bộ Việt Minh chào đón nồng hậu. Ngày 29/7 đợt nhảy dù thứ hai của đội Con Nai, gồm 4 đội viên là Vogt,

Defourneux, Squires và Hoagland diễn ra thành công. Vừa tiếp đất, họ được đồng chí Văn và những người Mỹ đến trước đó hân hoan chào đón. Cùng ngày 29/7, đội SO thứ hai, bí danh Con Mèo (Cat Team) gồm 3 người là đại úy Charles M.Hollan, trung sĩ John Burrowes và trung sĩ John L.Stoyka, cũng nhảy dù xuống Tân Trào để thực hiện những nhiệm vụ khác.

Khoảng cuối tháng 7/1945, trên căn lán nhỏ đơn sơ trong khu rừng Nà Nưa thuộc thôn Tân Lập, giữa bộn bề công việc, Bác Hồ bị ốm nặng, người gầy gò, xanh xao, hốc hác. Những năm tháng bôn ba năm châu bốn bể, những đêm đông lê bước dưới xích xiềng nhà tù đế quốc, những đêm dài nếm mật nằm gai, mưa rừng, sốt rét, thiếu thốn, gian khổ,… đã vắt kiệt sức của Người. Có ngày Bác bị sốt rét liên tục và nằm li bì, tưởng không qua khỏi. Có lần, vừa tỉnh lại sau cơn sốt, Bác liền căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới. Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập!”. Nhưng thật may mắn, trong đội Con Nai có bác sĩ quân y là Paul Hoagland. Ngày 3/8, Rene Defourneaux và Paul Hoagland lên lán Nà Nưa thăm Bác, vị bác sĩ kịp bắt mạch kê đơn, hàng ngày chữa trị tích cực cho Bác bằng thuốc ký ninh và kháng sinh liều cao. Vừa điều trị thuốc tây vừa kết hợp với uống thuốc nam của đồng bào địa phương, sau khoảng mười ngày Bác đã cắt được cơn sốt rét, sức khỏe dần bình phục.

Những ngày đầu tháng 8/1945, đội Con Nai cùng Việt Minh vào rừng chặt tre nứa gấp rút xây dựng trại huấn luyện. Trại gồm 3 doanh trại của bộ đội Việt Minh, 1 doanh trại của lính OSS, 1 phòng họp, 1 nhà bếp, 1 kho hàng, 1 trạm xá, 1 trụ sở liên lạc, 1 bãi tập xạ kích và 1 khu vực huấn luyện ngoài trời. Cuối bãi huấn luyện có một cây rừng cao để lại làm cột treo cờ đỏ sao vàng. Trước đó Bác Hồ đã chỉ thị chọn những chiến sĩ ưu tú trong các đơn vị Giải phóng quân để tổ chức một đại đội, gọi là Đại đội Việt - Mỹ, hay Bộ đội Việt - Mỹ, quân số khoảng 200 người. Đại đội do đồng chí Đàm Quang Trung chỉ huy, thiếu tá Thomas làm tham mưu trưởng. Khóa huấn luyện cấp tốc khá căng thẳng, từ ngày 9 đến 15/8, từ 5 giờ 30 sáng đến 17 giờ chiều. Ngoại trừ Zielski làm nhiệm vụ liên lạc điện đài, tất cả thành viên đội Con Nai và trung sĩ Stoyka của đội Con Mèo đều tham gia giảng dạy, truyền đạt cách sử dụng vũ khí và chiến thuật du kích, theo giáo trình huấn luyện của quân đội Hoa Kỳ. Bộ đội Việt Minh được huấn luyện phép đạc tam giác, cách ném lựu đạn; tập xạ kích; vệ sinh và tháo lắp các loại vũ khí bộ binh như súng trường, súng tiểu liên, súng máy, súng ngắn, súng cối, súng chống tăng,...

Từ ngày 10/8, ba chuyến máy bay vận tải C-47 Dakota chở đến Tân Trào nhiều loại vũ khí, trang thiết bị quân sự và thuốc men, vật tư y tế. Trong số vũ khí có 1 khẩu đại liên, 2 súng cối 60 mm, 4 súng chống tăng M1Bazooka, 8 súng máy Bren, 20 súng ngắn Colt, 20 súng tiểu liên M1A1Thompson, 60 súng trường M1Garand, 60 súng M1Carbine, một số ống nhòm, hàng trăm quả lựu đạn, hàng trăm thùng đạn các loại và nhiều tài liệu về chiến tranh du kích. Ngoài ra còn một số vũ khí được đưa vào bằng đường bộ cùng Frankie Tan và Mac-shin trước đó. Cùng với học cách sử dụng vũ khí và chiến thuật, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Đàm Quang Trung, Hoàng Văn Thái, Vũ Lập và một số cán bộ quân sự cấp cao khác được huấn luyện kỹ năng chỉ huy. Những trang thiết bị và vũ khí của quân Đồng Minh cùng các loại vũ khí thô sơ do ta tự chế tạo đã tạo thành một đội quân được trang bị vũ khí đầy đủ. Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Nhìn đoàn quân hàng ngũ chỉnh tề được trang bị vũ khí mới cùng lưỡi lê sáng loáng khiến chúng tôi phấn khởi và tin tưởng”. Ông Henry Prunier nhận xét:  “Đây là một đội quân được tinh tuyển từ nhiều nơi khác nhau tại Việt Nam. Họ hoàn toàn không phải là những người nông dân tầm thường”! Ông Defouneaux khẳng định: “Đại đội Việt - Mỹ gồm toàn những học viên quân sự giỏi, ông Hồ Chí Minh cũng là một người tài ăn nói, có phạm vi hiểu biết rộng”.

Lúc này, trên chiến trường châu Á - Thái Bình Dương, sau khi Mỹ ném bom nguyên  tử  xuống  2  thành  phố  Hirôsima  và  Nagasaki  của Nhật Bản, ngày 14/8/1945 Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng quân Đồng Minh vô điều kiện. Nắm bắt thời cơ ngàn năm có một, tại Tân Trào, sáng ngày 16/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ban hành Lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước. 14 giờ cùng ngày, dưới bóng rợp mát của cây đa Tân Trào, đại đội Việt - Mỹ cùng đội Con Nai làm lễ xuất quân, vượt đèo Re tiến đánh quân Nhật tại thị xã Thái Nguyên. Quân Nhật chống cự quyết liệt nhưng bị thiệt hại nặng, đến ngày 25/8 phải nộp vũ khí đầu hàng quân cách mạng. Sau một ngày nghỉ ngơi, đội Con Nai cùng Chi đội 4 Quân Giải phóng khẩn trương hành quân về Hà Nội, tham gia bảo vệ chính quyền cách mạng. Ngày 9/9/1945, đội Con Nai hoàn thành nhiệm vụ ở Việt Nam, lên đường trở lại Côn Minh để rút về nước.

Dù chỉ hoạt động ở Tân Trào trong khoảng thời gian không dài nhưng quân Đồng Minh, tiêu biểu là Đội Con Nai đã góp sức không nhỏ vào thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tuy quy mô nhỏ bé nhưng đây là sự hỗ trợ quốc tế đầu tiên ở thời điểm đất nước chưa giành được chính quyền. Lực lượng Việt Minh kháng Nhật cùng Đội Con Nai và cơ quan OSS của Mỹ đã mở ra hy vọng về quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Với tầm nhìn chiến lược về đối ngoại, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nỗ lực để xây dựng, phát triển mối quan hệ Việt - Mỹ. Sau khi tuyên bố nước nhà độc lập ngày 2/9/1945 tại Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ nhiều lần gửi điện và thư đề nghị Chính phủ và bộ Ngoại giao Mỹ công nhận Nhà nước Việt Nam mới. Trong thư gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman, ngày 16/2/1946, Bác viết: “Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”. Tiếc là Tổng thống Mỹ lúc đó, Harry Truman, đã bỏ lỡ cơ hội. Thay vì công nhận Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ lại ủng hộ, tiếp sức người Pháp xâm chiếm nước ta trong 9 năm (1946 - 1954); sau đó can dự trực tiếp, gây chiến tranh tàn khốc chia cắt đất nước Việt Nam suốt 21 năm (1954 - 1975). Và phải 20 năm sau ngày Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi, ngày 11/7/1995, Mỹ mới thiết lập quan hệ ngoại giao với nước ta. Ngày 6/8/1995, Văn phòng đại diện ngoại giao của Mỹ tại Hà Nội được nâng cấp thành Đại sứ quán. Gác lại quá khứ chiến tranh đau thương để hướng đến tương lai tươi sáng, ngày 25/7/2013, nước ta và Hoa Kỳ xác lập quan hệ đối tác toàn diện, đóng góp tích cực cho an ninh, hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Hơn 10 năm sau, ngày 10/9/2023, Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện, mở ra giai đoạn hợp tác vì hòa bình, phát triển bền vững.  

Kỷ niệm không phai mờ

Sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam, tổ chức phi lợi nhuận “Dự án hòa giải Mỹ - Đông Dương” tổ chức cho các cựu thành viên đội Con Nai và cựu nhân viên OSS đến Việt Nam thăm lại chiến khu xưa, gặp gỡ những cựu chiến sĩ Việt Minh mà họ từng hợp tác từ nửa thế kỷ trước. Trở lại Tân Trào, các cựu binh đội Con Nai thăm nơi họ từng ở, địa điểm họ từng huấn luyện đại đội Việt - Mỹ. Tới bên gốc cây đa cổ thụ đầu thôn Tân Lập, ông Thomas nhớ: Dự định ban đầu từ Côn Minh đến Tân Trào, đội Con Nai sẽ đi đường bộ, nhưng do quân Nhật lùng sục gắt gao nên phải sử dụng đường hàng không. Do thời tiết xấu, phi công không nhận ra dấu hiệu bãi nhảy dù ở mặt đất nên mọi người phải nhắm mắt nhảy liều xuống và dù của thiếu tá Thomas mắc đúng vào cành cây đa cổ thụ!

Do có tình cảm sâu sắc với Việt Nam và lòng kính yêu Bác Hồ, năm 2009, ông Henry Albert Prunier - thành viên duy nhất còn sống của đội Con Nai đến thời điểm năm 2013 - đã tặng Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam một thùng tài liệu, trong đó có cuốn nhật ký do chính ông viết, kèm tập ảnh đen trắng do Aron Squires chụp ở Tân Trào năm 1945, bộ quân phục Mỹ gắn quân hàm, phù hiệu ông đã sử dụng, tấm danh thiếp in tiếng Việt và tiếng Hoa của đại đội trưởng đại đội Việt - Mỹ ông Đàm Quang Trung tặng ông trước khi đội Con Nai rút về Mỹ, bản sơ đồ khu vực các thành viên đội Con Nai sống và làm việc ở Tân Trào năm 1945; các cuốn sách của tác giả Mỹ viết về Bác Hồ; các băng ghi âm về những cuộc phỏng vấn, băng ghi hình về Chủ tịch Hồ Chí Minh do ông sưu tầm, tập hợp từ các đài truyền hình, các hãng thông tấn của Mỹ và nước ngoài.

Với những đóng góp vào Chiến thắng chống phát-xít trong Chiến tranh thế giới thứ II, ông Henry Albert Prunier và một số thành viên đội Con Nai được Chính phủ Hoa Kỳ tặng thưởng Huân chương Sao Đồng. Năm 2011, Chính phủ Việt Nam tặng Bằng khen cho ông Henry Albert Prunier vì những đóng góp cho nền độc lập của Việt Nam.

N.P.K

Tin tức khác