Ghi chép của Dương Đình Lộc

Rước Mẫu. Tranh sơn dầu của Lê Cù Thuần
Việt Nam, với bề dày văn hóa về lịch sử văn hóa tín ngưỡng, thì Đạo Mẫu đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người miền Bắc nói riêng và Nhân dân cả nước nói chung. Thần chủ thứ nhất của đạo mẫu Việt Nam là công chúa Liễu Hạnh, theo truyền thuyết tại buổi yến tiệc trên thiên đình khi nâng chén vàng lên cung chúc vua cha, công chúa đã sơ ý đánh rơi làm Ngọc Hoàng nổi giận, giáng lệnh truyền cho xuống trần gian hiển Thánh tại Vụ Bản, Nam Định, bây giờ đền thờ chính tại Phủ Vân Cát (Nam Định) và Sòng Sơn (Thanh Hóa). Vị thần chủ thứ hai là Thánh mẫu Thượng Ngàn, có nhiều điển tích và truyền thuyết về bà là người có công giúp vua dẹp giặc, yêu thương dân chúng, độ trì mưa thuận gió hòa, phù hộ cho mùa màng tươi tốt, đền thờ chính tại bốn nơi là Đông Cuông (Yên Bái) Sâm Sơn Linh Từ (Đền Thượng Núi Dùm Tuyên Quang), Suối Mỡ (Bắc Giang) và Bắc Lệ (Lạng Sơn). Vị Thần chủ thứ ba là Mẫu Thoải Phủ, truyền thuyết kể lại bà là con vua Động Đình, kết hôn với Kính Xuyên, sau bị một người tiểu thiếp của Kính Xuyên tên là Thảo Mai trá đồ thư gieo oan nên bị đày lên chốn sơn lâm, đền thờ chính của bà tại Sâm Sơn Linh Từ (Đền Thượng Núi Dùm Tuyên Quang) và đền Dầm (Thường Tín, Hà Nội). Như vậy thần chủ của đạo Mẫu Việt Nam có ba vị (Tam Tòa Thánh Mẫu) thì có tới tận hai vị ngự chính tại Tuyên Quang, điều đó đã minh chứng rõ ràng Tuyên Quang là một miền đất Mẫu đã có từ ngàn xưa, có điển tích rõ ràng trong các tư liệu lịch sử văn hóa cổ phong tục tín ngưỡng Việt Nam.
Trong bản chầu văn cổ về thánh Mẫu thượng ngàn có từ trăm năm nay, ngay từ những dòng đầu tiên đã viết:
Sắc phong Lê Mại chúa tiên
Núi Dùm chúa ngự trấn miền Tuyên Quang
Đức Mẫu ngàn con vua Đế Thích
Giáng sinh vào quý tộc Lê gia
Năm Thân mùng hai tháng ba
Định sinh tiên chúa khai hoa giờ Dần…
Bà là hiện thân của Thánh Mẫu thượng ngàn, được Nhân dân khắp nơi tôn thờ và kính ngưỡng, đặc biệt là các thanh đồng dưới Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định rất tôn sùng, nhiều thanh đồng đã lập phủ thờ để bái vọng bà và thường trang trọng bắc ghế hầu bà trong những dịp lễ, tiệc long trọng.
Cũng như chúa thượng ngàn Lê Mại đã được thờ chính tại đền Sâm Sơn Linh Từ hay còn gọi là đền Thượng (Núi Dùm Tuyên Quang). Tại đây cũng thờ chính vị Mẫu thoải phủ Xích Lân Long Nữ, điển tích thơ phú hàng trăm năm về bà có đoạn viết khi bà bị đầy lên chốn non cao:
Trách Thảo Mai ra lòng giáo giở
Trá đồ thư làm cớ gieo oan
Chàng không soi xét thiệt gian
Nỡ đem đầy chốn lâm sơn sao đành
Đỉnh non xanh một mình vò võ
Sớm khuya cùng núi cỏ ngàn cây
Đèn trăng chiếu đá màn mây
Dưỡng thân hoa quả bạn bày trúc mai…
Chốn lâm sơn ở đây chính là đất Tuyên Quang xưa, và đỉnh non xanh kia phần nào cũng chính là khu vực núi Dùm ngày nay, sau này theo truyền thuyết Mẫu gặp được chàng nho sinh Liễu Nghị, nhờ đem thư phong tới bể Đông để cầu cứu vua cha, sau đó Mẫu được giải oan và Kính Xuyên cùng Thảo Mai bị gia hình kết tội. Mẫu thoải cũng chiếm một vị trí đặc biệt trong văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam, hàng năm, mỗi dịp Tết đến xuân về, hàng đoàn những xe khách thập phương nối đuôi nhau từ khắp mọi miền lên Tuyên Quang đỗ chật kín sân đền Thượng để cho các thanh đồng tứ phủ vào dâng lễ và chiêm bái Mẫu Thoải. Nói về sự đông khách thập phương thì đền Thượng (Núi Dùm) đứng hàng số 1, sau nữa phải kể đến đền cô bé Minh Lương.
Đền cô bé Minh Lương tọa lạc trên một ngọn đồi có phong cảnh hữu tình tại xã Lang Quán, Yên Sơn, Tuyên Quang. Đã từ lâu, cô đã nổi tiếng linh thiêng được phong Thánh trong đạo Mẫu và đưa vào hàng các Cô thường được các thanh đồng cả nước bắc ghế hầu vào mỗi dịp khánh đản quan trọng. Chầu văn cổ về cô ngay từ những dòng đầu tiên đã trang trọng viết:
Vầng nhật nguyệt soi đường chính đạo
Lượng càn khôn xét kẻ ngay gian
Nhớ xưa Lang Quán, Tuyên Quang
Minh Lương lại có cô nàng Thiên Y
Phù tiên dược thần kỳ cứu thế
Đất Tuyên Quang già trẻ đội ơn
Ơn người như núi như non
Trọn đời nhớ tấm lòng son vì đời…
Bởi lộc cô là lộc hái thuốc cứu đời, nên những ai muốn khỏe mạnh, khỏi hết bệnh tật về mặt tâm linh thường đến đền cô kêu cầu dâng lễ, vì thế đền cô Minh Lương quanh năm rất đông khách thập phương đến chiêm bái và thành kính dâng hoa. Tuyên Quang còn có rất nhiều điển tích về các ngôi đền đã được trang trọng ghi trong các áng chầu văn cổ của Việt Nam, như:
Tuyên Quang cảnh trí hữu tình
Múi Dùm Mẫu ngự trước ghềnh nguy nga
Cảnh đền Cấm một tòa thạch động
Đền Ỷ La lồng lộng ngôi cao
Cây Xanh chầu mắc võng đào
Mỏ Than chầu ngự thấp cao mấy tầng… (Văn cổ Chầu Bé Bắc Lệ).
Rồi:
Có khi ngự Nam lâu Bắc điện
Trở ra về chơi chốn Tuyên Quang
Dạo miền Thác Cái, Thác Con
Khi chơi Bắc Mục lúc sang Tam Cờ (Văn cổ Quan Lớn Đệ Tam).
Nhắc đến đền Ỷ La, chúng ta cũng không thể quên được một nhân vật quan trọng ở đây, đó chính là Cô Tư Ỷ La, một nhân vật được tôn kính trong hàng Thánh Cô của Đạo Mẫu, được các thanh đồng cả nước biết tiếng và thường xuyên chiêm bái, rồi là những:
Đền thờ hoa quả xanh um
Lãng na chầu quẩy núi Dùm vô qua
Tức thời về tới Ỷ La
Nửa đêm giờ Tý hiện ra Đồng Tiền
Có phen lên tới tỉnh Tuyên (Trích văn cổ Chầu Lục).
Bản văn trên đã được các nghệ nhân hàng đầu Việt Nam như Nghệ nhân Ưu tú Lương Trọng Quỳnh và Nghệ sĩ Nhân dân Khắc Tư thể hiện rất thành công.
Sách cúng xưa, khoa khao thỉnh sơn trang ngay những dòng đầu tiên có đoạn viết:
Sắc cẩn thỉnh đức chúa sơn trang
Vốn tiền duyên chúa ngự trên ngàn
Vào lệnh tộc danh xưng Lê Mại
Đền Tuần Quán, Đông Cuông thượng đại
Cảnh núi Dùm lịch đại muôn niên
Tỉnh Tuyên Quang qua miếu Đồng Tiền
Ỷ La thần Tam Cờ xuất nhập…
Đây là khoa cúng mà mỗi khi cúng Thánh Mẫu trước một vấn hầu đồng, thầy cúng dù ở vùng miền nào trên khắp cả nước cũng đều phải thỉnh tới, thế mới biết các vị Thánh và những ngôi đền của Tuyên Quang trong hội đồng Tứ phủ đạo Mẫu Việt Nam mới chiếm một vị trí quan trọng và tối linh đến nhường nào.
Tuyên Quang, ngoài các ngôi đền linh thiêng có điển tích rõ ràng chiếm một vị trí đặc biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam, còn có những thanh đồng hết lòng hết sức phục dựng và bảo tồn các lối hầu đồng theo lề lối cổ xưa, đúng với phong thái tương ứng với một giá đồng mà các cụ đồng ngày trước đã ra sức dạy bảo truyền lại. Ví dụ hầu các giá Quan lớn sao cho phải uy nghi lẫm liệt, các giá Chầu bà phải khoan thai ngôn hạnh, các giá Cô giá Cậu phải nhí nhảnh vui tươi, các giá ông Hoàng phải thanh cao phóng khoáng… Có thể kể đến một số thanh đồng tiêu biểu bây giờ như cậu Tuấn (Đền Hạ), cô Dậu (Đền Cây Xanh), cậu Sửu (Đền Thượng, Núi Dùm)… Họ là những người đã và đang kế thừa truyền thống tốt đẹp về lễ nghi hầu đồng cốt cách của các cụ xa xưa để lại. Tôi đã được nghe rất nhiều các bà các mợ kể lại rằng, hầu đồng xưa kia không như bây giờ, ngày xưa các cung văn chỉ hát mộc không có loa máy mà cung đàn tiếng hát nhịp phách linh thiêng trầm ấm, các giá đồng về phát lộc chỉ có phong bánh, chiếc kẹo, phẩm oản mà dáng dấp người hầu hào hoa đức độ, khung cảnh ngôi đền ngày xưa chỉ có đèn dầu ngọn nến, hoa huệ hoa sói mà khói sương huyền ảo. Còn bây giờ, thời đại phát triển, cung trong cung ngoài đèn điện sáng choang rực rỡ, một dàn hát văn khí cụ loa máy công suất lớn đủ cả, lễ lộc thì ê chề bánh trái toàn đồ cao cấp sang trọng, hoa thì lan ly nhập khẩu mà chẳng thấy lúc bắc ghế hầu mấy khi có Thánh… ngự ??? Tôi đem thắc mắc này hỏi một nghệ nhân hầu đồng uy tín của Tuyên Quang thì được nghe trả lời rằng: Thực ra hầu đồng là ta đang diễn lại các điển tích xưa ví như chầu Mười Đồng Mỏ vung kiếm theo Vua Lê đánh giặc, ông Hoàng Mười Nghệ An phất cờ theo vua Quang Trung tiến quân ra Bắc diệt giặc Thanh, hay như Quan Lớn Đệ Tam múa kiếm giữ yên bờ cõi, quan Đệ Ngũ Tuần Tranh vung đao bảo vệ sơn hà… Và người cung văn sẽ có trách nhiệm hát lên các điển tích, các chiến công đó cho người dự họ nghe và hiểu cũng như không quên các chiến công, các anh hùng cũng như các vị Thánh đó mà thôi. Xong ngày nay, nhiều thanh đồng trẻ tuổi không chịu học hỏi tiếp thu lề lối cốt cách của các thế hệ đi trước, cậy mình có tiền của mua lễ tố hảo mà lúc bắc ghế hầu lại chả biết các vị Thánh đó quê quán ở đâu? Chiến công ra sao? Phong Thánh năm nào? Thì thử hỏi làm gì có Thánh nào ngự khi anh hay chị ta mù tịt về họ, lúc hầu thì biểu diễn múa may có khi không ra một phép tắc quy chuẩn gì, mà chỉ cố để phô trương cái canh đàn khóa lễ đó sao cho được khen là nhiều lộc, nhiều tiền, nhiều quà, múa dẻo, múa xinh… Bởi vì thế, vài năm trở về đây một trung tâm phát triển đạo Mẫu tại Tuyên Quang đã ra đời với nhiều nghệ nhân có tâm huyết dẫn dắt và chỉ lối cho các thanh đồng trẻ, hiểu và phát huy giá trị của đạo Mẫu sao cho đi đúng đường lối Chân, Thiện, Mỹ, như nghệ nhân Vũ Thị Hoàn (phường Phan Thiết), nghệ nhân Trần Thị Lan (phường Minh Xuân) v.v. Để hiểu đến với đạo Mẫu chính là đến với cái Tâm hướng Thiện, để tìm thấy bản Ngã của chính Căn Số con người mình trong đó, rồi tu tập dần giải thoát khỏi Tham, Sân, Si, hóa thân vào các vị anh hùng nhân thần hay thiên thần để thấy mình mạnh mẽ hơn vượt qua khó khăn thử thách trong cuộc sống cũng như vun đắp thêm tình yêu nước nồng nàn, chứ không phải là nơi để thể hiện sự bói toán, dọa dẫm, nhận lễ làm giàu, cũng như tuyên truyền mê tín dị đoan. Đây quả là một tín hiệu đáng mừng để đạo Mẫu tại Tuyên Quang ngày càng phát triển theo chiều hướng văn minh, lịch sự sao cho tương xứng với bề dày trầm tích mà mảnh đất của Mẫu Thượng ngàn, của Mẫu Thoải phủ được các thanh đồng cả nước hướng về.
Trong khuôn khổ một bài báo này, tôi không thể kể hết cũng như liệt kê sao cho trọn vẹn những trầm tích phong phú và đầy huyền ảo của đạo Mẫu tại Tuyên Quang, chỉ biết rằng, trong những năm gần đây, tôi cũng đã tìm tòi nghiên cứu và khám phá, tự mình viết thêm vào cho đạo Mẫu những bản chầu văn mới bằng chữ Quốc ngữ (in thành sách đã xuất bản) được các cung văn, nghệ sĩ nhiều nơi nồng nhiệt đón nhận, ví như bản chầu văn Quan Lớn Đệ Tam, trong đó có đoạn:
Mây ngũ sắc cuồn cuộn tám hướng
Kiếm trong tay rẽ sóng hiện lên
Đùng đùng sấm động kinh thiên
Mưa ù chớp giật uy nghiêm tướng thần...
Bản văn chầu đã được Nghệ nhân dân gian Thanh Long thể hiện rất truyền cảm, với mong muốn tiếp nối và phát huy cho đạo Mẫu tại Tuyên Quang nói riêng cũng như Việt Nam nói chung được thêm phần hưng long phát triển. Để mỗi dịp Tết đến xuân về, khi tháng Hai âm lịch thơm ngát hoa xoan hoa bưởi, chúng ta lại bồi hồi tổ chức Lễ hội rước Mẫu lớn nhất Tuyên Quang, nô nức tới các ngôi đền có tuổi đời hàng trăm năm cổ kính trên mảnh đất xứ Tuyên linh thiêng, để thưởng thức các làn điệu hát văn thi đồng trong những buổi tối ngập tràn ánh đèn lồng giữa mưa xuân man mác người người chen lấn, cùng ôn lại những truyền thống tốt đẹp nhân văn mà đạo Mẫu đem lại, tôn vinh người Mẹ xứ sở đã hóa thân vào những đóa hoa Văn Hóa bất tử, tỏa hương thơm mãi ngàn năm.
Tháng Hai, Xuân Ất Tỵ 2025
D.Đ.L

.jpg)






