Mạc Ninh
Bác Hồ về nước. Tranh sơn dầu của Trịnh Phòng
Liền mấy đêm suy nghĩ, đường lối cách mạng do Hội nghị Trung ương lần thứ Tám đề ra: Tập trung vào nhiệm vụ phản đế, tập hợp mọi tầng lớp Nhân dân không phân biệt tôn giáo, dân tộc đứng trong Mặt trận Việt Minh, mở rộng khu căn cứ, xây dựng lực lượng vũ trang, tiến tới tổng khởi nghĩa... phải được tuyên truyền rộng rãi. Báo chí là phương tiện hiệu quả nhất, Bác đi đến quyết định xuất bản một tờ báo.
Việc xuất bản báo, Bác đã từng qua, tích lũy được nhiều kinh nghiệm: Báo Người cùng khổ, báo Thanh niên...
Một buổi sáng, trước khi các đội viên du kích xuống bản, Bác gọi Lê Quảng Ba, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc - họ là ba trong số năm người (hai người còn lại là Phùng Thế Tài và Đào Thế An) cùng Bác trở về Tổ quốc tháng 2 năm 1941 lại và hỏi:
- Các chú đã thấy làm giấy thủ công bao giờ chưa?
Cả ba hơi bất ngờ, không hiểu bỗng dưng sao Bác hỏi chuyện này. Chưa một ai trả lời, Bác nói:
- Bác muốn ra báo, đoàn thể cần có báo. Tờ báo là vũ khí sắc bén của Mặt trận Việt Minh. Muốn ra báo thì phải có giấy. Việc này Bác giao cho các chú. Thế nào, có làm được không?
Sau câu hỏi của Bác, im lặng khá lâu. Con nhà hai đời làm thuốc Bắc, Đặng Văn Cáp thì nhớ những gói thuốc bằng giấy bản.
Lê Quảng Ba, người Thổ Cao Bằng liên tưởng đến những quyển sách cúng, sách hát chép trên loại giấy bản. Cách làm giấy của người Thổ cũng đôi lần làm qua. Thầm nhắc lời Bác yêu cầu, Lê Quảng Ba nói:
- Thưa Bác, cháu nghĩ là làm được.
- Câu Bác hỏi, chú trả lời chưa đúng. Bác hỏi là có làm được không?
Lê Quảng Ba vội đáp, vẻ quả quyết:
- Thưa Bác làm được ạ. Nhưng...
- Nhưng sao ?
- Dạ, thưa Bác, phải có thời gian. Nhanh cũng phải mười ngày. Nếu gặp trời mưa có thể lâu hơn thế nữa. Vì gặp trời mưa giấy sẽ lâu khô.
- Bác rất vui nghe được câu này. Cho các chú được lấy thêm người nếu thấy cần. Hẹn mười lăm ngày nữa đem giấy đến cho Bác.
Ba người xuống bản thưa chuyện. Người già Máy Lỳ vui vẻ nói:
- Rừng trúc của nhà đấy, cần bao nhiêu lấy bao nhiêu. Để làm bột giấy thì lựa lấy những cây bánh tẻ, đốt thẳng mới nên.
Nói rồi người già Máy Lỳ cầm dao đi trước dẫn cả bọn vào rừng. Đừng nói Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc, ngay Lê Quảng Ba sinh ra ở đất này cũng chưa khi nào gặp rừng trúc cây mọc đều như thế. Với Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc là chưa từng, thành ra khi đứng trước rừng trúc đẹp như tranh cứ lưỡng lự mãi mới vung dao. Tiếng chặt chí chát, tiếng kéo cây roàn roạt ầm vang khu rừng. Gần trưa, áng chừng đã đủ một mẻ, mỗi người một bó vác về.
Buổi chiều, người già Máy Lỳ cầm chiếc cưa nhỏ đưa cho Quảng Ba, bảo:
- Này cắt bỏ mấu, chẻ nhỏ ra, rồi lại phải tước bỏ phần cật, như thế trúc mới nhũn được.
Ba người nhanh tay làm như một dây chuyền, người cắt, người chẻ, người tước bỏ cật. Sẩm tối thì hết số cây trúc chặt được. Trước lúc họ ra về, Người già Máy Lỳ dặn:
- Ngày mai chỉ cần một người xuống thôi.
Hôm sau, một mình Quảng Ba đi làm tiếp. Theo người già hướng dẫn, Quảng Ba vần chiếc vại to, đem trúc đã chẻ nhỏ xếp vào. Sau cùng hòa vôi cục, đợi nước trong mới đổ vào vại. Người già Máy Lỳ lại gần, nhìn đi ngó lại, nói:
- Làm tốt lắm. Bây giờ về đi, bảy ngày nữa lại xuống.
Và ngày thứ bảy cũng đã đến. Ba người thức dậy từ lúc trời mới rạng. Họ đến, người già đã pha trà đợi. Vừa uống cạn chén đầu, thấy vẻ sốt ruột của Lê Quảng Ba, người già bảo khiêng cái chảo to rồi tự xách hai cái xoỏng xuống bãi. Theo người già chỉ dẫn, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc vớt trúc ngâm từ vại cho vào xoỏng, đem ra suối rửa sạch nước vôi. Trong khi ở sân, Quảng Ba bắc kiềng, đặt chảo lên. Hai người đem trúc ngâm xếp vào chảo, đổ đầy nước, hòa thêm một ít tro bếp lấy lá chuối đậy kín miệng chảo nhiều lớp. Xong đâu đó nổi lửa. Ba người thay nhau đun củi. Cứ độ một giờ thì đổi ca. Đến gần trưa, Lê Quảng Ba hỏi người già Máy Lỳ đang ở trên sàn:
- Còn phải đun bao lâu nữa?
Tiếng vọng xuống:
- Thấy lá chuối héo đen là được. Đợi khi chảo nguội, dỡ trúc ra, đặt từng ít lên thớt, dùng gậy cứng đập nát ra. Cho tất cả vào thùng gỗ, đổ thêm nước và nhựa cây vạt vào.
- Tìm đâu ra nhựa vạt? - Quảng Ba hỏi vọng lên.
- Không thấy chậu nước xanh xanh vần cạnh bếp à. Nhựa vạt đấy.
- Bây giờ phải làm sao - Quảng Ba lại hỏi vẻ sốt ruột.
Ông Máy Lỳ xuống sàn cho tay vào thùng bóp cho trúc ngâm rữa ra. Rồi ông lại làm một cái chổi bằng tre chẻ nhỏ thành những nan vuông, cạnh sắc. Tới đó ông Máy Lỳ bảo Quảng Ba.
- Cầm cái chổi này cho vào thùng nguyên liệu, khuấy đều theo một chiều. Bã, rác sẽ cuốn hết vào chổi. Vớt cho sạch các tạp chất. Khuấy tiếp cho quánh thành hồ là được bột giấy.
Quảng Ba, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc thay nhau làm những công đoạn sau, mãi sẩm tối mới xong. Thời gian mười lăm ngày sắp qua.
Hôm sau họ được hướng dẫn làm khuôn giấy, bắt đầu là đóng một khung tre hình chữ nhật, lấy một tấm vải có khâu riềm căng đều lên khung. Dùng tấm ván mỏng làm đáy khuôn. Tìm chỗ đất bằng khô ráo, có nắng gió đặt khuôn lên. Dùng gáo, hoặc bát múc tinh bột đã được lọc đổ lên khuôn. Vừa đổ vừa dát cho bột mỏng ra. Khi bột đã kín khuôn dùng một ống nứa dài, rửa sạch lăn trên mặt cho đều. Đợi khô bóc ra là được giấy. Người già Máy Lỳ còn cho biết, nếu không có trúc thì tre, giang, vầu, nứa, rơm, rạ, vỏ cây dướng, vỏ cây dó đều có thể đem làm giấy được.
Những ngày sau, giấy bản in báo có thêm nguồn do các chị phụ nữ mua từng ít một trong các phiên chợ đem về góp lại. Các đồng chí ở địa phương mày mò mãi kiếm về được một cái bia đá. Bác cùng các đồng chí thay nhau mài mấy ngày liền mới hết những chữ nho khắc trên mặt bia. Công đoạn tiếp theo tưởng chừng đơn giản nhưng chỉ một mình Bác mới biết làm: Viết chữ ngược trên bàn đá. Công việc bắt buộc trong kỹ thuật in thủ công.
Giấy đã có, “máy in” đã có, Bác tập trung suy nghĩ đặt tên cho báo. Bác lần lượt điểm: Đoàn kết. Giải phóng. Tranh đấu. Vì nước. Tiến Lên... Sau cùng dòng chữ: Việt Nam độc lập hiện hiện.
Niềm hứng khởi trào dâng, Bác viết liền đề từ:
Việt Nam độc lập thổi kèn loa
Kêu gọi đồng bào khắp gần xa
Đồng tâm, đồng sức, cùng đánh giặc
Ra tay thu lại nước non nhà.
Sau một thời gian dài chuẩn bị kỳ công mọi mặt, ngày 1 tháng 8 năm 1941, báo Việt Nam độc lập - gọi tắt là Việt Lập, xuất bản số đầu tiên. Dưới măng séc ghi: Cơ quan tuyên truyền của Việt Minh. Xuất bản mười ngày một kỳ.
Báo chỉ có 4 trang, khổ nhỏ, in 12 bản, đánh số 101.
Có người hỏi:
- Báo số 1 sao lại in là 101. Tại viết nhầm hay in nhầm ạ?
- Không. Chủ ý của Bác như vậy. Việt Nam độc lập là sự kế tục những tờ báo của Đảng bí mật ra đời từ trước đó.
Báo Việt Nam độc lập do Bác trực tiếp phụ trách. Bác là người chỉ đạo trực tiếp tất cả các khâu, từ việc xác định chủ đề từng số, tác giả các bài viết, phân công người cộng tác, vẽ tranh, sửa bài, sửa bản in đến phương tiện in ấn và tổ chức phát hành.
Bác dặn những cán bộ tham gia viết bài: “Phải viết to để đồng bào đọc dễ dàng, bài viết phải rất ngắn”. Có lần phân công anh Văn (đồng chí Võ Nguyên Giáp) viết một bài về phong trào phụ nữ, Bác nói:
- Chú viết đúng một trăm chữ, viết hơn thì không có chỗ đăng đâu.
Từ khi phát xít Đức tấn công Liên Xô (Ngày 22 tháng 6 năm 1941). Bác viết nhiều bài, nhiều thơ ca đăng trên báo Việt Lập. Bác đưa ra những lý lẽ thuyết phục, khẳng định, mặc dù phát xít Đức nhưng với lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước của người dân Xô Viết phân tích thế nào Liên Xô sẽ thắng.
Từ tháng 8 năm 1941 đến tháng 8 năm 1942, Việt Lập ra được trên 30 số, tổng cộng 400 bản. Từ tháng 9 năm 1942, Bác đi công tác nước ngoài, giao đồng chí Tống (Phạm Văn Đồng) trực tiếp chỉ đạo tờ báo cho đến tháng 4 năm 1945.
Những bài tố cáo tội ác của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, kêu gọi toàn dân đoàn kết, cổ vũ động viên cho công cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc.
Sau này, Việt Nam độc lập trở thành cơ quan ngôn luận của Khu Ủy Khu tự trị Việt Bắc từ ngày thành lập, tháng 7 năm 1956 cho đến khi giải thể, tháng 12 năm 1975.
M.N
18-06-2025
18-06-2025






.jpg)

