Bút ký của Tạ Bá Hương

Ông nội tôi buộc phải theo đoàn người khai hoang lên bến Hang Mang cư ngụ. Ở quê lúc ấy khó sống. Nhà đông miệng ăn, đất đai canh tác hạn hẹp, lại là vùng đồng đất chiêm trũng, phèn chua nhiễm mặn, hạt thóc gầy guộc đi trong mỗi vụ gieo trồng. Nhiều vụ trắng tay do thời tiết và sâu bọ hoành hành thì số thóc thu về làm sao đủ nuôi người. Bà tôi bỏ ruộng, đi chạy chợ. Các chợ trong làng, trong tổng, phiên nào cũng có mặt bà. Cứ mỗi bận chợ phiên mở ra, ngay từ khi trời chưa kịp sáng, bà nội tôi đã chuẩn bị xong mẹt hàng, với đôi quang gánh, lầm lũi chân trần trở ra chợ ngồi bán. Mẹt hàng của bà nội tôi chả đáng là bao, chỉ là những túm chè xanh, buộc vào từng bó nhỏ, bán cho người kẻ chợ. Cả gia đình thời điểm ấy đều trông cả vào mẹt hàng giản đơn ấy của bà. Gặp hôm nào thuận lợi, hàng bán hết, bà tôi về sớm. Hôm nào phải vía, hàng hóa ế ẩm, bà nội tôi lại lầm lũi gánh trở về. Buôn bán cò con, lời lãi chả đáng là bao, nhưng nếu không lo chạy chợ, bà tôi không thể nào nuôi nổi bằng ấy miệng ăn trong nhà.
Vất vả buôn bán, đâm ra lao lực, lại cộng thêm chứng bệnh hậu sản, bà đổ bệnh, rồi mất. Bà mất lúc bố tôi chỉ mới là đứa trẻ, ông tôi ở vậy chịu cảnh gà trống nuôi con. Bà mất đi để lại gánh nặng cho ông tôi gánh. Những năm đói kém đến khốn khổ, các bác tôi ai nấy đều như những dãi khoai, lấm láp bùn đất mà lớn lên. Chỉ có điều, thời bấy giờ dịch bệnh nhiều, nhà nghèo, cái ăn còn chả đủ, nói gì đến việc chạy chữa. Các chị gái của bố tôi lần lượt mắc bệnh, rồi chết khi tuổi đời còn non trẻ. Nghe đâu, ngày xưa ông bà nội tôi sinh hạ cả thảy mười hai người con. Bố tôi là thứ mười một, trên bố tôi có mười chị gái, sau bố tôi còn chú út nữa là mười hai. Số người còn sống sót sau những đợt dịch bệnh chỉ còn lại có bác Hòe, lấy chồng và chuyển hẳn lên Tuyên Quang sinh sống (giờ đã gần chín mươi tuổi, đầu óc lú lẫn, họ hàng đến chơi chả còn nhận ra ai với ai). Bác Nhàn cũng được ông nội tôi gả cho người làng bên (sau chuyển hẳn vào Đồng Nai định cư). Nhà chỉ còn ông nội, bố tôi và chú út. Bao nhiêu mất mát, đau buồn, cứ liên tục giáng xuống cuộc đời đầy khốn khó của ông. Làng quê chiêm trũng vùng cố đô Ninh Bình chỉ xao xác những căn nhà mái rạ, vách thưng trống hoác, chứa đầy gió hoang. Những phận người đói khát đang cố níu bám vào đất quê mà kiếm từng miếng ăn qua ngày đoạn tháng, dẫu không thể nào hình dung được ngày mai rồi sẽ ra sao.
Nghe đâu Nhà nước đang có cuộc vận động người dân đi khai hoang, tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Ông nội tôi đắn đo, làm sao dời bỏ quê nhà mà đi được. Ở đó còn mồ mả ông bà tổ tiên, còn mộ của bà nội và các chị gái xấu số của bố tôi. Nhưng ở lại thì lấy gì nuôi nhau? Trong khi nghe nói, trên miền ngược, rừng rú nhiều, đất rộng bao la, tha hồ mà vỡ đất trồng trọt. Đói bữa có khi chỉ việc vào rừng đào cây măng, kiếm mớ rau dại, săn bắt con thú là đã có thể đảm bảo cho sự tồn tại của con người. Thế là ông nội tôi quyết định bán nhà, dắt bố và chú út tôi theo đoàn xe đi ngược mãi lên non cao. Đây là chuyến đi đầu tiên mà ông nội tôi ra khỏi làng quê chiêm trũng, bỏ lại mồ mả ông bà để đặt chân đến một vùng đất mới. Vùng đất ấy nó thế nào thì ông nội tôi không thể hình dung ra được, nhưng ông vẫn nuôi một hi vọng là cuộc sống ở nơi đó sẽ tốt đẹp hơn cho ông, cho bố và chú út của tôi.
Mãi sau này, có lần bố tôi kể lại:
- Ba bố con chen chúc trên một chiếc xe khách cũ kĩ. Bố tôi với chú Lý khóc suốt trên cả chặng xe. Chỉ biết khóc thế, chứ không biết khóc vì cái gì.
Chuyến xe đưa ông nội, bố tôi và chú út đi mấy ngày, mấy đêm liên tục mới đến được Tuyên Quang. Họ dừng lại ở thị xã. Lúc này những người có trách nhiệm đã chờ sẵn ở đó. Họ phân chia theo từng đoàn người và bố trí sắp xếp giúp những người khai hoang tỏa về những vùng đất cần đến. Ông nội tôi được đưa ngược lên bến Hang Mang, vùng đất phù sa nơi con sông Lô chảy qua. Thời ấy hiếm xe, phương tiện di chuyển chủ yếu dựa vào đôi chân trần. Ông nội tôi đi trước, gánh gồng những vật dụng cần thiết mang từ quê lên. Bố và chú tôi theo sau, vai khoác tay nải, nhễ nhại cùng ông nội tôi vượt cả một cung đường rừng dài mấy chục kilomet. Vừa đi vừa nghỉ. Trước mặt và sau lưng, nhìn đâu cũng chỉ thấy một màu xanh ngằn ngặt của rừng già. Nhà cửa, làng mạc thưa thớt. Thảng mới thấy vài nóc nhà dân bản địa hiện ra thấp thoáng dưới bóng rừng bí hiểm. Chân ai cũng tơ tướp máu, phồng rộp cả lên. Chú út tôi vừa đi vừa khóc.
- Cho con về nhà.
Ông nội tôi nói chua xót:
- Nhà còn đâu mà về.
Bố tôi không nói gì, chỉ lặng lẽ dấm dứt khóc.
Đi mãi, cuối cùng thẻo đất nơi bến Hang Mang cũng hiện ra. Ông nội, bố tôi, chú út nhanh chóng bắt tay vào phát dọn cây cối, san đất dựng tạm căn nhà nhỏ để có chỗ chui ra, chui vào. Rồi tìm đất gieo trồng một số cây lương thực ngắn ngày. Cái ăn tạm thời chưa lo lắm vì ông tôi còn chút vốn dắt lưng, nhưng về lâu dài vẫn phải gây dựng một cuộc sống mới từ đôi tay trần lam lũ. Được cái, những ngày lên quê mới, số bà con đến trước, họ đều là người cùng làng, chỗ quen biết cả, nhất là gia đình bà Cẩn, chị gái bà nội tôi đã lên trước, nên xúm vào đỡ đần ông nội tôi trong những ngày ông còn chân ướt, chân ráo đến. Cuộc sống trên vùng quê mới cũng dần đi vào ổn định. Chỉ có điều, cả ông nội, cả bố tôi và chú út, dù năm tháng đi qua cũng không thể nào nguôi ngoai nỗi nhớ về quê cũ. Ở đó là một phần kí ức quan trọng trong lòng mỗi người. Nơi ấy là mộ phần tổ tiên, mộ phần của bà nội tôi, các bác xấu số của tôi đang lạnh lẽo nằm lại trên cánh đồng làng. Cũng vì miếng cơm manh áo, vì một hi vọng vào tương lai tươi tươi sáng hơn ở phía trước mà ông nội tôi đành dời bỏ làng mạc, dắt díu con cái, theo những đoàn người khai hoang lên cái nơi “khỉ ho, cò gáy” này gây dựng cơ nghiệp.
Được cái trên quê mới cũng không đến nỗi quá tệ. Bố tôi và chú út sau đó được Nhà nước bố trí lên huyện học. Chú út học xong được cử đi làm thầy giáo ở xã Chiêu Yên, một xã nằm phía bên kia sông Lô, cách làng Khánh An chỉ đôi bờ sông chảy. Chú đi dạy học, rồi lấy vợ, định cư luôn ở bên ấy. Bố tôi học xong thì theo nghề binh nghiệp, cứ đằng đẵng trên các chiến trường ác liệt. Nhà chỉ còn lại ông tôi vò võ một mình. Bố tôi thỉnh thoảng mới từ chiến trường trở về ít ngày, lại đi, mãi chả thấy vợ con gì cả.
Có lần ông tôi đánh bạo, nói với bố tôi:
- Mày lấy vợ đi, lấy vợ xong, rồi muốn đi đâu thì đi.
Bố tôi bảo:
- Đang thời chinh chiến, biết sống chết thế nào.
- Dù sao mày cũng phải nghĩ đến chuyện vợ con chứ.
Ông nội tôi trầm ngâm một lát, rồi hỏi dò xem ý tứ bố tôi thế nào.
- Tao thấy con Vinh nhà bà Khới có vẻ được đấy. Nó đẹp người, đẹp nết, khối đám đang ngấp nghé đến hỏi, mà nó chưa ưng đấy.
Mẹ tôi là người cùng làng với bố tôi ở cái bến Hang Mang này. Thế nên chả lạ gì nhau cả. Một buổi tối, bố tôi đến nhà ông bà ngoại tôi chơi. Bố tôi diện lên người bộ quân phục sĩ quan, đeo đôi giày đinh, loại giày dành cho hạng sĩ quan có chính quy, ngập ngừng đến nhà ông bà ngoại tôi xem sự thể thế nào, có đúng như lời ông nội tôi nói không. Mẹ tôi lúc đó vừa qua tuổi dậy thì, mang một vẻ đẹp thuần phác thôn quê, khiến bố tôi mê mệt. Hai người quen nhau được ba hôm, kể từ khi bố tôi đến chơi trong quãng thời gian nghỉ phép ngắn ngày, ông nội tôi xin phép mang trầu cau đến dạm hỏi. Đám cưới của hai người nhanh chóng được diễn ra để bố tôi còn kịp trở lại đơn vị.
Thời ấy các đám cưới thực hiện “nếp sống mới” nên tổ chức hết sức giản đơn. Chỉ có ít hoa quả, bánh kẹo, trầu cau, thuốc lá, chứ chả cao sang mĩ vị gì. Những bộ bàn ghế do đám thanh niên trong Chi đoàn thôn mượn từ những gia đình trong vùng. Chỉ có mỗi cái đài quay băng thì đi thuê của Hợp tác xã. Buổi tối, toàn bộ thanh niên Chi đoàn thôn đều có mặt. Họ chia vui với đám cưới bằng những bài hát về kháng chiến, hoặc nhảy những điệu nhảy sập sình từ tiếng nhạc phát ra từ chiếc đài được đặt ngay ngắn trên cái bàn gỗ, nơi có đôi chim giấy đang đấu mỏ vào nhau. Ông nội tôi vui lắm. Đã ngoài bảy mươi rồi, việc dựng vợ gả chồng cho các bác và chút út, ông tôi đều lo liệu đâu vào đấy cả rồi. Chỉ còn nốt bố tôi là ông nội tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, giúp ông vợi đi nỗi lo canh cánh trong lòng.
Sau đám cưới thực hiện theo nếp sống mới, bố mẹ tôi đã thành vợ, thành chồng. Hai người ở với nhau vài hôm, bố tôi lại khoác ba lô lên đường, trở về đơn vị chiến đấu. Lại những tháng ngày đằng đẵng xa nhau, mỗi người mỗi ngả. Hiếm thấy mấy khi bố tôi mới lại có dịp trở về. Mỗi năm chỉ độ đôi lần rồi lại ra đi. Mẹ tôi về làm dâu khiến căn nhà đỡ cô quạnh. Bao nhiêu năm lầm lũi một mình, giờ có con dâu mới đỡ đần công việc, khiến ông nội tôi bớt đi nỗi vất vả của một ông già đã gần đất xa trời.
Khi tôi đã lớn, đã lấy vợ, sinh con, mẹ tôi mới kể lại chuyện này.
Tôi trêu mẹ tôi:
- Ngày xưa, ông bà tốc chiến tốc thắng nhỉ?
Mẹ tôi tóc bạc, nhớ lại chuyện ngày xưa, chợt cười ngượng ngùng.
- Thời ấy nó thế. Với lại ở cùng làng, biết nhau từ bé.
Mẹ tôi bảo:
- Ông nội thương con lắm. Hồi ông nội mất, nhằm đúng ngày mẹ trở dạ thằng Thuận. Lúc đó con cũng mới tròn hai tuổi. Có lần trong bữa ăn, con tè cả ra bát canh. Ông nội đang ngồi nhắm rượu, thấy vậy chỉ nhoẻn miệng cười, rồi vui vẻ ăn hết cái bát canh ấy. Quần áo của mẹ, của con phơi ngoài dây phơi, có lúc mẹ quên, đêm xuống mẹ chưa kịp cất vào, ông nội cẩn thận đun một nồi nước sôi rồi thả cả quần áo của mẹ con mình vào đó luộc lại. Ông nội sợ sương độc bám vào quần áo mẹ con mình, sẽ không tốt cho sức khỏe.
Mẹ tôi ngồi hồi tưởng lại ký ức ngày xưa, cái ngày mẹ về nhà ông nội làm dâu. Ông nội thương con dâu vất vả nên cũng chịu khó đỡ đần nhiều việc, mặc dù ông lúc ấy đã già, sức khỏe yếu, nhiều bệnh tật. Mẹ tôi cũng thương ông, một người bố chồng mẫu mực, nên cũng ra sức làm lụng, vun vén cho cuộc sống gia đình vượt qua khó khăn trong những chuỗi ngày gian khó của cuộc đời.
- Nghĩ về ông nội, mẹ luôn xúc động. Ông thương mẹ hơn cả con đẻ.
Mẹ tôi bùi ngùi nhớ lại:
- Ngày con mới sinh ra, mẹ thì đi làm công điểm cho Hợp tác xã, ông có việc của ông, mẹ đành gửi con đi nhà trẻ. Cứ sáng sớm ông nội bế con đi. Nhưng trước khi đi ra cổng, ông nội cẩn thận ra thăm dò trước. Khi thấy đoạn đường từ cổng nhà đến nhà trẻ không còn người qua lại, ông mới dám đưa con ra. Ông sợ gặp người qua đường, họ vô tình khen con bụ bẫm, con sẽ bị phải vía, khó nuôi.
Ngày mẹ tôi chuẩn bị trở dạ, sinh ra thằng Thuận sau này, ông nội tôi một tay chống gậy, một tay lễ mễ bê chậu quần áo ra bến Hang Mang ngồi giặt. Mẹ tôi ngăn cản, không cho ông làm. Bởi việc ấy sẽ nhờ các dì đến làm hộ. Nhưng ông nội tôi không nghe, ông muốn tự tay mình giặt, sợ người khác giặt không sạch, nên ông không yên tâm.
Mẹ tôi cản:
- Ông để đấy cho con, đừng ra sông, nguy hiểm lắm.
- Chị cứ mặc tôi. Để tôi tự làm.
Tính ông nội tôi vốn cẩn thận. Tuổi già, đi đứng đều dựa cả vào chiếc gậy chống trên tay, nhưng ít khi thấy ông ngơi nghỉ. Không việc này thì việc kia. Hôm đó, đang giờ trưa, người làng thấy ông nội tôi lộc cộc chống gậy đi ra phía Hang Mang. Dòng sông phẳng lặng, mềm mại uốn lượn qua đôi bờ. Vẫn như mọi khi, ông nội tôi đặt chiếc chậu quần áo lên phiến đá nhô ra gần giữa dòng. Để đến được chỗ phiến đá ấy, ông nội tôi phải lội qua đoạn nước nông, vì phiến đá rộng và to, án ngữ dòng chảy, khiến nước đi qua chỗ này buộc phải chia làm hai dòng. Một dòng phía giáp bờ thì nông choen hoẻn, một dòng phía bên kia phiến đá nước chảy siết hơn. Chỉ có thể ngồi trên phiến đá ấy mới thuận cho việc giặt rũ. Đó cũng là buổi trưa định mệnh, mang đi một số phận con người.
Ông nội tôi trượt chân, chới với một mình giữa buổi trưa sông vắng, rồi chìm dần vào dòng nước siết, để lại chậu quần áo đang giặt dở trên phiến đá xám lạnh. Lúc hay tin ông nội tôi bị dòng nước sông Lô ngoài bến Hang Mang cuốn đi, người làng hò nhau bổ đi tìm. Người ta đi dọc bờ sông, lặn ngụp tìm kiếm suốt một buổi chiều, nhưng không thấy. Chập tối, mẹ tôi trở dạ. Người làng cắt cử nhau, chia nhau thành các toán. Toán một, tiếp tục thực hiện công tác tìm kiếm xem có tung tích của ông nội tôi không. Một toán, túc trực chờ mẹ tôi sinh nở. Hồi ấy người phụ nữ trong làng mà sinh nở, chả mấy ai đi bệnh viện, cùng lắm là bế thốc nhau lên, đặt vào chiếc võng rồi thay nhau cáng ra ngoài Trạm Y tế. Hầu hết phụ nữ trong làng đều lựa chọn phương án đẻ tại nhà, do một bà y tá già trong làng đảm nhiệm, gọi là bà Nhì. Toàn bộ những đứa trẻ trong làng sinh ra đều một tay bà Nhì đỡ, chả thấy làm sao cả. Chúng vẫn khỏe mạnh mà lớn lên như những hạt phù sa bến Máy, như những vạt cỏ dại mọc hoang hoải bên bìa rừng.
Suốt cả buổi chiều, rồi kéo dài sang cả buổi tối tìm kiếm, vẫn không thấy tung tích ông nội tôi đâu. Mẹ tôi vẫn ân hận mãi về việc này. Nếu buổi trưa hôm đó, mẹ tôi kiên quyết không để ông ra sông giặt rũ thì đâu đến nỗi. Và, những hôm sau đó người làng vẫn cắt cử nhau đi dọc hữu ngạn sông Lô, với hi vọng xác ông nội tôi sẽ nổi lên ở một đoạn sông nào đó. Nhưng những hi vọng mong manh đó đều bị dòng sông nhấn chìm đi tất cả. Người làng lại giúp mẹ con tôi dựng tạm cái rạp nhỏ ngoài sân, làm chỗ ma chay cho ông nội tôi. Bố tôi hay tin, tức tốc từ đơn vị về. Thời điểm ấy, nơi bố tôi đóng quân là một vùng biên cương phía Bắc Tổ quốc, nơi đang diễn ra những trận đánh ác liệt trong cuộc chiến tranh biên giới. Bố tôi về, nhìn di ảnh ông nội tôi mà lặng người. Đời người thật vô thường như ngọn gió đi qua.
Căn nhà tôi từ đó mỗi ngày sẽ vắng đi tiếng húng hắng ho, tiếng gậy chống lộc cộc, khô khốc của ông ngoài hiên cửa.
Ông nội tôi mất, hai mẹ con tôi vò võ nương tựa vào nhau mà sống. Bố tôi vẫn những chuyến đi dài đằng đẵng, năm mới trở về nhà đôi bận. Nhưng nỗi ân hận, khắc khoải nhất đối với bố mẹ tôi lúc này là làm sao để tìm được xác của ông nội tôi, để đưa ông về chôn cất ở quê nhà. Một đời ông tằn tiệm, nghèo khó, bữa rau, bữa cháo mà chưa một ngày được thấy sự đủ đầy trong cái cuộc đời này. Có lẽ hạnh phúc lớn nhất của ông là những đứa con của mình còn sống sót qua bao đận ốm đau, dịch bệnh và cả sự đói khát, giờ đều đã dựng vợ, gả chồng đâu vào đấy cả. Rồi, những đứa cháu của ông lần lượt ra đời, nối tiếp vào nòi giống dòng họ mà sinh sôi, phát triển.
Suốt nhiều ngày tìm kiếm, người làng Khánh An vẫn không tìm thấy xác ông nội tôi đâu. Sau có người bắn tin là phần xác ông đã xuôi về tận Thắng Quân, được một ông lão thuyền chài chuyên đánh cá nom thấy và vớt lên chôn cất tại khúc sông Lô. Khúc sông ấy là nơi tiếp giáp giữa sông Lô và sông Gâm về phía hạ lưu. Dân gian vẫn quen gọi chỗ này là “cửa sông”. Khi xuất ngũ về làng, bố tôi mới có thời gian xuống Thắng Quân bốc cất mộ phần của ông về đặt nằm cạnh bà nội cũng vừa được sang cất từ dưới Ninh Bình lên. Như vậy, sau mấy chục năm xa cách, cuối cùng hai ông bà mới được nằm cạnh nhau trên đồng đất khai vỡ của những người khai hoang. Tôi lớn lên, dời làng về thành phố công tác, rồi ổn định cuộc sống tại đó, thỉnh thoảng mới về thắp cho ông bà nén tâm nhang. Nhưng ký ức với ngôi làng, với ông nội tôi và với cả những gì thân thuộc xưa cũ, vẫn như những thước phim dội về rõ nét.
T.B.H
Minh họa của Tân Hà
15-06-2025
15-06-2025
12-06-2025
11-06-2025




.jpg)




