Đinh Thị Thu Hà, Vũ Thị Hiên
.jpg)
Sông Lô không chỉ bồi đắp phù sa cho những triền bãi xứ Tuyên mà từ ngàn đời, dòng nước ấy đã mang theo nhịp Then, tiếng sáo gọi bạn thấm đẫm vào mạch nguồn thi ca. Trong nhãn quan văn hóa - lịch sử thống nhất, xứ Tuyên (bao quát cả Tuyên Quang và Hà Giang) hiện lên như một “vùng đất của thơ ca” - nơi hội tụ di sản của hơn 20 dân tộc anh em. Hành trình từ những vần thơ đẫm vị núi rừng, mộc mạc sắc chàm đến những cách tân cấu trúc sắc sảo là sự tự định vị bản sắc: thâm trầm gốc rễ dân gian nhưng nhạy bén cùng nhịp đập thời đại.
Tiến trình thi ca xứ Tuyên là một cuộc chuyển dịch nghệ thuật đầy bản lĩnh. Từ giai đoạn khởi thủy thuần khiết như hơi thở của sương giăng với những cột mốc Hùng Đình Quý, Mai Liễu, Cao Xuân Thái; mạch ngầm văn hóa bản địa đã “chảy” tiếp vào tư duy thế hệ sau để hình thành những chiêm nghiệm thế sự sâu sắc của Đoàn Thị Ký, Lê Na, Tạ Bá Hương, hay sự bứt phá cấu trúc ngôn từ của Đinh Công Thủy... Họ đã cùng nhau nối dài sức sống đại ngàn, đưa tiếng lòng vùng cao hòa nhập đầy tự tin vào dòng chảy văn học hiện đại nước nhà.
Sự vận động này không tách rời bối cảnh đặc thù của Thủ đô Kháng chiến (ATK). Chính sự giao thoa giữa tâm hồn bản địa kỳ vĩ với tư duy thẩm mỹ của các bậc tiền bối như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Nông Quốc Chấn... đã tạo nên lực đẩy mạnh mẽ. Đây chính là nền tảng cốt lõi giúp các thế hệ nhà thơ xứ Tuyên vừa bắt nhịp được hơi thở chung của dân tộc, vừa kiến tạo một gương mặt nghệ thuật riêng biệt, kiêu hãnh và không thể trộn lẫn.
Mạch nguồn dân gian: Sự tự vấn và bản ngã văn hóa bản địa
Ngược dòng thời gian, về với những lớp phù sa đầu tiên của thi ca xứ Tuyên, ta bắt gặp một mạch nguồn dân gian bền bỉ với sức sống tự thân mãnh liệt. Thơ ca khi ấy không khởi phát từ bàn viết, hay các thủ pháp tân kỳ, mà nảy mầm từ vách đá tai mèo, từ sắc chàm nhuộm thắm tâm hồn người con bản xứ. Trong không gian thẩm mỹ nguyên sơ ấy, mỗi câu chữ đều mang nhịp điệu của lời Then, điệu Lượn, hòa quyện cùng tiếng khèn, đàn môi gọi bạn e ấp. Qua hệ tri thức bản địa đặc thù, tiếng lòng của đại ngàn đã tự cất lời, kiến tạo nên một kho tàng văn hóa ngôn từ vô giá.
Nhắc đến mạch nguồn này, Mai Liễu hiện lên như một “người giữ hồn cho núi”. Thơ ông, đặc biệt tập Mây vẫn bay về núi (1995), chất liệu dân gian là máu thịt, là bản năng tự nhận thức. Ông xác lập nhãn quan nghệ thuật khắt khe: “Làm thơ là tìm cho được cái riêng trong giọng tâm tình của mình... Thơ tối kỵ sự đơn nghĩa, nông cạn, hời hợt và giả tạo”. Tư duy này đã đưa “Nếu mai em về Chiêm Hóa” trở thành kiệt tác trữ tình, nơi nỗi nhớ hòa nhịp cùng hơi thở đại ngàn: “Sông Gâm đôi bờ trắng cát/Đá ngồi dưới bến trông nhau/ Non Thần hình như trẻ lại/Xanh lên ngút ngát một màu.../...Con gái bản Tày duyên quá/Sắc chàm như cũng pha hương/Chỉ riêng nụ cười môi mọng/Mùa Xuân e cũng lạc đường.”.
Bằng cách chuyển tải thành công cốt cách tộc người vào cấu trúc thi pháp hiện đại, Mai Liễu tạo nên những vần thơ ám ảnh, lấp lánh sắc chàm vừa thâm trầm, vừa kiêu hãnh.
Rời tiếng sóng sông Lô, sông Gâm bảng lảng trong thơ Mai Liễu để ngược ngàn cao nguyên, mạch dân gian va đập vào vách đá tai mèo sắc lạnh trong thơ Hùng Đình Quý - cây đại thụ của văn học dân tộc Mông. Ở ông, chất liệu dân gian khởi phát từ vỉa tầng sâu thẳm của luật tục, sử thi và huyền thoại. Bản sắc thơ Hùng Đình Quý khước từ sự vỗ về trữ tình để chọn lấy vẻ lực lưỡng, cứng cỏi của ý chí sinh tồn: “Người Mông sinh ra từ đá/ Sống trên đá, chết vùi trong đá”. Bằng tư duy trực diện, thơ ông kiến tạo một thẩm mỹ rắn rỏi, làm giàu thêm “vỉa quặng” bản sắc độc đáo của vùng cao.
Giữa sự tĩnh lặng của Mai Liễu và vẻ kỳ vĩ nơi Hùng Đình Quý, Cao Xuân Thái hiện lên với một nội lực riêng biệt. Nếu Mai Liễu là làn mây vương vấn đỉnh núi, Cao Xuân Thái lại là ngọn lửa bập bùng giữa sàn đêm bản vắng. Bản sắc thơ ông kết tinh từ những dặm dài hành quân, giữ trọn vẻ hồn nhiên đi qua khốc liệt chiến tranh. Trong các tập thơ như Trước đá (1997), Ngôi nhà cổ tích (1999) hay Tiếng đêm (2002), chất dân gian khước từ mỹ từ để chọn lối “thật thà đến đau lòng”. Sau mốc tái lập tỉnh Hà Giang (1991), thơ ông kiến tạo những hình tượng vạm vỡ về sức sống con người giữa miền đá xám: “Vách đá tai mèo nhìn vào nhức mắt/Khát màu xanh đến thế mẹ ơi/Mẹ thầm lặng gùi từng gùi đất/Quẩy tấu nhấp nhô dưới mặt trời.../Cây ngô đứng thân thương dáng mẹ/Mùa lại về ấm áp cao nguyên” (Cây ngô dáng mẹ).
Thơ Cao Xuân Thái là hành trình chiêm nghiệm vóc dáng Tổ quốc từ những điều bình dị. Thấu cái lạnh của đá và gió ngàn, ông neo giữ biên cương bằng những vần thơ can trường, đúc từ đôi tay lầm lụi xếp đá, từ bát mèn mén và dòng nước khe sâu: “Thương người áo bạc mồ hôi/Bàn tay xếp đá chưa xuôi mọi bề/Rau rừng mèn mén nước khe/Lên cao ngọn gió khô nghe buốt lòng” (Tổ quốc nơi cực Bắc).
Sự giao thoa giữa nhịp Then mềm mại và đá tai mèo vững chãi đã đúc nên nền móng kiên cố cho thi ca xứ Tuyên. Đây chính là hệ hằng số văn hóa giúp tiếng thơ vùng cao giữ trọn bản sắc, tạo đà cho những bứt phá cách tân ở các giai đoạn tiếp theo.
Từ khúc tráng ca sử thi đến bước chuyển “thế sự - đời tư”
Thi ca xứ Tuyên là một dòng chảy liên tục, nơi các giá trị truyền thống được tái cấu trúc theo nhãn quan thẩm mỹ mới. Giai đoạn 1954 - 1986 ghi dấu sự thống trị của hệ hình sử thi và lãng mạn cách mạng. Đây là thời kỳ của cái “Ta” hào sảng, nơi mỗi bài thơ là một nốt nhạc trong bản hợp xướng ngợi ca vận mệnh dân tộc và vẻ đẹp chiến khu anh hùng.
Âm hưởng này gắn liền với tên tuổi Gia Dũng - đỉnh cao của tiếng thơ kháng chiến vùng cao. Trong Bài ca Trường Sơn (1968), ông khái quát hóa lý tưởng cả một thế hệ bằng những hình tượng kỳ vĩ: “Đêm nay ta đi, Trường Sơn lộng gió/Trời vắng trăng sao nhưng trong tim rực lửa/- Đi ta làm ngọn sóng giữa trùng dương/Quật xuống đầu thù bằng sức mạnh Trường Sơn!”.
Cùng mạch cảm hứng, Mai Liễu tạc vào ký ức vùng ATK Tân Trào huyền thoại lòng thành kính lãnh tụ bằng những vần thơ hàm súc. Đặc biệt, nội lực sử thi được Đặng Quang Vượng nối dài trong trường ca Con đường Máu và Hoa (2013). Tác phẩm là tượng đài ngôn từ về kỳ tích mở đường Hạnh Phúc của thanh niên xung phong Việt Bắc, một bản hùng ca về ý chí sắt đá trước thiên nhiên khắc nghiệt: “Hơn hai ngàn ngày/ Hơn hai ngàn con người bất diệt/…Bằng ý chí hợp nên sức mạnh/Đào núi ngăn sông, phá đá mở đường/Mỗi pháo đài - là một cung đường/Mỗi con người - là một chiến sĩ”.
Sau mốc Đổi mới 1986, thi ca xứ Tuyên chứng kiến cuộc chuyển dịch ngoạn mục: Từ cái “Ta” sử thi sang cái “Tôi” thế sự - đời tư. Cái tôi lúc này thức tỉnh, trở thành chứng nhân soi chiếu những rạn vỡ của giá trị bản làng trước sức ép đô thị hóa.
“Gạch nối” bản lĩnh đầu tiên là Đoàn Thị Ký. Thơ bà khước từ tiếng reo vui giản đơn để chiêm nghiệm về những chát chua của số phận: “Trái giòn chẳng ở tầm tay/Còn bao trái chát rụng đầy vườn sau/Câu thơ càng ngẫm càng đau/Mà người vẫn sống cho nhau ân tình.”.
Sự thay đổi nhãn quan nghệ thuật còn ghi dấu tiếng thơ đôn hậu nhưng đầy ưu tư của Lê Na. Ông biểu tượng hóa những chi tiết đời thường, biến cái bình dị thành nỗi ám ảnh nhân sinh. Hình ảnh người mẹ trong Người âm lịch là kết tinh của đức hy sinh lặng lẽ: “Người âm lịch nặng lòng yêu/Củ khoai, trái chuối chia đều cháu con.”.
Ở một sắc thái khác, Ngọc Hiệp đào sâu vào cái tôi hoài niệm. Những câu thơ trong Chợ rừng Lim gợi nỗi cô độc của bản ngã giữa vòng xoáy hiện đại. Trong khi đó, Nguyễn Trần Bé lại mang đến tiếng thơ tự vấn, diễn tả bi kịch tinh thần con người miền núi qua biểu tượng “rét muộn” ở Chợ tình Khau Vai: “Trời thương - cho rét muộn/Đất thương - dựng một ngày/Để tình nhân trắc trở/ Sống thật rồi chia tay.”.
Điểm tựa cho bước chuyển thế sự này là Tạ Bá Hương. Bằng bút pháp nhuần nhị và tư duy mới, ông khắc họa cái tôi đời tư bền bỉ như hạt mầm tự thân tách vỏ: “Tôi như hạt thóc mẹ gieo ngoài đồng/Cứ hồn nhiên cứ âm thầm/Tự thân tách vỏ đội mầm lớn lên.”.
Sự vận động từ tráng ca sử thi đến những lát cắt đời tư đã chứng minh bản lĩnh của các nhà thơ xứ Tuyên trong việc khước từ khuôn mẫu cũ. Đây là tiền đề quan trọng để thơ ca vùng cao nhập lưu đầy tự trọng vào dòng chảy đương đại nước nhà.
Hơi thở hiện đại: Khát vọng cách tân và sự định vị giá trị đương đại
Nếu dân gian là “gốc”, thế sự là “thân”, thì hơi thở hiện đại chính là đóa hoa rực rỡ và đa sắc nhất của thi ca xứ Tuyên đương đại. Thơ không còn khu trú sau rào dậu bản làng mà vươn tới những trạng thái tâm lý phức hợp thời hội nhập, tự tin đối thoại cùng dòng chảy văn học cả nước. Các xu hướng tiên phong như Tân hình thức, Tượng trưng, Siêu thực được tiếp nhận để soi chiếu những vấn đề toàn cầu: từ sinh thái đến nỗi cô đơn bản thể trong kỷ nguyên số. Bản sắc thơ xứ Tuyên đương đại được định vị qua hai khuynh hướng thẩm mỹ chủ đạo:
Thứ nhất là lối viết trữ tình gắn liền với chiêm nghiệm triết lý và thiền vị. Đại diện tiêu biểu là nhà thơ Ngọc Hiệp. Mang theo âm hưởng Chèo từ quê gốc Thái Bình, ông tạo dấu ấn bằng sự kết hợp nhuần nhị giữa điệu thức lục bát truyền thống và những biến tấu tinh tế. Sự nhạy cảm trước quy luật vô thường hiện rõ trong những vần thơ đầy tính ký thác: “Chạnh lòng nghĩ tới ngày mai/Mùi hương ấy cũng theo ai lấy chồng/Tình là “Sắc sắc” “Không không”/Đa mang chỉ để bận lòng người dưng!” (Hương hoa bưởi).
Cái tôi hoài niệm của Ngọc Hiệp đã mở ra không gian hò hẹn đầy quyến rũ, nơi âm thanh đời thường cũng trở thành những vang vọng tâm hồn: “Nhìn sang cửa sổ nhà em/Đôi cánh chẳng khép, mảnh rèm chẳng buông/Tiếng cười như thể tiếng chuông/Ngân nga vọng tới căn buồng nhà tôi” (Lời ru giăng mắc).
Thứ hai là sự bứt phá về cấu trúc ngôn ngữ và nhãn quan hậu hiện đại. Trọng tâm của cuộc cách tân này kết tinh rõ nét ở Đinh Công Thủy. Anh quyết liệt giải phóng câu thơ khỏi khuôn thước truyền thống, kiến tạo diễn ngôn mới tiệm cận văn xuôi, kết hợp hình ảnh siêu thực. Trong Ý nghĩ nhẹ bẫng, những nhịp ngắt dòng đột ngột tạo ra khoảng lặng bóc tách sự cô độc đô thị:“Mỗi buổi sáng mở ra một bầy chim sẻ/Xua đi cơn thở dài/Đừng suy nghĩ như thể ngày mai những con đường biến mất/Những con đường ngoằn ngoèo hết mực yêu thương...”.
Cùng ý thức tự đổi mới, Đoàn Thị Ký ở chặng muộn bứt phá mạnh mẽ khỏi các khuôn mẫu truyền thống. Vượt lên ý nghĩa cách tân hình thức đơn thuần, cấu trúc “bậc thang” trong bài thơ Những con số nhói đau nhân thế là giải pháp nghệ thuật giúp tác giả giải tỏa áp lực cảm xúc trước những chấn động khốc liệt của thời cuộc. Những nhịp ngắt dòng đột ngột, cùng các khoảng trắng vừa mô phỏng hơi thở đứt quãng, vừa thực hiện sứ mệnh giải phóng nội tâm khỏi sự đè nén từ hiện thực dịch bệnh. Đây chính là biểu hiện rõ nét của tư duy thơ hiện đại: ngôn từ thoát ly khỏi khung chứa cứng nhắc để trở thành biểu đồ phản ánh trực diện các xung động tâm lý phức cảm:
Mùa thu này thành nợ vay
Nơi dải đất phương Nam ruột mềm máu chảy
Con số leo thang, con số nhảy
rung hồi vĩnh quyết
ánh mắt, tiếng cười
vì biến thế con corona vi rút…
Sự vận động này tiếp tục lan tỏa qua tác phẩm của Nguyễn Trần Bé, nơi tác giả trực diện phản ánh nỗi hụt hẫng của bản ngã trước vòng xoáy phố thị và sự đứt gãy văn hóa: “Dắt nhau ra phố làm ăn/dòng đời cứ trôi vùn vụt/anh quên màu hoa đỏ rực em quên mùa tra hạt vừng!” (Hoa gạo và em).
Dòng chảy này tiếp nối đầy triển vọng qua thế hệ 8x, 9x như Thèn Hương, Trịnh Thị Thứ. Thèn Hương kiến tạo sức hút thẩm mỹ bằng cách “hiện đại hóa” chất liệu sử thi, đưa tư duy triết luận vào phong tục bản địa qua ngôn ngữ trong trẻo: “Ơi em gái miền núi/có đôi tay màu chàm/lách cách bên khung cửi/em có dệt bình an?” (Sắc chàm). Trịnh Thị Thứ chọn lối viết tự do, nhập thân vào không gian nhà sàn, cầu thang chín bậc để đo đếm những hy sinh thầm lặng: “Từ ngày cha mất/Mẹ vẫn hay ngồi bậu cửa/Nhìn phía núi xa xăm/...Con thương ngực nhà sàn mỗi khi đêm xuống/Cứ lui cui gánh hết việc đàn bà, đàn ông.”.
Sự cộng hưởng giữa thế hệ trẻ và các bậc tiền bối đã xác lập một “căn cước” nghệ thuật mới cho thơ xứ Tuyên: hiện đại trong tư duy, sắc sảo về trí tuệ nhưng vẫn vẹn nguyên hơi ấm bản địa. Đây chính là cuộc “nhập lưu” đầy tự trọng vào dòng chảy văn học đương đại nước nhà.
Bản lĩnh dấn thân và mệnh lệnh bản sắc
Sự vận động xuyên suốt của thi ca xứ Tuyên đã khẳng định bản lĩnh của lớp người cầm bút: đổi mới quyết liệt nhưng không rời xa gốc rễ. Căn tính bản địa khi đã thấm vào huyết quản sẽ trở thành một lẽ sống tận hiến. Ta bắt gặp tinh thần ấy ở Cao Xuân Thái với di sản “sống trên đá, viết trên đá”, hay Gia Dũng - người đã trọn tình với đất Tuyên đến hơi thở cuối cùng. Ý chí của họ chính là những cột mốc văn hóa vĩnh cửu, sừng sững giữa đại ngàn xanh thẳm.
Trong kỷ nguyên hội nhập, giữ gìn bản sắc trở thành mệnh lệnh từ trái tim. Thế hệ cầm bút trẻ hôm nay cần dệt đôi cánh nghệ thuật bằng sợi tơ bản sắc và soi rọi bởi nhãn quan hiện đại. Có như vậy, tiếng lòng đại ngàn mới tự tin cất lên thanh âm riêng biệt, định vị một căn cước văn hóa kiêu hãnh trên thi đàn dân tộc.
Đ.T.T.H, V.T.H
27-10-2026
27-10-2026
27-10-2026
27-10-2026
.jpg)









