Tản văn của Lê Ngọc
Ngày còn nhỏ, tôi vẫn mong ngóng đến ngày nhà có giỗ. Bởi giỗ là được ăn ngon và nhà vui hơn bao giờ hết…
Vui vì nhà đông ơi là đông. Khi có giỗ, họ hàng các nơi kéo về, anh họ, em họ rồi chị họ bình thường không thấy thì nay ngồi chật sân. Cái sân gạch vốn ngày thường chỉ có vài con gà mái tìm ăn cục tác, mấy tàu lá chuối phất phơ sau hồi mưa gió, bỗng dưng rộn ràng tiếng người nói cười từ sớm tinh mơ.
Mới tờ mờ đất, khi sương còn giăng là là mặt ao, ông nội đã lọ mọ dậy. Ông châm điếu thuốc lào, rít một hơi dài, tiếng ho sặc thuốc khục khoặc tan trong gian bếp cũ. Bà nội thì lật đật nhóm bếp. Rơm khô bén lửa, khói cay xè mắt, quẩn lên mái ngói thâm nâu rồi len qua từng liếp ngói. Bà vừa thổi lửa vừa gọi vọng ra sân: “Dậy thôi các con ơi, hôm nay nhà có giỗ, dậy muộn ông bà phạt đấy nhé!”
Chúng tôi nghe tiếng bà vội bật dậy như chim vỡ tổ. Không phải vì sợ phạt, mà bởi tôi biết kiểu gì hôm ấy cũng có thịt gà, nem rán, xôi gấc đỏ au, bát canh măng miến nấu lòng gà thơm ngầy ngậy, đĩa giò thủ thái khoanh tròn bong bóng mỡ. Những món ấy bây giờ ra chợ, siêu thị hay mở điện thoại đặt một lát là có người mang tới tận cửa. Nhưng hồi đó, ở miền quê nghèo khó chúng tôi thì chỉ Tết mới được thưởng thức.
Mẹ hay mắng vốn: “Trẻ con chúng mày chỉ nhớ ăn chứ có biết giỗ ai bao giờ”. Tôi cười hì hì không đáp, chạy ra sân nhìn bà bày thúng gạo, đãi đỗ, ngâm miến dong, vặt hành hoa còn nguyên cả bộ rễ lởm chởm dính đầy đất. Bố xách con gà trống thiến từ ngoài chuồng vào, chân nó buộc bằng sợi lạt mềm, cánh đập phành phạch. Tôi đứng nép sau cột nhà, vừa sợ vừa tò mò. Ông nội nhìn tôi, cười móm mém: “Thằng này lớn rồi mà còn sợ gà à? Mai sau ra mắt nhà vợ, bố vợ bảo thịt gà thì làm thế nào?”. Tôi phụng phịu: “Cháu chỉ sợ nó mổ thôi”. Ông lại cười, tiếng cười khùng khục lẫn trong khói thuốc lào, tiếng dao thớt lục cục…
Giỗ quê không chỉ là câu chuyện của một mâm cơm cúng đặt lên ban thờ. Nó là chuyện của cả nhà, cả họ. Từ hôm trước, bà đã nhẩm tính trong đầu xem nhà nào về, bác nào bận, cô nào gửi lễ, chú nào đưa cháu sang chơi. Bà ngồi bên hiên, tay têm trầu, miệng lẩm nhẩm: “Nhà bác Toán chắc về sớm. Nhà cô Phong đi chợ phiên xong mới sang. Thằng Hậu năm nay học đại học không biết có về được không. Còn mấy đứa nhỏ, nhớ để riêng cho chúng nó đĩa nem, không là tranh nhau lại khóc um lên.”.
Bà nhớ hết. Nhớ từng đứa cháu thích ăn gì. Đứa nào không ăn được cay. Đứa nào hay bị hóc xương. Đứa nào phải ngồi cạnh mẹ mới chịu ăn. Người già ở quê lạ thật. Chữ nghĩa không nhiều, điện thoại thông minh không biết dùng, nhưng trí nhớ về con cháu thì sâu như biển Thái Bình. Ai đi đâu, làm gì, sinh con năm nào, đau ốm ra sao, bà đều giữ trong lòng, thỉnh thoảng lại hỏi han ân cần: “Dạo này công việc thế nào con?”, “Học có vất không con?”, “Mẹ mày đi chợ à?”, “Ăn thêm miếng gà đi, gà quê đấy, bà ăn no rồi”. Nhất là những màn điểm danh, đếm người trong mâm cơm, nếu thiếu đứa nào, bà lại giục: “Để phần cho nó chưa? Con Minh thích cánh giữa, cái Dung thích phao câu”, chưa ăn được mấy đã bảo: “Bà no rồi!”
Cứ thế, ngày giỗ năm nào cũng bắt đầu bằng tiếng bà gọi, tiếng ông ho sặc sụa thuốc lào, tiếng mẹ rửa rau ngoài cầu ao, tiếng các bác các cô í ới từ đầu ngõ. Người đi xe đạp dựng dựa bờ tường. Người đi bộ xách theo túi quà, khi thì cân đường hộp sữa, khi thì nải chuối, chục cau, chai rượu nút lá chuối khô. Có bác từ làng bên sang, quần xắn quá bắp chân vì vừa lội qua đoạn đường lầy. Có cô dắt theo hai đứa nhỏ, đứa trước ôm túi bánh, đứa sau vừa đi vừa mếu vì bị mẹ bắt mặc quần áo mới.
Cả nhà khi ấy như một cái chợ phiên thu nhỏ. Gian bếp đỏ lửa từ sáng tới trưa. Các bà, các thím ngồi quanh nong lá dong, nhặt rau thơm, thái su hào, cà rốt. Mẹ cúi đầu băm thịt làm nem, dao nện đều đều xuống thớt nghe bình bịch. Bác Vân vừa cuốn nem vừa kể chuyện nhà gì xóm trên mới cưới dâu, thím Lịu chen vào bảo cưới dâu thời nay sướng thật, chỉ việc thuê rạp thuê cỗ, đâu như ngày xưa cả họ xúm vào làm, mệt bở hơi tai mà vui.
Bà nội ngồi trên chiếc ghế thấp cạnh bếp, tay cầm đôi đũa cả đảo nồi măng hầm. Hơi nóng phả lên mặt bà làm những sợi tóc bạc dính vào thái dương. Bà nếm một chút nước canh rồi bảo: “Thiếu mắm rồi. Cho thêm tí mắm cốt vào. Cỗ quê mà nhạt là mất ngon.”. Mẹ cười: “Bà lúc nào cũng kỹ”. Bà đáp ngay: “Không kỹ sao được. Giỗ chạp là việc nhà mình, làm qua loa phải tội chết!”.
Hồi đó, tôi không hiểu “phải tội” là thế nào. Tôi chỉ thấy trên ban thờ, hình ảnh các cụ ngồi đặt tay trên đùi trang nghiêm lắm. Khói hương bảng lảng che mờ mờ ảo ảo. Bát hương cắm đầy chân nhang cũ. Mâm ngũ quả đệm trầu têm cánh phượng và mấy quả cau tươi. Ông nội cẩn thận lau từng cái chén nhỏ, rót rượu nếp ra chiếc be sứt miệng. Đến gần trưa, khi mâm cỗ đã đặt ngay ngắn, ông thay áo nâu, chắp tay đứng trước ban thờ, giọng trầm trầm khấn vái. Đám trẻ chúng tôi bị mẹ kéo đứng phía sau, đứa nào đứa nấy im thin thít. Không khí lúc ấy tĩnh lặng lạ thường, chả bù ngoài sân đang nói cười rộn rã.
Mùi hương trầm, mùi gà luộc, mùi xôi gấc, mùi rượu nếp cay cay quyện cùng tiếng khấn kính cẩn như mời gọi tổ tiên về vui vầy cùng con cháu. Cúng xong, cả nhà hạ lễ. Đó mới là lúc lũ trẻ chúng tôi chờ đợi nhất. Chiếu cói trải kín gian nhà ngang ba gian hai chái, mâm nọ nối mâm kia. Mâm đàn ông có chai rượu, đĩa thịt chân giò, thịt bò, nem chạo. Mâm đàn bà thì nhiều rau hơn. Mâm trẻ con bao giờ cũng được người lớn ưu tiên để sát vách, khỏi chạy nhảy va vào nồi niêu. Bà bê ra đĩa nem còn thừa cất trong chạn, đặt xuống rồi dặn: “Ăn từ từ thôi, đừng có tranh nhau. Miếng ngon phải biết nhường em bé.” Anh Dũng nhanh tay gắp liền hai cái làm tôi tức nổ phổi, quắc mắc: “Bà bảo nhường em cơ mà!” Nó cãi: “Mày là em mà hơn tuổi tao còn gì?” Thế là, cả mầm cười ầm lên, còn tôi thì câm nín. Bà đứng ngoài mắng vốn: “Cha bố anh, bé tí đã khôn như ranh!”.
Những tiếng cười ấy bay lên mái nhà, vướng vào giàn mướp, rơi xuống sân gạch, rồi nằm lại đâu đó trong tuổi thơ tôi. Sau này đi xa, giữa phố phường rộng lớn, nhiều đêm nằm nghe xe chạy ngoài đường, tôi bỗng thèm đến quay quắt một tiếng cười như thế. Một tiếng cười đông người, một tiếng cười có ông, bà, bố mẹ, cô bác, anh chị em họ, có mâm cơm quê, có những câu chuyện chẳng đầu chẳng cuối mà ấm áp lạ thường…
Ngày ấy, giỗ không chỉ để nhớ người mất. Giỗ là để người sống tìm đường về với nhau. Bởi quanh năm, ai cũng bận, người đi làm đồng, người buôn bán chợ huyện, người vào Nam, người lên thành phố học hành. Chỉ đến ngày giỗ, cả nhà mới có cớ mà tụ lại dưới một mái nhà. Người lớn hỏi chuyện mùa màng, chuyện cưới xin, chuyện con cái học hành. Đàn ông uống chén rượu quê, mặt đỏ gay, nói chuyện thời trai trẻ đi đắp đê, đi gặt hộ. Đàn bà rửa bát ngoài sân, vừa xối nước vừa cười rúc rích. Trẻ con ăn xong thì chạy ù ra ngõ, đuổi nhau quanh đống rơm, rồi thế nào cũng có đứa ngã, đầu gối trầy xước, khóc ré lên gọi mẹ...
Tôi đã lớn lên qua những ngày giỗ như thế. Lớn lên bằng mùi khói bếp rạ, bằng tiếng dao băm nhân nem, bằng bát canh măng miến, bằng câu ông dặn “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, bằng cái nhìn nghiêm nghị của bố khi tôi định gắp miếng đùi gà trên mâm người lớn, bằng bàn tay mẹ lặng lẽ gắp cho tôi miếng thịt nạc rồi bảo: “Ăn đi, lớn nhanh còn đi học.”. Lúc ấy, tôi chỉ cắm cúi ăn. Nào biết mỗi mâm cơm giỗ là một mảnh đời đang được giữ lại. Nào biết một ngày kia, cái sân ấy vẫn còn, gian bếp ấy vẫn còn, ban thờ ấy vẫn đỏ hương, nhưng ông bà thì không còn ngồi đó nữa…
Ngày đưa ông ra đồng, con cháu về đông lắm. Cả cái ngõ nhỏ chật kín người. Bà ngồi bên hiên, mắt ráo hoảnh, tay lần tràng hạt, miệng cứ lẩm bẩm: “Ông đi trước, chờ tôi với nhé!”. Tôi nghe mà sống mũi cay cay. Từ ngày ông mất, mỗi lần đến giỗ, bà vẫn dậy thật sớm, vẫn bảo mẹ ngâm gạo đồ xôi, vẫn nhắc bố mua rượu ngon, vẫn ngồi trước ban thờ rất lâu, như nói chuyện với ông bằng thứ ngôn ngữ không cần phát ra thành tiếng.
“Ông ơi, con cháu về đủ cả đây này”. Bà nói khẽ thế, tưởng không ai nghe. Nhưng tôi lại nghe được. Tự nhiên có gì đó cay cay trong lòng. Rồi bà theo ông một chiều tháng chín, mưa phùn rả rích giăng mù sương ngõ nhỏ. Người ta đưa bà lặn lội qua sông nằm cạnh ông dưới khói nhang thoảng hương mùi trầm, mang theo cả những ngày giỗ bận rộn…
Ban đầu, con cháu vẫn cố về đông đủ. Năm đầu thiếu bà, ai cũng ngượng ngập trong chính căn nhà quen thuộc. Mẹ đứng bếp mà cứ quay sang khoảng trống nơi bà hay ngồi. Bố thắp hương lâu hơn mọi năm. Các cô các bác nói chuyện nhỏ hơn. Lũ trẻ con bây giờ đã lớn, đứa đi học, đứa đi làm, đứa lấy chồng, lấy vợ. Không còn cảnh tranh nem, tranh đùi gà. Không còn ai chạy ù ra ngõ rồi khóc ré gọi bà. Mâm cơm vẫn đủ món, nhưng sao cứ thấy thiếu. Thiếu tiếng bà nhắc mắm nhạt. Thiếu dáng ông châm thuốc lào ngoài sân. Thiếu cái cảm giác người già còn đó để con cháu có chỗ mà quay về.
Một năm. Hai năm. Rồi nhiều năm sau nữa…
Cuộc sống mỗi người, mỗi ngả. Người ở xa không về được thì gọi điện xin vắng. Người đi làm công ty bận chẳng xin nghỉ được. Người về hôm trước, người ghé hôm sau. Có năm, nhà chỉ làm mâm cơm nhỏ. Có năm, bận quá, mẹ bảo thôi thắp hương hoa quả, thành tâm là chính. Tôi nghe mà buồn. Không trách ai được. Đời sống bây giờ cuốn người ta đi như nước lũ. Ai cũng có nỗi lo riêng, có cái khó riêng. Một ngày nghỉ trở nên vô cùng quý giá. Một chuyến xe về quê cũng cần tính toán kỹ càng. Mấy mâm cỗ quê ngày xưa tưởng đơn giản mà hóa ra cần rất nhiều bàn tay, rất nhiều thời gian, rất nhiều tấm lòng còn hướng về nhau.
Nhưng buồn thì vẫn buồn…
Có bận tôi về đúng ngày giỗ ông. Nhà vắng. Sân gạch sạch bong, không còn rổ rá la liệt, không còn tiếng thím gọi cô, không còn mấy đứa trẻ tranh nhau rửa tay bên chum nước. Mẹ đang lúi húi trong bếp, nồi canh măng nhỏ hơn ngày xưa nhiều. Trên mâm chỉ có đĩa gà, bát miến, đĩa nem, chén rượu, đĩa xôi. Tôi đứng ở cửa, tự nhiên thấy lòng mình trống trải, buột miệng hỏi:
- Mẹ ơi! Năm nay mọi người không về à?
Mẹ quay lại, cười nhẹ: “Bận cả con ạ. Đứa thì đi làm, đứa thì con nhỏ. Thắp hương cho các cụ là được rồi.”
Tôi im lặng. Một lát sau, mẹ lại nói, giọng như tự an ủi mình: “Đông vui mãi sao được. Ông bà còn sống thì con cháu còn háo hức về. Ông bà mất rồi, mỗi nhà mỗi việc, cũng phải thông cảm.”
Tôi muốn nói điều gì đó, nhưng cổ nghẹn lại. Bữa ấy, bố thắp hương. Khói bay lên mảnh mai trong gian nhà vắng. Tôi nhìn di ảnh ông bà trên ban thờ. Ông vẫn nghiêm nghị. Bà vẫn cười hiền từ. Tự nhiên trong đầu vang lên tiếng bà ngày xưa: “Ăn từ từ thôi, đừng tranh nhau.” Rồi tiếng ông: “Lớn rồi phải biết nhớ ngày giỗ chạp.”. Những câu nói cũ tưởng mất hút trong thời gian, hóa ra vẫn nằm nguyên ở đó, chỉ chờ một làn khói hương là trở về.
Ăn cơm xong, tôi ra sân đứng một mình. Cây cau cuối vườn cao hơn trước. Bờ ao giờ đã xây gạch. Con ngõ đất ngày nào thành đường bê tông phẳng lì. Nhà nào cũng có cổng sắt, camera, chuông điện. Quê mình giàu hơn thật, sạch hơn thật, đẹp hơn thật. Nhưng những ngày giỗ đông vui thì cứ mỏng dần, mỏng dần như tờ giấy bản cũ để lâu trên gác bếp.
Tôi bỗng nhớ da diết cái hồi cả họ ngồi kín chiếu. Nhớ bà cúi xuống thổi vết xước trên đầu gối khi tôi vấp ngã. Nhớ ông rót chén rượu mời các cụ. Nhớ mẹ trẻ hơn bây giờ, tay thoăn thoắt cuốn nem. Nhớ bố khi ấy còn khỏe, vừa chẻ củi vừa trêu mấy đứa cháu. Nhớ tiếng ai đó ngoài ngõ gọi vang: “Nhà mình cỗ xong chưa đấy?” Nhớ cả cái cảm giác chỉ cần đến ngày giỗ là người đi xa sẽ về, người giận nhau cũng ngồi chung mâm, người lâu không gặp cũng hỏi han đôi ba câu…
Giỗ quê, nghĩ cho cùng, đâu chỉ là chuyện cúng một người đã khuất. Nó là sợi dây buộc con cháu vào nhau. Là cái cớ để người ta bước qua những mệt mỏi riêng mà trở về ngồi dưới mái nhà chung. Là dịp để trẻ con biết mình thuộc về một dòng họ, một thôn làng, một dòng sông, một bờ bãi, một nếp nhà có ông bà từng sống, từng thương, từng giữ gìn nền nếp. Chỉ tiếc, có những sợi dây nếu lâu ngày không chạm vào sẽ tự chùng xuống. Có những căn nhà nếu thiếu bước chân người về lạnh lẽo, quạnh hiu. Có những ngày giỗ nếu không còn tiếng gọi nhau í ới thì mâm cơm dù đủ đầy vẫn thấy khắc khoải không yên…
L.N
17-07-2026
17-07-2026
17-07-2026
17-07-2026






.jpg)



