“Ông Tối Bà Sáng” con đèo huyền thoại

Thứ ba, ngày 10-02-2026, 10:35| 1.672 lượt xem

Bút ký của Lê Na

Vào năm một chín tám hai, thế kỷ trước, tôi có may mắn, được đi công tác một chuyến, cùng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tuyên, ông Bàn Chí Hàm. Ông là người Dao Đeo Tiền, quê ở xã Minh Hương, huyện Hàm Yên. Trên chiếc xe UAZ, loại xe do Liên Xô trước đây sản xuất, đoạn qua đèo Khuôn Gio, ông Hàm kể câu chuyện về đèo Ông Tối Bà Sáng cho mọi người trên xe cùng nghe. Câu chuyện đó ấn tượng với tôi đã hơn bốn mươi năm. Ngày đó, tôi đang là trinh sát bảo vệ nội bộ, lực lượng an ninh nhân dân.

 Câu chuyện rằng: “Có hai ông bà nọ, là bạn đường, chuẩn bị vượt con đèo nguy hiểm. Đó là lối mòn dành riêng cho người đi bộ, xuyên qua cánh rừng nguyên thủy, rậm rạp và nhiều thú dữ. Họ không có sự lựa chọn khác, nếu muốn sang phía bên kia. Dân hai bên đèo thưa vắng. Ban đêm, đèo là nơi hội tụ của hổ, gấu, lợn rừng, khỉ vượn... Thường thì, người ta chỉ qua đèo vào ban ngày, khi có đông người. Nhưng hôm ấy, một ngày khác lạ, nắng cũng không còn là nắng nữa. Một thứ ánh sáng ma mị bao trùm khắp rừng. Ông bảo tối rồi, nên dừng lại vào nhà dân tìm nơi ngủ tạm. Còn bà thì khẳng định, trời vẫn còn sáng, cố gắng vượt đèo trước khi đêm xuống.
Họ đã không đồng nhất ý kiến. Cả hai vượt đèo. Rồi màn đêm sập xuống. Hai người phải tìm một hang núi, hoặc hốc cây to ở lại qua đêm. Rừng đêm náo động. Về khuya, những tiếng thét gầm vang của muôn loài thú dữ. Tiếng rú vọng từ vách đá, hang núi. Mùi thịt người không che giấu nổi khứu giác của những kẻ săn mồi tinh tường. Bước chân của móng vuốt, sột soạt, nghe như gần cạnh bên tai họ. Họ ngồi nín bặt trong hang đá tăm tối và rợn người. Một đêm căng thẳng trong ám ảnh và cả hai cùng cầu trời khấn phật...”.
 Câu chuyện mà vị Phó Chủ tịch tỉnh kể tôi nghe được, có hậu. “Sáng ra, khi bình minh lên, tiếng chim chóc lại hót vang khắp rừng. Những chú sóc, cầy bay thoăn thoắt chuyền cành, kiếm mồi. Rừng bắt đầu trở nên sống động, náo nhiệt của mỗi buổi bình minh. Hai ông bà nọ vội vã ra khỏi đèo. Họ trốn chạy như bị ma đuổi. Và từ đấy, hai người không bao giờ dám bén mảng qua khu đèo ấy... Con đèo không tên từ đó, được mang tên Ông Tối Bà Sáng.
Tôi là người hay hoài niệm. Không khó khăn lắm, tôi đã kết nối được với anh Bàn Văn Tuyên, nguyên cán bộ công an nghỉ hưu, con trai của ông Bàn Chí Hàm. Được biết ông Hàm sinh năm một chín hai bảy và đã mất năm hai ngàn không trăm mười. Hơn mười năm làm cán bộ cấp tỉnh, ông đã sưu tầm, lượm lặt được khá nhiều truyện cổ, truyện dân gian và văn hóa người Dao để truyền lại cho con, cháu.
Một ngày mùa hè, năm hai không hai lăm, tôi phóng xe máy xuống Sơn Dương gặp ông Lý Quang Đệ, bảy mươi tư tuổi, trú tại thôn Y Nhân, xã Đông Thọ. Ông là người Cao Lan, có nhiều hiểu biết về lịch sử vùng đất này. Ông Đệ thường đi giao lưu, hát Sình ca với tộc người Cao Lan khắp trong và ngoài tỉnh Tuyên Quang. Thôn Y Nhân nằm ở phía Tây - Nam con đèo Ông Tối Bà Sáng.
Toàn thôn có hai trăm tám mươi hộ, hơn một nghìn hai trăm khẩu. Trong đó tám mươi phần trăm là đồng bào Cao Lan, số còn lại là Nùng và Dao. Ngày nhỏ, ông được bố mình kể những giai thoại rùng rợn về đèo này. Có hai ông bà đi từ thôn Y Nhân sang Kỳ Lâm, Sơn Dương thăm họ hàng. Kết chuyện là cả hai ông bà đó đã mất tích trong đêm. Sáng hôm sau, dân làng phát hiện những mảnh quần áo Cao Lan của họ rách nát vương khắp núi. Câu chuyện khiến anh chàng Đệ, lúc còn thanh niên, sợ ma không dám qua đèo. Đến nay, trong tâm trí ông, con đèo ấy có thần.
Những người già ở thôn Y Nhân mà tôi gặp họ kể rằng, những hôm trời có mưa phùn, gió bấc vào lúc nhập nhoạng tối, thường xuất hiện một đôi chim khá to, lông máu đen sẫm, quấn quýt bên nhau. Con trống kêu “tối” thì con mái kêu “sáng”. Tiếng chim kêu não nuột, suốt từ tối cho tới sáng.
Chúng tôi gặp Bí thư Chi bộ thôn, Đặng Trường Thọ, năm mươi tuổi. Anh cho biết, đời sống của bà con trong thôn đã có nhiều thay đổi, hộ khá ngày một tăng. Kinh tế của bà con chủ yếu trồng lúa nước. Diện tích đất ruộng chiếm sáu mươi chín héc ta. Đất rừng có trên năm mươi héc ta. Nhiều năm qua phong trào trồng cây, phủ xanh đất trống, đồi trọc đã được bà con chú trọng. Ven đường, những đồi bạch đàn, những rừng keo mỡ đang lợp tán. Cây lâm nghiệp ở đây được bà con liên doanh với Công ty Lâm nghiệp Sơn Dương và Công ty cổ phần Giấy An Hòa.
Con đèo thực sự gây tò mò với chúng tôi. Từ  trung tâm tỉnh Tuyên Quang xuôi Quốc lộ 37, rồi rẽ phải, theo Tỉnh lộ 186, kết nối một vùng hạ huyện của Sơn Dương trước đây. Theo giới thiệu, tôi vào thôn Đa Thọ, xã Đông Thọ. Người mà tôi tìm đến là ông Trần Đức Hải, bảy mươi bảy tuổi. Ngôi nhà của vợ chồng ông Hải án ngữ bên phía tây của con đèo huyền thoại. Một ngôi nhà xây kiểu cũ kỹ, ẩn trong bóng cây xanh. Năm một chín sáu bảy, chàng trai Hải lên đường nhập ngũ, năm một chín bảy sáu về phục viên. Hai năm sau, ông làm công nhân lâm nghiệp tại Sơn Dương. Quê ông ở xã Cấp Tiến cũ nhưng đã gắn bó với rừng và con đèo này đã quá nửa đời người.
Tôi quyết định “thám hiểm” con đèo từ hướng này. Gần trưa, tôi theo Trần Hoàng, bốn mươi tư tuổi, con trai ông Hải lên đèo. Con đường đất trơn và dễ trượt, men theo những đồi keo, bạch đàn. Chừng gần nửa cây số vòng vèo mới đến đèo. Hoàng đi băng băng, còn tôi thì mò mẫm phía sau. Thực tình tôi muốn tranh thủ cơ hội để ngắm chân dung con đèo. Vuốt ve những phiến đá bên lối đi. Tôi mường tượng những dấu tích xưa để lại cả ngàn vạn năm trước. Những khối đá khổng lồ, nằm, ngồi suốt dọc đường đèo. Đá thi gan cùng keo, bạch đàn. Những bàn đá nhẵn thín, phẳng lỳ màu đen. Những cây cột đá, giời đã dựng vô lối. Ở bên đá bây giờ là cây lâm nghiệp mới trồng độ năm bảy năm. Những thân bạch đàn trắng sáng, cao vút. Những vòm keo tỏa bóng mát. Không một bóng dáng cổ thụ. Đại ngàn, rừng rú đã về đâu? Bầy đàn hoang thú đã lùi về quá khứ. Dưới nền đất, đá, từng thảm lá rụng phủ kín. Tôi áp tai vào đá, lắng tìm tiếng hổ gầm, sói thét hay tiếng đôi chim “tối” “sáng” mà buổi trưa im vắng quá. Im vắng đến rùng rợn. Tiếng gọi từ ngàn xưa ấy đã nhòa nhạt trong nắng trưa. Tôi miết tay trên phiến đá nhẵn lì, gặp đôi ba vết xước thời gian. Hoang dã đã gửi gắm điều gì qua từng mảnh vỡ của những tảng đá lớn bên đèo.


Trước khi sáp nhập các xã, đèo Ông Tối Bà Sáng, là vùng đất giáp ranh ba xã Đông Thọ, Tú Thịnh và Phúc Ứng. Biết tôi mê đá, chàng trai Ngô A Tu, người Mông ở thôn Tân An, xã Đông Thọ rủ tôi lên núi chơi và ngắm đá. Đó là sườn phía đông của đèo. Những bầy đàn của đá “mồ côi”, muôn hình, vạn trạng, nằm ngổn ngang trên mặt núi. Những cơn mưa lớn làm cho đá trôi chảy xuống, phá hoại cây trồng của dân. Hàng chục hộ dân từ các thôn Tân An, Y Nhân qua đây trồng rừng. Rừng bắt đầu hồi sinh từ bàn tay của người Mông, người Nùng và người Cao Lan quanh đây. Hàng chục héc ta sườn phía đông đang được màu xanh che khuất đất, đá. Nhà ông Ngô Văn Páo, tháng ba năm ngoái đã trồng mới ba ngàn cây keo, giâm cành. Hộ ông Dương Văn Dé, ông Ngô Văn Dinh cũng đều có trên hai ngàn cây. Qua chín tháng, keo đã cao trên thắt lưng. Trận mưa lớn hồi tháng chín vừa rồi cũng bị hỏng nhiều cây, bà con phải dặm lại.
Xuống khỏi đèo, một vùng xưa là thung lũng hoang vu, rậm rạp vương quốc của cầy, cáo, ong, rắn... nay đã và đang biến thành những nông trường trồng cỏ voi, trồng ngô, mía và chè...
Tôi rẽ vào một gia đình không hề quen biết, cạnh đường. Chủ nhà là ông Lương Xuân Canh, bảy mươi bảy tuổi, đang ngồi uống nước chè một mình. Quê ông Canh tận Bắc Giang, năm một chín tám lăm mới về đây. Hàng xóm đều là công nhân Nông trường chè Tân Trào. Ông kể, mình vốn là giáo viên về hưu. Trước đây, Nông trường Chè Tân Trào đã xây dựng trại bò hàng trăm con. Có lúc, Nông trường có cả trăm héc ta chè. Còn bây giờ, Sơn Dương đang xây dựng một công viên nghĩa trang có quy mô lớn và khang trang.
Những đội nông trường Tân Thịnh, Tân Tiến, Tân Phong, Tân Yên, Tân Thái tụm lại vùng đất mới. Từ nhiều miền quê, nay đã có quê chung để quây quần, đùm bọc lẫn nhau xây dựng cuộc sống mới.
Một địa danh khác mà tôi không thể bỏ qua, khi tìm hiểu viết bài này. Đó là đập Đại Bàng thuộc xã Phúc Ứng cũ. Nơi này nằm ở phía Nam của con đèo. Tôi tìm gặp một người yêu thơ. Ông là Đỗ Anh Vu, nay đã bước sang tuổi tám mươi. Ông Vu cùng gia đình từ Ninh Bình lên khai hoang và định cư từ năm một chín sáu ba. Ông từng tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam từ năm một chín sáu sáu đến sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Câu chuyện về đèo Ông Tối Bà Sáng được bà Nguyễn Thị Hòa, vợ ông Vu rất quan tâm và cùng tham gia. Bà Hòa, sáu mươi tám tuổi, một giáo viên nghỉ hưu, kể lại một chuyến đi qua đèo vào năm một chín tám mươi. Quê bà ở xã Tam Đa cũ, bà về nhà lấy mấy thứ lên Xí nghiệp. Hôm đó cũng vào chập tối, bà cùng một chú em phải vác xe đạp qua đèo. Đã nghe tin dữ về nó nhưng không thể không qua đèo. Vừa đi lên một đoạn, đồ đạc của bà đã “không cánh mà bay”. Hai chị em đốt đuốc soi tìm mãi mà không thấy. Cuối cùng tự nhủ mình, thôi, của đi thay người. Câu chuyện không có lời giải, nhưng cũng rất có thể vì hoảng loạn mà họ đã không có đủ kiên trì tìm lại đồ bị rơi...
Con đèo còn nhiều điều bí ẩn này, được dân khắp vùng gọi với cái tên Ông Tối Bà Sáng. Chẳng biết cái tên ấy có từ khi nào, có thể cả hàng trăm năm trước nữa, nhưng câu chuyện đã có những dị bản. Ngô A Tu, chàng trai Mông bảo tôi, nếu có dịp thong thả, cháu sẽ đưa bác vào các ngách hang trong núi, nơi tận cùng của ruột đá. Tu khoe với tôi, nhờ giống tốt và trồng kịp thời vụ nên keo phát triển rất nhanh. Tôi hình dung một vùng núi xám lạnh, những sườn dốc trơ vơ đất, đá hôm nào đã và đang phủ kín màu xanh ngút ngàn.                                                                                                       


L.N

Minh họa của Quảng Tâm

Tin tức khác

Emagazine

Được mùa lúa bản Dao

19-03-2026| 1.693 lượt xem

Bản Dao đón Tết

15-03-2026| 1.445 lượt xem

Bà cháu

10-03-2026| 1.399 lượt xem

Bảo tồn để phát triển

11-02-2026| 1.272 lượt xem

Cam sành Hàm Yên mùa thu hoạch

17-08-2024| 5.094 lượt xem