Xuân Vân mùa quả ngọt

Thứ tư, ngày 20-05-2026, 09:22| 2.239 lượt xem

Bút ký của Lê Thu

Tôi đã đến con sông Nho Quế mảnh mai, quanh co chảy dưới hẻm núi Tu Sản uy nghi trên cao nguyên cực Bắc. Tôi đã qua dòng Hương giang lặng lẽ, của xứ Huế mộng mơ, chứa đầy xao xuyến. Tôi đã bơi trên sông Cửa Lớn mênh mang sóng nước, xa mãi tận đất mũi Cà Mau. Ở đâu tôi cũng thấy, bất kỳ con sông nào trên đất nước của tôi, cũng mang theo trong mình dòng sinh khí khổng lồ, từ trên đỉnh những dãy núi ngút ngàn ùa xuống. Chúng theo sông trải rộng khắp bãi bờ, len đến mỗi ruộng đồng, toả ra các bản làng, rồi lặng lẽ thấm sâu vào từng thớ đất, trong mỗi mạch nguồn.

Quả là, cũng hiếm ở nơi nào trên vùng trời Đông Bắc, tạo hoá lại ngẫu nhiên sinh ra dải đất như “bầu sữa mẹ khổng lồ” chờ đón dòng sinh khí của đất trời ngày đêm tích tụ, mà nơi đây núi đồi, suối nước, ruộng vườn và cây trái cứ căng mọng, xanh tươi, vàng ruộm. Và tất cả những sắc màu tươi thắm ấy đã dệt thành những ước mong, của bao người trên dải đất Xuân Vân đang căng tràn sức sống. Dòng sông Lô như con rồng xanh quẫy mình theo hướng Bắc đổ về. Còn sông Gâm lại mải miết men theo dưới chân những dãy núi cao, những hẻm vực sâu xuôi về đây tụ hội. Hai con sông, như hai cánh tay vạm vỡ của cha mẹ thiên nhiên, dang rộng ra ôm lấy đứa con yêu quý của mình. Mà những ngón tay ấy, được đan cài ở điểm hợp lưu cuối cùng, ngay cuối thôn Cầu Giát.

Lần đầu tiên tôi biết đến Xuân Vân là lúc vừa học xong cấp một. Món quà “đi tàu lên Chiêm Hoá” - mà cha tôi đã hứa - cũng trở thành hiện thực. Chả là cha tôi có một người em họ - là thuyền trưởng của con tàu chở khách - nên nhờ chú cho tôi đi chơi một lần. Chuyến đi ấy là biệt đãi mà cha đã dành cho tôi, khi lên học cấp hai. Bến tàu khách nằm trước Cửa hàng Bách hoá tổng hợp, ngay dưới chợ Tam Cờ. Tôi leo lên con tàu thuỷ mang tên “Tự Lực” to lớn, mà cuối chiều vẫn đậu dưới dòng sông Lô. Lúc rời khỏi bờ, nó rúc lên mấy hồi còi kiêu hãnh, rồi xé nước ngược lên phía thượng nguồn. Tôi và thằng Dũng - con của chú thuyền trưởng - đứng trong ca bin của con tàu mà đôi mắt cứ mải mê ngắm nhìn hai bên bờ sông. Tàu đi qua soi Sính, rồi đến ngã ba sông - nơi hai dòng nước nhập vào nhau thành một. Nhưng ở chỗ hai dòng nước - nơi hai con sông hoà vào nhau thành một - lại chứa đầy những hiểm nguy rình rập. Lúc thì dòng sông Lô chứa đầy bụng nước sầm sập lao xuống, muốn dòng nước bên kia quy phục. Khi thì con sông Gâm hung dữ cuồn cuộn chảy về, chồm lên dòng sông Lô ương bướng - như hai chú trâu rừng dồn hết sức mạnh, lao đầu vào đối phương để so tài thua, thắng. Nhưng cũng thật lạ lùng, ngay giữa hai dòng nước hung hãn ấy, lại có một dải đất - như bàn tay của ông trọng tài - chìa ra can gián. Vượt qua ngã ba sông, con tàu lấy hết sức đạp mạnh vào dòng nước để vượt qua soi Éo. Đây cũng là khúc sông nguy hiểm nhất trong chuyến hành trình, từ thị xã Tuyên Quang ngược lên Chiêm Hoá. Chỗ này người ta gọi là “Éo”, vì tôi nghe nước cọ vào ghềnh đá, chỉ thấy sông kêu lên những tiếng réo ầm èo. Hai đứa tôi sợ hãi, nhìn chú thuyền trưởng căng mắt, liên tục quay bánh lái điều khiển con tàu, vừa ngoặt phải, lại vội vàng sang trái, như cầu thủ bóng đá, dùng đôi chân dắt trái bóng trước khung thành nước dữ.

Chín giờ tàu đến bến Xuân Vân. Lúc ấy chiếc bụng rỗng của tôi bắt đầu quặn lên vì đói. Trên bờ và dưới tàu, những cô, những bác tất tả gánh gồng những bao hàng lên, xuống. Ngày ấy, hầu như tất cả những người lên, xuống xã Xuân Vân chỉ đi bằng đường thuỷ. Còn đường bộ vừa xa, vừa khó, lại rất ít xe cộ ngược xuôi, ngoài những chiếc xe đạp. Gọi là bến tàu thuỷ, nhưng trên bờ chỉ có khúc đường mòn quanh co, ngược lên bờ đất, dưới tán cây tếch cao màu xám bạc. Lên đến bờ là thấy chợ Xuân Vân. Chợ nằm ngay bên đường cái, cũng đông vui, nhộn nhịp như dưới chợ Tam Cờ. Ở đấy có rất nhiều hàng hoá, mà chủ yếu là những thứ được mang ra từ rừng. Hoa quả, bánh trái được bày bán dọc hai bên đường, nhìn thoả thuê no mắt. Hai đứa tôi được chú Tất dắt vào trong chợ. Chú gọi cho chúng tôi mỗi đứa một bát bún sườn to, đầy thịt. Mùi hành thơm, màu nước béo và những sợi bún trắng dai, tròn nhẵn - không giống như loại mỳ mà tôi vẫn thường ăn, mua ở cửa hàng lương thực. Tôi vừa húp, vừa xuýt xoa, hít hà mùi thơm ngậy bốc lên từ miệng bát. Chuyến đi ấy, đọng trong tôi là vị ngọt lịm của nước, miếng thịt dai và gắp bún mềm mại trôi qua môi quyện vào vị giác, đã làm tôi ngây ngất. Còn hai bên bờ sông, những hàng hoa lau, phất phơ chìa tay ra mặt nước. Khúc sông sâu giấu trong mình những ghềnh đá nhọn và những hòn đảo xanh rì chia đôi dòng sông mê mải.

*

Suốt từ bấy đến nay, tôi mới có dịp trở lại Xuân Vân - nhưng lần này lại đi bằng đường bộ - nhìn xuống hai dòng sông xanh, chỉ thấy vài chiếc tàu - như đồ chơi của “Người khổng lồ xanh” - đang nghỉ ngơi sau giờ chiến trận. Và tôi chợt nhận ra, cũng hiếm có nơi nào đường đến trung tâm hành chính xã, lại đi qua hai cây cầu chắc khoẻ - bắc qua hai con sông đầy kiêu hãnh - từ xa xôi kéo về đây tụ hội. Vào mùa cạn, sông mảnh mai, gầy guộc, giơ ra dải cát dài cong, mềm mại, lấp sấp vui đùa với mặt nước trong xanh - như cô thiếu nữ trong đêm tân hôn - e ấp khoe bờ ngực trần mê mải, để gió trăng, mây nước vui đùa, mà nó phải kiên nhẫn đợi chờ qua mùa nước lũ. 

Tôi đi qua mấy thửa ruộng bậc thang, vượt qua con dốc cao, đến một khu vườn thoải dần từ chân đồi ra ngoài bãi sông. Bên này là Soi Hà, Soi Đát, bên kia là Soi Tiên, Soi Éo. Đi qua “Tổ hợp tác sản xuất Bưởi Soi Hà”, trong vườn, những cây bưởi to, tán lá xoè rộng, rủ xuống tận dưới gần mặt đất. Trên cành, những quả xanh chen nhau nép mình vào cánh lá, muốn trốn ánh nắng mặt trời đang dần lên gay gắt. Ngoài sông Gâm, những làn gió chốc chốc lại tung tăng ùa vào, làm những trái bưởi non ngây ngô, cũng đung đưa theo gió. Mùi hương sắc nồng nàn phủ khắp khu vườn, thơm như mùi tóc óng ả của cô gái vào độ đương thì. Hương hoa ấy gần gũi mà xa xôi, thân quen mà lạ lẫm. “Mười tám tuổi rồi đấy!”, chú Thoả vừa nói, vừa vỗ nhẹ vào thân cây như người bạn tri kỷ. Tôi xoải mình nằm dưới gốc cây mập mạp và ngước lên trời cao, cảm giác ấy như đang thả mình ngơi nghỉ, trong chiếc lều du mục của người Mông Cổ, trong một lần dã ngoại. Chỉ khác là, ở đây lớp da thú bên ngoài được phủ bằng màu xanh của lá bưởi non. Gần trưa, những tia nắng đầu hè từ trên vòm lá, xuyên xuống đất những tia sáng lỗ chỗ, giống những cây cột thép sáng loáng, như muốn nhắc nhở người trồng “hãy đỡ lấy từng cành vững chãi, chở che đàn con thơ ở dưới mái lều!”

Chú Thoả truyền kinh nghiệm, cây bưởi càng già, quả càng chắc, vị càng ngọt đậm. Ở khu vườn nhà chú có hơn hai trăm cây bưởi to như thế, mỗi cây lại sinh ra ngót hai trăm quả loại “A” tròn căng, mà mỗi quả cũng bán được gần hai mươi ngàn đồng. Không biết có phải đất Soi Hà dễ tính, hay nơi đây chỉ thích những loài cây có quả tròn to, chứa trong mình những múi căng phồng - như cánh buồm no gió - mà bên trong lớp áo trắng mỏng manh ấy, có hàng ngàn những tép con căng mọng, xếp thành hàng chen chúc. Và mỗi khi chúng được giải thoát, lại vỡ ra những tiếng kêu lách tách, đầy sảng khoái ngọt ngào. Chú nói với chúng tôi:

- Làm vườn xong, chỉ cần vài múi là chả thiết đến cơm!

Mấy đứa tôi vừa thưởng thức vị ngọt thanh của tép bưởi, vừa nghe chú kể về cây bưởi mà gia đình, cùng những người làng xóm đã bao năm vun trồng, chăm bón.

- Đất Soi Hà nhiều loại bưởi, nhưng xuất khẩu sang Vương quốc Anh chỉ có bưởi đường.

Chú nói vẻ bí mật, trong giống bưởi đường, ngon nhất là bưởi đường lá nhăn. Loại này có nguồn gốc từ nhà ông Đỗ Khắc Khoát - là anh trai của chú. Sở dĩ gọi là bưởi đường lá nhăn, bởi trong vườn nhà ông Khoát trồng mấy chục cây bưởi, tự dưng xuất hiện một cây mọc ở ngay đầu nhà. Không hiểu sao hai bên gân lá lại có những nếp gấp, không nhẵn mịn như những cây bưởi khác. Lứa quả bói đầu tiên, bác Khoát và mọi người phát hiện ra, quả của cây này có vị ngon ngọt hơn những quả ở cây khác. Rồi bác Khoát cùng mấy người anh em tự mày mò, chiết, ghép bưởi lá nhăn sang những cây bưởi vườn nhà. Dần dà, những người trồng bưởi ở Soi Hà đã nhân giống ra khắp xã Xuân Vân. Chú Thoả thấy chúng tôi nóng lòng, nên mau chóng dẫn đến nhà người anh - chỉ cách nhà chú một đoạn đường ngắn. Mấy anh em tôi được chú và bác Khoát dẫn ra phía đầu nhà, nơi có cây bưởi gốc. Chú Thoả nhanh tay mở cửa vườn. Trước mắt chúng tôi là cây bưởi “đầu dòng” to cỡ gần người ôm, cao cũng gần chục mét, tán lá xoè ra cũng rộng gần bằng chiều cao. Tôi ngắm cây bưởi “mẹ” có tuổi đời vừa bốn mươi năm.

- Hay ta đổi tên là cây “Biết ơn”, hoặc “Hạnh phúc” được không? Nghe tôi nói vậy, bác Khoát giọng thủng thẳng:

- Cũng phải!

Mấy anh em tôi ríu rít tranh luận xem tên nào xứng đáng hơn. Lúc trò chuyện với vợ chồng bác, chúng tôi biết thêm, những giống bưởi của gia đình bác trồng, được lấy từ quê hương Hoài Đức - mà bác phải cất công về làng - mang lên trồng ở vùng đất mới. Dường như cây cũng biết, quả được sinh ra trong nỗi mong chờ, kỳ vọng của những con người, đã chăm bẵm cây ròng rã suốt mấy năm trời. Nó biết họ thấp thỏm khi thấy, những cánh bướm mỏng tang từ từ khoe nhuỵ. Và họ lấy những sợi tơ mảnh mai, cuốn lấy những hạt bụi phấn hăng nồng của những chàng trai sung sức, rồi khe khẽ se vào từng cuống rốn của các cô nàng đương thì e ấp... Cứ thế, cả một vườn cây rộng rãi được họ cần mẫn gieo vào mỗi nhuỵ, những ước mong trong buổi sớm tinh sương. Và chúng được thành hình trong nắng sớm dịu dàng, trong sương đêm mát lạnh. Rồi niềm vui bừng lên trong bao đôi mắt, khi thấy những cánh hoa đã khoe ra hương sắc rực rỡ nhất của mình. Lúc ấy, cả bãi soi rộng lớn chỉ thấy một màu hoa trắng tinh khôi. Hoa đón gió, chào nắng và dầm mình trong ánh trăng mờ ảo. Khi những cánh trắng đã kiệt cùng sức lực, chúng lũ lượt buông tay trở về với đất. Nhưng, ấy là lúc những quả non ngác ngơ hé nhìn ánh sáng. Chúng rung rinh trong dòng nước mát lành. Chúng no nê uống giọt nước ngọt ngào từ hàng trăm ngàn sợi rễ, của những người vẫn hàng ngày chăm bẵm. Chúng cứ lớn dần, đến khi thân hình đã trở nên vạm vỡ, căng tròn. Và khi lớp áo xanh chuyển sang màu vàng mỡ, đó là lúc chúng phải dời ngôi nhà cây đã sống, để trả ơn cho những người đã nuôi dưỡng nó trưởng thành.

*

Thật ngẫu nhiên, khi tôi đến thăm cụ ông Trịnh Văn May ở thôn Chợ, lại gặp đúng ngày con, cháu đang làm lễ thượng thọ tuổi “Tám mươi” cho cụ bà Lê Thị Huê. Trong buổi lễ đông vui ấy - ngoài những thứ từ rừng - tôi thấy trong mâm cỗ có mấy món ăn lạ mắt mà mình chưa thấy bao giờ. Tò mò quay sang hỏi ông May, ông cười bảo, đây là bánh gấc và ông lấy cho tôi một cái. Quả gấc thì tôi không lạ, nhưng màu sắc và hình dáng như vậy, đúng là tôi chưa được thử lần nào. Ông May chỉ vào cái bát tô và nói:

- Cháo se cháu ạ!

Thấy tôi vẻ chưa hiểu, ông cười và giải thích:

- Món này làng Cao Hạ, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, quê cũ tôi truyền lại.

Thấy vậy, bác Sửu ngồi cạnh, lấy cho tôi nửa bát và hướng dẫn “dùng đũa, không phải thìa”. Vừa tò mò, vừa ngạc nhiên, tôi liền gắp một miếng cháo cho vào miệng vừa nhai thăm dò vừa phán đoán. Bác Sửu tiết lộ, cháo này làm từ gạo tẻ loại ngon, ngâm nước cho mềm, rồi xay thật nhuyễn, vắt hết nước đi chỉ lấy phần bột. Cách làm cháo này giống như làm bánh rán. Nước dùng để nấu cháo, tốt nhất là phần xương hông của con lợn, ninh nhừ. Lâu nhất là việc se bột, phải cho từng ít bột vào lòng bàn tay và se lại thành các sợi bằng đầu đũa. Se đến đâu phải thả ngay vào nồi nước dùng đang sôi. Phải mấy người cùng làm thì bột mới chín đều, khuấy nhẹ để không dính. Cháo ngon nhất là nấu bằng nồi gang, bếp củi, lửa cháy vừa để không bị bén nồi. Thấy tôi ăn ngon lành, bác Sửu gọi thêm cho tôi bát nữa, rồi bảo:

- Cháo này chỉ dịp lễ mừng thọ mới làm.

Trong lúc ăn, tôi được nghe ông May kể lại, đầu năm một nghìn chín trăm sáu mươi, ông cùng những người làng dời quê hương đi khai hoang những vùng đất mới. Ô tô đưa đến bến xe khách Tuyên Quang, rồi nghỉ qua đêm ở đó. Sáng hôm sau, cả đoàn gồng gánh nhau ngược lên xã Xuân Vân. Trong câu chuyện của ông May, tôi cố tưởng tượng ra đoàn người đã cùng nhau vượt sông qua sông Lô, rồi đi bộ theo con đường bé nhỏ, lạ lẫm, ngoằn ngoèo dọc theo bờ sông Gâm, lên xây dựng quê hương mới của mình - mà con đường ấy bây giờ là quốc lộ 2C nhẵn nhụi, nhưng vẫn còn nhiều những khúc cua cong queo, vặn vẹo. “Sẩm tối thì đoàn đến nơi, đường xa ai cũng mệt rũ người”, ông May vẫn nhớ đến từng chi tiết. Sau này sông Gâm trở thành con đường huyết mạch, nối Xuân Vân lên ngược, về xuôi. Hễ ai có hàng hoá chỉ mang ra bến sông để bán, bất kể giờ nào. Những chiếc thuyền thu mua hàng hoá luôn chờ sẵn dưới bờ sông, từ lúc chập tối đến gà gáy sáng. Bác Sửu bồi hồi nhớ lại:

- Bến sông ngày ấy tối om, chỉ vài ánh đèn pin lấp loáng gần bờ, chiếu ra ngoài thì bị sông nuốt chửng. Không biết người lái thuyền có bí quyết gì, nhưng hiếm thấy bị đâm vào đá. Tài tình thật.

Những ngày sau đó, đoàn của ông May đi đò sang bên kia sông Gâm. Lúc bấy giờ thôn Vân Giang là rừng rậm, chỉ toàn vầu, nứa và lau sậy. Rồi Uỷ ban hành chính xã có lệnh cho các hộ phát rừng, trồng mía. “Vân Giang” là tên ghép của xã Đức Giang - quê ông - và tên xã Xuân Vân. Sau này, những người quê ở huyện Hoài Đức lên Xuân Vân khai hoang, hầu như ai cũng sống ở thôn Vân Giang để lập nghiệp. Cũng không phải ngẫu nhiên, những món ăn bình dị như bánh, bún, miến, đậu từ quê hương Hoài Đức, đã trở thành đặc sản, nổi tiếng khắp cả vùng miền núi, trên quê hương mới. Rồi bác Sửu ngâm nga câu dân ca dường như đã trở thành quen thuộc “muốn ăn bánh dợm, bánh gai/lấy chồng kiếm vợ làng chài Vân Giang”. Thật hữu duyên khi trong bữa cơm hôm ấy, tôi còn gặp các bác quê ở miền xuôi lên đây khai hoang, mở đất. Hội đồng hương Nam Định, Ninh Bình từ đó mà ra đời trên đất Xuân Vân. Dù cuộc sống bây giờ có nhiều thay đổi, nhưng mỗi khi hội đồng hương họp, mọi người lại ngồi với nhau, ôn lại những câu chuyện của hơn sáu mươi năm về trước.

Tối hôm ấy, sân Nhà văn hoá xã có buổi biểu diễn văn nghệ. Những tiết mục dân ca quan họ, tiếng hát then của người Tày, điệu múa của người Dao…, do các chị, các anh và cả những em nhỏ ở các thôn Sơn Hạ, Vông Vàng, Đồng Tày, Lương Trung, Éo, Chợ… tự dàn dựng và biểu diễn trong không gian vui tươi, say đắm. Xuân Vân là vùng đất xinh tươi với những tấm lòng chân tình, ấm áp. Không phải ngẫu nhiên những cây bưởi, hay hoa trái ở đây lại cho quả ngọt bùi. Cũng không hẳn là ân tình của phù sa màu mỡ, được hai con sông ngàn năm bồi đắp, mà còn là biết bao công sức, của bao nhiêu thế hệ con người từ xa xưa gây dựng. Xuân Vân nay đã thay da, đổi thịt, nhưng tình yêu của những con người đã gắn chặt với đất, với rừng núi, với sông suối, bãi bờ…, không bao giờ thay đổi. Mùa quả chín không chỉ là mùa thu hoạch, mà còn là niềm đam mê của những người đang dựng xây cho quê hương đổi mới.

L.T

Tin tức khác