Bút ký của Huyền Trang

Nhân kỷ niệm 80 năm thành lập Quốc hội Việt Nam (6/1/1946 -6/1/2026), nhìn lại dòng chảy lịch sử trên miền đá của Tuyên Quang, có thể thấy rõ một điều: chính sách không hiện hình bằng câu chữ mà bằng những con đường mở ra giữa núi đá, những lớp học sáng đèn trong sương hay những con người tự tin bước ra khỏi bản làng, cất lên tiếng nói cho cộng đồng mình... Tám mươi năm - một hành trình bền bỉ vun trồng cho những mùa hoa nở.
Tân Trào - nơi khởi nguồn của niềm tin
Mùa thu năm 1945, tại Tân Trào, tinh thần của Quốc dân Đại hội đã đặt nền móng cho một khát vọng lớn: mọi dân tộc trong đất nước Việt Nam đều bình đẳng, đoàn kết, cùng chung vận mệnh trong một quốc gia độc lập. Tư tưởng ấy được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - với lời khẳng định giản dị mà sâu sắc: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể Nhân dân, không phân biệt nòi giống, giai cấp, tôn giáo”.
Từ đó, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong mọi chính sách của Quốc hội qua các thời kỳ. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 không chỉ khai sinh Quốc hội khóa I mà còn mở ra cánh cửa lịch sử để đồng bào các dân tộc thiểu số chính thức bước vào đời sống chính trị của đất nước, với tư cách người làm chủ.
Chính sách dân tộc - “lửa thử vàng” trong những ngày gian khó
Trong những năm đầu dựng nước và suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dù phải đối mặt với muôn vàn thử thách, Quốc hội chưa bao giờ sao nhãng chính sách dân tộc. Đó không chỉ là sự quan tâm, động viên dành cho đồng bào, mà còn là một chiến lược quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh nền tảng cho thắng lợi của cách mạng.
Ngay từ giai đoạn đầu, chính sách dân tộc đã tập trung vận động đồng bào vùng cao đi theo Đảng, tham gia kháng chiến. Tám mươi năm trôi qua, khi trở lại Cao nguyên đá hôm nay, người ta vẫn được nghe bà con kể lại câu chuyện về “Vua Mèo” và Bác Hồ - những câu chuyện được truyền bằng ký ức dân gian hơn là bằng trang sử. Có thể nhiều chi tiết lịch sử không còn được nhớ trọn vẹn, nhưng điều chưa bao giờ phai nhạt trong tâm thức người Mông là việc “Vua Mèo” đã trở thành Đại biểu Quốc hội khóa I của tỉnh Hà Giang. Ký ức ấy như một mốc son, khắc sâu lựa chọn lịch sử của cả vùng Cao nguyên đá: lựa chọn đi theo Đảng, theo Bác Hồ - con đường mà đồng bào đã tin tưởng, gắn bó và thủy chung cho đến tận hôm nay và mai sau.
“Vua Mèo” Vương Chí Sình được giao giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban Hành chính huyện Đồng Văn. Điều này đã mở ra một phương pháp cách mạng khác cho miền Cao nguyên đá - phương pháp hòa hợp và chuyển hóa, thay vì đối đầu và đổ máu. Nhờ vậy, vùng đất khắc nghiệt này không phải trải qua những cuộc đấu tranh giành chính quyền ác liệt như ở nhiều địa phương khác. Chính phủ chọn cách thừa nhận chính quyền thổ ty phong kiến để từng bước cảm hóa, cải tạo, chuyển đổi thành chính quyền dân chủ nhân dân - một quyết sách linh hoạt, thấm đẫm tinh thần nhân văn và rất riêng trong dòng chảy cách mạng Việt Nam.
Trong gần một thập kỷ, từ năm 1946 đến 1954, Đồng Văn giữ được sự yên ổn hiếm có giữa những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa. Cao nguyên đá không trở thành chiến địa, không bị cuốn vào vòng xoáy can thiệp của thực dân Pháp hay quân Tưởng, trong khi ở nhiều nơi khác, phong trào cách mạng đang phải vượt qua muôn vàn thử thách. Và cũng chính trong khoảng lặng lịch sử ấy, niềm tin được gieo mầm, sự gắn bó giữa chính quyền cách mạng và đồng bào các dân tộc được bồi đắp, tạo nên nền tảng vững chắc để Cao nguyên đá bước vào những chặng đường phát triển tiếp theo.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc bước vào một chặng đường mới - chặng đường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội. Năm 1956, Quốc hội khóa I đã quyết nghị thành lập Khu tự trị Việt Bắc, gồm sáu tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang. Không chỉ là một quyết định hành chính, đó là dấu mốc thể chế hóa mạnh mẽ quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc thiểu số - lần đầu tiên, vùng cao được đặt trong cấu trúc quyền lực của Nhà nước non trẻ. Cùng với đó, cuộc cải cách dân chủ ở miền núi được triển khai, tạo nên những chuyển động âm thầm mà sâu sắc, từng bước làm thay đổi đời sống, nếp nghĩ và quan hệ xã hội nơi rẻo cao.
Ba năm sau, năm 1959, những nhát cuốc đầu tiên mở đường lên Cao nguyên đá Đồng Văn vang lên giữa đại ngàn. Sáu năm ròng rã, hơn 1.300 thanh niên xung phong từ các tỉnh Việt Bắc, cùng hai tỉnh Vĩnh Phú, Nam Định và đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng, Lô Lô… đã cùng nhau “xẻ núi, bạt đèo”, lấy mồ hôi và máu thịt làm nên con đường xuyên qua đá núi. Khi con đường hoàn thành vào năm 1965, Bác Hồ đã đặt cho nó một cái tên giản dị mà thiêng liêng: Con đường Hạnh Phúc. Con đường ấy không chỉ phá đá, mà còn phá vỡ thế cô lập kéo dài hàng trăm năm của Cao nguyên đá; không chỉ nối những bản làng cheo leo, mà còn nối những tấm lòng, trở thành biểu tượng rực sáng cho tinh thần đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc trên miền biên viễn.
Năm nay đã bước sang tuổi thứ một trăm, ông Kim Xuyến Lượng - nguyên Ủy viên Ủy ban Hành chính Khu tự trị Việt Bắc, Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang khóa II, III, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tuyên - vẫn còn minh mẫn khi nhắc lại những năm tháng đầy gian khó của vùng cao. Ông khẳng định, nếu những chính sách dân tộc của Quốc hội khi ấy không kịp thời đến được với đồng bào thì hành trình thống nhất đất nước hẳn sẽ còn gập ghềnh hơn rất nhiều.
Trong dòng hồi ức chậm rãi, ông kể về một thời mà sự chia rẽ luôn âm ỉ, có khi bùng cháy dữ dội trong đời sống cộng đồng. Người Kinh bị gọi là “kha lương” - nghĩa là “không thật thà”. Giữa các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao… sự nghi kỵ vẫn tồn tại, đến mức trai gái yêu nhau khác dân tộc không được phép lấy nhau. Có lúc, vì bị kẻ xấu kích động, những mâu thuẫn bị đẩy lên thành xung đột, nhà cửa bị đốt phá, anh em các dân tộc quay lưng với nhau trong đau đớn và mất mát. “Sự ra đời của Khu tự trị Việt Bắc đã mở ra một lối thoát cho những mâu thuẫn chồng chất ấy. Chúng tôi đã họp các dân tộc lại để nói hết những mâu thuẫn, những đau khổ. Sau khi hiểu rõ, nhiều dân tộc, nhiều anh em còn ôm nhau khóc!”, ông Kim Xuyến Lượng bồi hồi nhớ lại.
Những năm tháng gian khó ấy chính là “lửa thử vàng”, khẳng định tính đúng đắn và nhân văn của chính sách dân tộc do Quốc hội Việt Nam hoạch định và triển khai. Chính sách ấy không chỉ hàn gắn những rạn nứt trong cộng đồng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, mà còn tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp cách mạng Việt Nam vượt qua những thời khắc cam go nhất để đi tới thắng lợi cuối cùng. Quan trọng hơn, đó còn là nền móng vững bền để vùng cao bước vào thời kỳ kiến thiết sau chiến tranh, mang theo niềm tin vững bền vào một tương lai chung, nơi các dân tộc sống trong hòa bình, tôn trọng, sẻ chia và cùng nhau phát triển.
Không ai bị bỏ lại phía sau trong “ngôi nhà chung” - Tổ quốc
Sau ngày đất nước thống nhất, những chính sách của Quốc hội hướng thẳng tới trái tim của miền núi - ổn định đời sống, định canh định cư, phát triển sản xuất, mở rộng mạng lưới trường dân tộc nội trú. Những bản làng từng du canh du cư nay dần có mái nhà kiên cố, con em được cắp sách đến trường, những cán bộ trưởng thành từ chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình, mang theo niềm tin và trách nhiệm trở về phục vụ cộng đồng.
Từ công cuộc đổi mới năm 1986, các chủ trương lớn của Đảng được Quốc hội thể chế hóa thành những chương trình mang hơi ấm của sự sẻ chia: Chương trình 134 hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt; Chương trình 135 phát triển hạ tầng, nâng cao đời sống vùng đặc biệt khó khăn và Nghị quyết 30a - tạo đột phá trong giảm nghèo bền vững ở các huyện nghèo… Ở Hà Giang, những chương trình, nghị quyết ấy tiếp tục được cụ thể hóa bằng những cái tên giản dị mà thấm sâu vào đời sống như “mái nhà - bể nước - con bò”, trường học hai tầng, trạm y tế hai tầng, những con đường về xã…
Ông Triệu Đức Thanh - Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tuyên khóa VII, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang tâm đắc chia sẻ: “Các nghị quyết của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân tỉnh đều bám chặt với chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và được cụ thể hóa thành những chương trình mang dấu ấn đặc trưng của địa phương. Tôi đánh giá rất cao chương trình “Mái nhà, bể nước, con bò”. Sau khi được triển khai, hầu hết các gia đình ở vùng cao Hà Giang đều có một mái nhà mới kiên cố hơn, có con bò làm sinh kế và đặc biệt là giải quyết được phần nào tình trạng thiếu nước ở vùng cao. Tại sao hay nói đồng bào là “lâu không tắm”, vì có nước đâu mà tắm! Khi có bể trữ để dẫn nước từ nguồn hoặc hồ treo về, đồng bào tích được nước mà giặt giũ, sinh hoạt, không còn thiếu thốn như trước nữa”.
Chính sách dân tộc - động lực cho sự phát triển bền vững
Bước sang giai đoạn hội nhập, chính sách dân tộc mang một tầm nhìn dài hạn hơn, hướng tới phát triển bền vững và trao quyền cho cộng đồng. Năm 2019, Quốc hội khóa XIV ban hành Nghị quyết số 88 - một dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên chính sách dân tộc được quyết định theo Hiến pháp. Trên nền tảng đó, Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ra đời, cùng với hai chương trình về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững tạo thành bộ ba trụ cột chiến lược của quốc gia, thể hiện tầm nhìn và trách nhiệm của Quốc hội đối với sự phát triển công bằng, toàn diện của đất nước.
Tỉnh Tuyên Quang, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 70% với khoảng 1,25 triệu người, trở thành bức tranh sống động của quá trình đó. Khi làn sóng toàn cầu hóa, chuyển đổi số và những cơ hội hội nhập vươn tới từng bản làng, việc phát huy tiềm năng, gìn giữ bản sắc, khai thác sức mạnh nội sinh của các dân tộc trở thành điều kiện tiên quyết để mảnh đất miền núi này không chỉ phát triển mà còn đứng vững, vươn mình trong dòng chảy đổi thay của thời đại.
Đã có một thời, trong những bản làng người Pà Thẻn, khung cửi lặng im như một kỷ niệm ngủ quên. Tiếng kẽo kẹt từng gắn bó với đời sống người phụ nữ chỉ còn vang vọng trong ký ức, mỏng manh như làn khói bếp cuối chiều. Người Pà Thẻn - một trong những dân tộc rất ít người, quần tụ ở vài xã miền núi tỉnh Tuyên Quang - vốn sở hữu một kho tàng văn hóa lấp lánh những giá trị riêng biệt. Thế nhưng, có lúc những “viên ngọc” ấy đã mờ đi, đứng trước nguy cơ tắt lịm nếu không được nâng đỡ kịp thời bằng những chính sách đúng đắn và nhân văn.
Năm 2022, Dự án 6 - “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” trong Chương trình mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được triển khai đã thổi một luồng sinh khí mới đến với cộng đồng Pà Thẻn. Như mạch nước ngầm gặp ngày khai lộ, hàng loạt hoạt động phục dựng lễ hội, sưu tầm tri thức dân gian, dạy tiếng mẹ đẻ, truyền dạy nghi lễ nhảy lửa, hát giao duyên, thêu dệt thổ cẩm… đồng loạt được khởi động. Trong đó, nghề dệt thổ cẩm truyền thống hồi sinh mạnh mẽ - không chỉ trở lại như một ký ức văn hóa, mà còn trở thành sinh kế, niềm tự hào mới của người Pà Thẻn.
Từ những khung cửi đặt giữa gian nhà gỗ mộc mạc, năm 2025, thông qua sự kết nối của Tổ chức phi chính phủ Good Neighbors International, Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tân Bắc (xã Tân Trịnh, tỉnh Tuyên Quang) đã xuất khẩu 1.000 sản phẩm đầu tiên sang Hàn Quốc. Một cánh cửa hội nhập được mở ra - từ chính đôi bàn tay người phụ nữ trên khung cửi quê mình. Cầm trên tay con thú nhồi bông làm bằng vải thổ cẩm của người Pà Thẻn - một sản phẩm nằm trong đơn hàng xuất khẩu, chị Tải Thị Mai, Giám đốc HTX Dệt thổ cẩm Tân Bắc hồ hởi chia sẻ: “Hợp tác xã rất cảm ơn Đảng ủy, HĐND và các cấp chính quyền đã quan tâm tạo điều kiện cho HTX phát triển. Hiện nay chúng tôi vừa bảo tồn được các giá trị văn hóa, vừa có sản phẩm vươn ra thị trường quốc tế, đem lại thu nhập cho chị em”. Chị Phù Thị Hương - người dân tộc Pà Thẻn, Đại biểu HĐND khóa VI tỉnh Tuyên Quang nhận định: “Chìa khóa để có sự đổi thay đến với cộng đồng người Pà Thẻn chính là sự kết hợp giữa chính sách với ý chí vươn lên của đồng bào. Khi chính sách tiếp sức thì đồng bào đồng lòng, tự tin. Họ đã mạnh dạn sáng tạo, nắm cơ hội, làm chủ công nghệ số, quảng bá sản phẩm trên các trang mạng và sàn thương mại điện tử cũng như tận dụng tốt sự trợ giúp của các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước để đưa sản phẩm của mình đi xa hơn”.
Các chủ trương, chính sách dân tộc không chỉ giúp đồng bào xóa đói giảm nghèo mà còn giúp phụ nữ - nhóm người yếu thế trong xã hội vươn lên làm chủ cuộc sống, tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội và quay trở lại giúp đỡ chính cộng đồng mình phát triển. Trong bản làng của người Pà Thẻn hôm nay, những người phụ nữ không chỉ viết câu chuyện hội nhập từ bản sắc mà còn đại diện cho cộng đồng mình cất tiếng nói ở nghị trường. Đó là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của chính sách dân tộc trong giai đoạn mới -hướng đến trao quyền, khơi dậy nội lực và tạo cơ hội để người dân vùng cao làm chủ sự phát triển. Chị Phù Thị Hương tự tin chia sẻ: “Tôi rất vinh dự và tự hào khi trở thành Đại biểu HĐND tỉnh. Mỗi khi đến nghị trường, tôi mang trong mình trách nhiệm, bản sắc văn hóa dân tộc, và đặc biệt là tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng người Pà Thẻn. Tôi coi mỗi kỳ họp, mỗi buổi thảo luận, chất vấn là cơ hội để người Đại biểu chuyển tải đến các cấp lãnh đạo những tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng Pà Thẻn nói riêng, các dân tộc thiểu số nói chung. Đó cũng là động lực thôi thúc tôi phải cố gắng làm tròn trách nhiệm của người Đại biểu HĐND, Đại biểu của dân và Đại biểu của bản làng”.
Ở một không gian khác của miền núi Tuyên Quang, thôn Lùng Hẩu (xã Lùng Tám) - nơi 100% cư dân là người Mông và 100% hộ nghèo - cũng đang chứng kiến một hành trình đổi thay đầy hy vọng. Từ một bản làng heo hút, Lùng Hẩu đang được kiến tạo thành Làng Văn hóa du lịch cộng đồng. Khi một doanh nghiệp du lịch ngỏ ý muốn đầu tư, HĐND xã Lùng Tám đã thông qua các chính sách tập trung nguồn lực để hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trong đó chú trọng vào đường giao thông và kiến trúc nhà ở - như một bàn tay nâng đỡ giấc mơ mới cho đồng bào. Đồng chí Hà Văn Chung - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Lùng Tám cho biết: “HĐND xã đã ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn. Trên cơ sở đó, địa phương lồng ghép, huy động các nguồn lực từ Chương trình xây dựng nông thôn mới để đầu tư, hoàn thiện hệ thống đường giao thông nội thôn, đồng thời sử dụng nguồn vốn hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát để giúp người dân cải tạo, chỉnh trang nhà ở, từng bước hình thành các mô hình homestay phù hợp với quy hoạch Làng Văn hóa du lịch cộng đồng”. Ông Lại Quốc Tĩnh - nhà đầu tư trong lĩnh vực du lịch rất tin tưởng Lùng Hẩu có thể trở thành một ngôi làng du lịch mang bản sắc riêng: “Với sự hợp tác của “ba nhà” - Nhà nước, nhà đầu tư và nhà dân, trong vòng 2 - 3 năm nữa, Tuyên Quang sẽ có thêm một làng văn hóa du lịch cộng đồng đặc sắc, một điểm đến hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế”.
Chính quyền lo hạ tầng, doanh nghiệp đồng hành phát triển du lịch, còn người dân là chủ thể tham gia - sự phối hợp ấy đang mở ra một hướng đi mới cho Lùng Hẩu - một làng du lịch cộng đồng xanh, bền vững giữa đại ngàn. Chính quyền và nhà đầu tư tiếp tục kêu gọi tổ chức Helvetas - một tổ chức phi chính phủ của Thụy Sĩ - tham gia tư vấn, đào tạo kỹ năng làm du lịch sinh thái cho người dân. Ông Ma Mí Giáo - người dân thôn Lùng Hẩu chia sẻ: “Tôi tin rằng làng của mình sẽ được nhiều du khách ghé thăm, như làng Nặm Đăm hay Lô Lô Chải. Thôn chúng tôi sẽ thoát nghèo và mỗi người dân đều có thể kiếm sống, tiến tới làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mà không phải đi làm ăn xa nữa”.
Bà Lý Thị Lan - Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Khóa XV tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh: “Người dân luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chính sách của Quốc hội. Hiện nay ba chương trình Mục tiêu Quốc gia đã được thống nhất cần tích hợp thành một chương trình chung. Điều này sẽ tạo sức mạnh tổng thể, đầu tư nguồn lực tập trung để triển khai hiệu quả ở cơ sở. Bên cạnh đó, các các nghị quyết mới như Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết 72 về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân và các nghị quyết, chương trình về mục tiêu văn hóa cũng đang được triển khai. Những chủ trương, chính sách này sẽ tiếp tục khơi dậy nội lực, tạo động lực để đồng bào các dân tộc vươn lên phát triển bền vững trong giai đoạn mới của đất nước”.
Từ nghị trường - nơi những chính sách dân tộc được định hình, đến bản làng - nơi cuộc sống đang đổi thay, phát triển từng ngày là hành trình 80 năm của niềm tin và khát vọng. Ở nơi đá nở hoa, những quyết sách đúng đắn đã thực sự đi vào cuộc sống, mang lại cơ hội để người dân vươn lên, gìn giữ bản sắc và dựng xây tương lai. Chính trong sự gắn kết giữa ý Đảng, lòng Dân, giữa nghị trường và cuộc sống, dấu ấn của chính sách dân tộc càng trở nên sâu đậm - như mạch nguồn bền bỉ chảy qua từng mùa đá, thắp sáng niềm tin và khát vọng phát triển trên miền biên cương Tổ quốc.
H.T
09-02-2026
09-02-2026
09-02-2026




