Họa sĩ Văn Làn - Một miền hội họa bình yên

Thứ tư, ngày 23-04-2025, 10:13| 3.186 lượt xem

Giang Lam

 

                                                         

 

                                                                 

                                        

 

 

 

 

 

 

“Vẽ, vẽ và... vẽ” là ba từ mà nhiều văn nghệ sĩ nhắc đến cố họa sĩ Văn Làn. Điều khiến người đối diện cảm nhận ở ông đó là luôn toát lên khát khao về hội họa, khát khao được sáng tác và thể hiện mình qua nét bút, mảng màu. Sự khát khao đó dễ dàng nhận ra khi ông có thể vẽ trên mọi thứ có sẵn mà không cầu kỳ về chất liệu. Sang thì bột màu, thuốc nước, mực nho, không thì bút chì, bút sắt trên mảnh bìa, giấy báo hay trang vở học trò, miễn sao có thể thỏa mãn niềm đam mê.

 

Cháy bỏng đam mê

Họa sĩ Văn Làn tên thật là Đặng Văn Làn vốn rất vui tính, hiền từ, đạo đức và luôn thủy chung cần mẫn với nghề nghiệp. Ông sinh năm 1928 tại xã Điềm Xá, huyện Tiên Lữ , tỉnh Hưng Yên. Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, Văn Làn đi tham gia cách mạng rất sớm. Ông học trường thiếu sinh quân rồi phục vụ quân đội suốt thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm tháng hoạt động trong quân đội ông may mắn được sống và tiếp xúc với các nghệ sĩ lớn như Phạm Văn Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Sáng, nhà văn Nguyễn Tuân, Nam Cao... Dường như đó là ngọn gió tưới mát và nhen nhóm khát vọng nghệ thuật trong chàng lính trẻ năm ấy.

Năm tháng còn trong quân ngũ, Văn Làn quen biết và kết duyên với cô gái quê quan họ Bắc Ninh. Sau đó, ông phục viên và đưa vợ về Tuyên Quang sinh sống. Ông lấy Tuyên Quang là quê hương thứ hai của mình. Môi trường công tác với năng khiếu bẩm sinh đã dẫn chỉ ông đến với hội họa và dường như cả đời ông cũng chỉ làm có một việc duy nhất là vẽ. Ông vẽ say sưa như chính tình cảm, tấm lòng, trái tim ông với nghề, với quê hương đất nước.

Đồng nghiệp và người thân luôn yêu quý ông bởi cái sự chăm chỉ, hiền hậu, hay lam hay làm, không nề hà việc gì, từ việc nhà đến việc cơ quan. Thế nên có lúc người ta nghĩ ông là những người nông dân thực thụ với cái nón mê bẹp rúm ró trên đầu, lúc xới đất trồng rau, lúc lại bận rộn với những luống hoa. Và có lúc người ta thấy ông xuất hiện trên các trục đường thị xã vẽ từng cụm pa nô, áp phích, tranh cổ động.

Ngày đó người dân thị xã Tuyên Quang yêu thích tranh cổ động của Văn Làn bởi sự gần gũi, dễ hiểu, tác động trực tiếp vào thị giác của người xem. Đồ nghề mang theo người họa sĩ ấy là một tay cắp cái thang, một tay xách cái xô đựng đầy bột màu và bút vẽ. Tất cả các tác phẩm đều được vẽ một cách chỉn chu, cẩn trọng nhất.

Thế nhưng khoảng thời gian yêu thích nhất của ông có lẽ là được một mình trong góc riêng, thế giới riêng, trở về với chính mình, tĩnh lặng hòa vào xúc cảm và sắc màu tạo nên những tác phẩm nghệ thuật. Khiêm nhường, nhưng trong hội họa, họa sĩ Văn Làn lại khác hẳn. Ông bộc lộ mình, một cách thận trọng nhưng cũng không kém phần táo bạo. Những nét vẽ của ông, khỏe khoắn, dạt dào cảm xúc, khiến cho người xem không ngừng bị lôi cuốn vào cái thế giới đang hiển hiện đầy bí ẩn và cũng đầy hứa hẹn. Ông vẽ một cách đắn đo và sâu sắc, đắm đuối với những mảng màu sáng tối cùng tình yêu hội họa vẹn nguyên qua năm tháng. Tranh của ông có sự kết hợp giữa nét và mảng, giữa hình cách điệu mang tính triết lý, duy lý mà vẫn bay bổng, tinh tế.

 

Đi bừa. Tranh bột màu của Văn Làn

 

Sức gợi từ tranh bột màu

Màu bột là loại chất liệu được điều chế từ khoáng thạch, từ quặng kim loại hoặc từ hợp chất hóa học. Cái khó khi sử dụng chất liệu bột màu là để diễn hình, diễn màu, phải biết dự báo được thời điểm nào khô sao cho đúng độ từ đó đưa ra cách phối màu, hình khối sao cho hợp lý. Với kỹ thuật tốt, họa sĩ Văn Làn đã tận dụng được thế mạnh của bột màu là tính xốp nhẹ, trong trẻo, khỏe khoắn để những bức tranh có nhiều sự nhấn nhá, ước lệ, gợi suy tưởng cho người xem. Tranh bột màu của Văn Làn không chỉ là sở trường mà đã trở thành một thương hiệu.

Giống như hành trình cuộc đời mình, tranh của cố họa sĩ Văn Làn cũng theo bước chân ông vẽ về quê hương, đất nước. Những bức tranh của ông gợi nhiều hoài niệm, ký ức, tình cảm, chuyển động cuộc sống thường nhật. Cái nhìn của họa sĩ về cảnh vật, sự vật thật hiền hòa, dễ thương. Trong đó tác phẩm “Đi bừa” mang đến thành công trong sự nghiệp sáng tác của cố họa sĩ. Tranh được trưng bày triển lãm tại Bắc Kinh năm 1966, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Tranh phong cảnh của Văn Làn dạt dào, mướt mát luôn hiển hiện một sự chuyển động nhẹ nhàng, an yên. Đến với tác phẩm “Đi bừa” ta cảm nhận được tâm hồn ông hiền hòa, yêu quê hương đến vô cùng. Bố cục bức tranh giản đơn tái hiện phong cảnh nhộn nhịp trên cánh đồng: Người nông dân cần mẫn làm ruộng, đi bừa để chuẩn bị gieo cấy. Chỉ một góc nhỏ thửa ruộng thôi nhưng mang đến cho người đọc một không gian hội họa khoáng rộng. Màu vẽ ông dùng thành những mảng miếng chứ không tỉa tót theo từng tiểu tiết nhằm đạt tới thể hiện cái hồn của cảnh vật, cái tình của người vẽ chứ không mô phỏng hiện thực một cách khô cứng. Đó chính là điều làm nên sự khác biệt trong tranh Văn Làn.

Năm 1973 ông ghi dấu ấn với tác phẩm màu nước là “Phố huyện Chiêm Hóa”. Họa sĩ Mai Hùng nhận định, vẫn là lối vẽ trực họa nhưng trực họa hiện thực trong tranh ông không phải là thứ hiện thực khô khan, khi vẽ tuy tuân thủ các quy tắc tạo hình của trường quy nhưng vẫn không kém phần uyển chuyển, lãng mạn.

Tranh phong cảnh của Văn Làn dạt dào, mướt mát, tĩnh lặng đến đắm đuối, luôn hiển hiện một sự chuyển động nhẹ nhàng. Ngay cả trong những bức vẽ không người nhưng vẫn có cảm giác có sự chuyển động trong đó, mặc dù khẽ khàng thôi, nhưng luôn có. Những lùm cây gợi sự chuyển động của gió, bờ ao dù chỉ được vẽ bằng vài nét bút đơn sơ vẫn gợi sự chuyển động của mặt nước…

“Mưa bông Xín Mần”, bột màu năm 1977, một tác phẩm với hòa sắc tím lam vẽ về chiều đông phố núi với con phố cũ mờ trong những bông tuyết, thấp thoáng dáng người liêu xiêu đầy chất thơ đã chứng minh điều đó. Tác phẩm “Mưa bông Xín Mần” đã có cách nhìn thoát hẳn những tác phẩm trực họa trước đây của họa sĩ. Các tác phẩm của ông thời kỳ sau này đã trở nên bay bổng hơn, đưa ông đến với những giấc mơ về màu sắc. Người yêu hội họa nhận thấy, từ đây ông bắt đầu từ những giấc mơ nhỏ bé bình dị như mơ về ngôi nhà nhỏ ở bản vùng cao có điện thắp sáng, mơ về cuộc sống thanh bình mà mỗi ngày đều như một ngày hội, mơ về cuộc sống hạnh phúc. Ông vẽ nhiều về đám cưới, đám cưới của dân bản, đám cưới của anh bộ đội biên phòng với cô gái Mông. Nhân vật trong tranh ông thời kỳ này thường có đôi mắt mở to, đôn hậu, mang vóc dáng khỏe mạnh của người miền núi, được diễn tả bằng bút pháp phóng khoáng, với những nét đen khỏe khoắn, mạch lạc, những mảng màu tươi nguyên. Các tác phẩm tiêu biểu như: “Xuống chợ”, “Chiều Xoi Châu”, “Hái đào”, “Đám cưới”, “Anh bộ đội”, “Gùi ngô về bản”, “Trồng hoa”, “Điện về bản”, “Điện sáng quê nhà”...

Có thể nhận thấy các tác phẩm của ông sau này càng về cuối đời càng trở nên hồn nhiên, tươi tắn, trong sáng một cách lạ thường. Bằng tạo hình chân thật, sắc màu trong trẻo, những bức tranh lung linh gây nhiều cảm xúc về cái đẹp giản dị, tinh tế. Họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật Bùi Như Hương viết trên Tạp chí Mỹ thuật số 5/2002: “Không rõ từ khi nào và lý do tại sao ông lại lập nghiệp ở Tuyên Quang và gắn bó với nơi này đến vậy, mãi đến năm 1994 ông mới trở thành hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và hội họa của ông mãi sẽ còn là điều bí ẩn với nhiều người”.

G.L

Tin tức khác