Dưới bóng đa Tân Trào

Thứ tư, ngày 17-05-2023, 09:58| 6.718 lượt xem

Trần Thị Nhung

 

Bên di tích. Ảnh của Mạnh cường

 

Tôi không sinh ra ở Tuyên, nhưng với tôi Tuyên gần gũi thân thương như máu thịt. Gần hai mươi năm gắn bó với mảnh đất này, có lúc tôi ngỡ như đây chính là quê hương mình vậy, dù đi đâu làm gì hễ ai sướng lên cái tên Tuyên Quang là lòng tôi rộn lên như chuyện nhà mình, tôi lẫn vào Tuyên trong muôn vàn buồn vui mưu sinh của đời và trở thành con dân Tuyên như cái lẽ vốn sẽ vậy. Chỗ tôi dừng chân là một thị trấn nhỏ, có con sông Phó Đáy quanh năm êm đềm chảy, nơi phong cảnh hữu tình "Thuyền về, trời đã rạng đông/Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi" trong bài thơ "đi thuyền trên sông Đáy" của Chủ tịch

Hồ Chí Minh mà người Tuyên Quang vẫn đỗi tự hào.

Thật vậy, ai về Tuyên mà không tha thiết một lần tới viếng thăm lán Nà Nưa, cây đa Tân Trào, mái Đình Hồng Thái để tỏ lòng tri ân dâng hương tưởng nhớ vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. "Thủ đô Khu Giải phóng, Thủ đô Kháng chiến", nơi đặt trụ sở làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội và nhiều bộ, ban, ngành Trung ương, cũng là nơi ghi dấu nhiều kỷ niệm trong cuộc đời hoạt động cách mạng của vị tướng tài Võ Nguyên Giáp.

Tân Trào là một xã thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt, cái nôi của cuộc cách mạng (1945) cùng cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) thành công vang dội chấn động địa cầu, đánh dấu bước ngoặt cho vận mệnh đất nước. Những cuộc hành trình về nguồn của người con Việt luôn ngập tràn xúc động lòng biết ơn vô hạn, nghĩa cử "Uống nước nhớ nguồn" đẹp đẽ bao đời vẫn luôn phát huy và gìn giữ.

Điềm nhiên nằm giữa đại ngàn, căn lán lá nhỏ đơn sơ được bao phủ bởi lớp lớp bụi nứa đan xen, tạo nên một lớp ngụy trang tuyệt vời an toàn trước tai mắt của kẻ thù khi Bác của chúng ta làm việc năm xưa. Những đoàn khách viếng thăm cứ im phăng phắc trước lời kể của hướng dẫn viên, những câu chuyện về Bác từ những ngày đầu sau khi rời Pác Bó (Cao Bằng) Bác đã dừng chân tại Tân Trào, Sơn Dương nơi mảnh đất linh địa nhân hòa này để làm trung tâm liên lạc giữa các miền xuôi, ngược, ra nước ngoài, thuận lợi cho việc phòng thủ và tiến công đều tốt. Không thể tưởng tượng được suốt ba tháng ròng ở lán Nà Nưa, điều kiện kham khổ, thức ăn của Bác chỉ có măng rừng chấm muối đạm bạc mà việc nước việc quân thì cấp bách, khẩn trương. Ăn uống thiếu chất mà làm việc quá sức Bác đã phải trải qua một đợt ốm rất nặng, những tưởng Người không qua khỏi, ấy vậy mà Người đã vượt qua, trong cơn sốt mê man Bác vẫn không ngừng nghĩ cho vận Nước, ngay khi tỉnh lại Bác liền nói: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, lời của Bác như một sức mạnh truyền đi khắp nơi, trăm người như một, sự đoàn kết đồng lòng tạo nên một ý chí sắt đá, quyết đập tan xiềng xích, quyết bảo vệ giống nòi. Đứng trước một dân tộc nhỏ bé, tinh thần khổng lồ, kiên trung trước sau như một "thà hi sinh chứ không chịu mất nước", khiến cho kẻ thù vỡ ra điều bất khả tri bấy lâu.

Sau bao nhiêu năm đi qua, chiến tranh đã lùi xa, người dân hưởng thái bình no ấm vẫn không quên nhắc về một Tân Trào bền gan vững dạ. Cây ôm núi, núi chở che cho người và con sông Phó Đáy khiêm nhường cùng bao sự kiện lịch sử bí mật đã diễn ra, con sông không chở nặng phù sa chia về muôn ngả, không hùng vĩ phăng phăng qua thác ghềnh cuồn cuộn mà lặng lẽ hòa mình với thiên nhiên cảnh vật; "sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân, giữa dòng bàn bạc việc quân" (bài Rằm tháng Giêng của Bác Hồ). Còn

đây nữa Ngòi Thia, Khuôn Pén, Suối Lê… hiện hữu, chỉ có Bác đã đi xa, lòng người vãng sĩ cứ trào dâng niềm tiếc thương da diết; "ngập ngừng gió vịn hàng cây, lối mòn phiến đá hao gầy gió sương, núi rừng Việt Bắc thân thương, dòng sông Phó Đáy vấn vương áo chàm, suối Lê cỏ ngát đôi vàm, cá lười biếng đớp ẩn hàng dong xanh, líu lo chim hót trên cành, bắng giang măng nứa ngọt lành Người đâu?".

Tân Trào nhờ có Đảng có Bác đã đổi mới khác xưa rất nhiều, cơm trắng đủ đầy thay sắn khoai độn măng rừng chấm muối. Kim Long xưa nay thành Tân Lập rộn ràng. Trai gái đua nhau xây dựng đời sống ấm no, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, lưu giữ nét đẹp dân tộc. Sẵn lợi thế mảnh đất nguồn rễ cách mạng, lại là nơi gắn liền với di tích lịch sử, người làng Tân Lập giữ nguyên phong cảnh làng quê thay vì xây dựng mới. Nhà sàn mái lá khói tỏa lam chiều. Người già bỏm bẻm miếng trầu đỏ, trẻ nhỏ tung tăng mỗi buổi tới trường, người người bảo nhau sửa sang gia cố nhà, đường cho khang trang sạch sẽ, biến Làng thành khu du lịch bản địa cho thập khách về nguồn chiêm ngưỡng tham quan.

Về với Tân Lập người ta như trút mọi nhọc nhằn xô bồ để hòa mình vào những giản dị yên bình, những món ăn dân dã, nếp nhà sàn nối nhau mùi bắp nướng thơm chiều.

Không chỉ có Tân Lập mà Làng nghề Vĩnh Tân cũng phát triển ngày một trưởng thành, người dân sống được với nghề, thương hiệu Chè Vĩnh Tân dần chiếm được thị trường, chè thu hoạch đến đâu hết đến đó, người làng mừng vui trước những chuyển biến tích cực của làng nghề quê hương. Còn đó mong muốn của người dân được các cấp, ngành quan tâm hơn nữa để Vĩnh Tân phát triển thành khu du lịch làng nghề thực sự, được trưng bày giới thiệu, quảng bá rộng rãi sản phẩm tới người tiêu dùng, du khách khi tới cũng sẽ có những món quà mang hương vị, hồn vía của mảnh đất thiêng Tân Trào mà thêm trân quý. Vốn là một người mê trà nên khi bước chân vào làng nghề tôi như đắm mình vào không gian ngập hương trà, mùi thơm tinh khiết dìu dịu bay ra chén trà ấm nóng của người dân làng chè mới dễ chịu làm sao, nhấp một ngụm nhỏ vị đắng chát đón đầu lưỡi làm thức tỉnh mọi giác quan, sau khi nuốt từng ngụm trà hương còn đọng lại hơi thở cùng vị ngọt ở cuống họng còn mãi, vị ngọt của làng chè hay tình đất tình người cứ níu cả hồn tôi.

 Hồ Nà Nưa chiều nay cô gái Tày dâng lời Then say đắm, điệu ới la giữ chân người bịn rịn, đôi mắt nụ cười như chứa cả mùa xuân, về Tuyên rồi thì lưu luyến chẳng nỡ rời xa.

 Còn gì thơ mộng hơn khi được bồng bềnh trên chiếc bè nứa, thuyền mảng được ghép bằng lồ ô và tre nứa, đắm mình trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, cây cối bao phủ tứ bề trong lành mát dịu, nghe tiếng đàn dội xuống hồ ngắm đàn cá ngẩn ngơ, nghe tiếng cây rừng thủ thỉ rủ nhau soi bóng, tiếng nước róc rách chảy từ khe đá, chim chóc hòa nhịp líu lo. Từng chiếc bè thư thả nối nhau trên mặt hồ, ai đó chỉnh chiếc xà tích mà lòng bâng khuâng.

Ở Tuyên thì chớ chứ đi xa là ngày nhớ đêm mong, chỉ mong về thật nhanh. Bữa cơm tiếp đón khách xa của người Tuyên Quang tôi không thể thiếu món xôi nhuộm màu lá, gói trong lớp lá dong xanh biếc nóng hổi, món bi chuối rừng nộm bọc lá ngõa hấp cách thủy bùi bùi ngậy ngậy, món măng cuốn thịt gà lá răm, cơm lam thơm cật nứa… ôi chỉ nhắc thôi là hồn vía đã reo rồi.

Kìa lòng sông chiếc thuyền độc mộc neo sào vớt lưới của lão ngư dân yên bình quá, tĩnh lặng trong trẻo quá, chạnh lòng khẽ gọi:  Phó Đáy ơi bao giờ Người trở lại? Đại ngàn ơi gọi đến bao giờ?

 

Tin tức khác