Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Lý
Nắng như đổ lửa, nước ruộng nóng bỏng, cá đòng đong chết phơi bụng trắng bờ. Thành cùng hai anh con bác, mặt mũi đỏ gay, quần áo bê bết bùn đất về đến sân, miệng cười toe toét khoe:
- Bác ơi! Hôm nay bắt được nhiều cua lắm.
Vừa nói, nó vừa giơ cái giỏ lên.
- Xem nào.
Bác nó tỏ ra vui mừng, như công nhận chiến tích của mấy đứa nhỏ, vội vào bếp lấy ra cái nồi đồng sứt tai. Mấy đứa nhỏ xúm lại, xóc giỏ rồi dốc ngược vào. Nhìn mớ cua đồng lổm ngổm dưới đáy nồi, bác nhẩm tính: bán chắc cũng được đấu gạo.
Buổi tối, bọn trẻ ăn cơm xong lăn ra ngủ. Bác gọi Thành vào chiếc sập tre cũ, nan cái còn cái mất kê giữa nhà. Ngồi mép sập, bác rót chén nước lá vối, rít mấy điếu thuốc lào. Vẻ mặt trầm ngâm, xoa đầu Thành bác nói:
- Bác sang nói chuyện với ông Cả Nhâm… cho con ở đợ chăn trâu. Ăn uống ông ấy nuôi, quần áo ông ấy cho. Mỗi vụ ông ấy trả cho nhà ta một gánh thóc. Con sang bên ấy vừa có bát cơm ăn, vừa phụ giúp bác nuôi anh chị. Ở nhà, bác nghèo quá chẳng nuôi được con, bữa đói bữa no, tội nghiệp lắm.
Thành vâng lời, ngồi lắng nghe bác dặn:
- Con sang bên ấy, chịu khó làm việc chăm chỉ. Nghe lời ông bà dạy bảo, thỉnh thoảng bác sang thăm.
Thành mồ côi cha mẹ khi mới năm, sáu tuổi, bác họ thương đưa về nuôi. Nhà bác nghèo, lại sinh đến 8 người con. Bác gái bận bịu với lũ trẻ, nhà mười một miệng ăn trông cả vào bác trai.
Đôi mắt ngấn nước, bác trai dắt thằng cháu chục tuổi đầu đi ở đợ, thằng bé ngoan ngoãn đi theo. Qua con mương dẫn nước vào đồng, bác ghé vai cõng nó. Hai bác cháu bấu chặt lấy nhau, cứ thế bác nó cõng đến cổng nhà ông Cả Nhâm.
Nhà ông Nhâm, cổng cao tường hoa xây kín, ngôi nhà gỗ lim năm gian hai trái, hai bên nhà ngang dài đến gần cổng, giữa là khoảng sân rộng lát gạch. Ông Nhâm tính tình xởi lởi. Bác nói vài lời với ông Nhâm rồi vội vã ra về, không dám nhìn thằng cháu.
Thành lẽo đẽo theo bác ra qua cổng, thì dừng lại nhìn theo bóng bác khuất dần cuối bờ tre, nước mắt chảy dài. Ông Nhâm ra dắt tay Thành vào nhà.
Ông Nhâm gọi người ở:
- Bác lấy cơm cho cháu nó ăn. Tôi có mấy bộ quần áo cũ, đã cắt ngắn giặt sạch rồi, bác lấy cho cháu mặc, quần áo nó rách quá.
Thành cởi bộ quần áo duy nhất của mình ra, mặc bộ quần áo nâu vá chằng vá đụp, dài rộng thùng thình.
Thành được giao chăn mươi con trâu, cuộc đời bắt đầu
từ ấy.
Thành có khuôn mặt hài hòa cân đối, giọng nói rõ ràng, tính nết hiền lành từ tốn, ông bà Nhâm bảo sao nghe vậy.
Ông Nhâm nói với vợ:
- Thằng này có tướng, sau này khá.
- Nó thật thà, tôi để mấy hào ở cửa chuồng trâu, nó nhặt đưa cho tôi. Con nhà nghèo mà không tham ông ạ.
Ông bà Nhâm thương quý cậu bé đi ở như con, đi ăn cỗ ở đâu cũng mang về cho Thành và cô con gái nhỏ gói xôi, vài miếng thịt, khi thì đồng quà tấm bánh.
Ban ngày Thành đi chăn trâu, tối cơm nước xong, ông Nhâm lại dạy Thành học chữ Nho. Thành thông minh sáng dạ, học đến đâu biết đến đấy.
Năm mười bảy, mười tám tuổi Thành cao lớn trắng trẻo đẹp trai. Biết thân phận hèn mọn, anh chăm chỉ làm xong việc này, lại đến việc khác, chu đáo cẩn thận. Ông bà Nhâm quý mến, gả con gái cho anh.
Ông bà Nhâm hiếm hoi sinh được hai mụn con. Anh trai cô Tuyết năm 13 tuổi theo bọn trẻ làng ra sông tắm, bị thuồng luồng rút chân chết đuối. Cô Tuyết trở thành con một. Cha mẹ chẳng muốn cho cô động tay vào việc gì, nhưng cô chẳng chịu ngồi không, từ nhỏ đã biết phụ giúp người ở dọn nhà, quét sân. Lúc lớn cày bừa cấy hái. Cha mẹ thương con, đành để cho cô làm cho quen việc, hòng kiếm tấm chồng.
Cô Tuyết da trắng mịn màng, đôi má hồng như hoa đào đang độ xuân sang. Mỗi khi gội đầu hong gió, mái tóc đen mượt như nhung chấm gót. Thường ngày vấn trần gọn gàng, thả đuôi gà qua vai duyên dáng. Đảm đang, xinh đẹp là thế, trời chẳng cho ai trọn vẹn điều gì, từ khi mới sinh cô đã bị nặng tai, nói năng chậm chạp. Cô biết tí chữ mà tính toán chẳng nhầm lẫn đến một trinh. Chẳng có ai ngỏ ý lấy cô. May có anh Thành, được cha mẹ gán cho cô.
Ông bà Nhâm giữ ý cho người gánh thóc, mang gà rượu đến nhà bác anh Thành vừa là lễ vật cưới rể, vừa như trả công. “Mua đứt bán đoạn” để anh Thành sau này nối dõi thờ cúng tổ tiên nhà vợ.
Người ta bảo: “Ở rể như con chó chui gầm chạn”. Nhưng anh chẳng nghĩ thế, công việc của nhà ông Nhâm là trách nhiệm của mình, anh không tính toán thiệt hơn, chẳng bao giờ đòi hỏi tiền nong công cán, khi cần tiền chi tiêu vào việc gì thì xin bố mẹ vợ. Anh chăm chỉ siêng năng, ông Nhâm giao cho anh công việc buôn bán. Khi về anh tính toán đâu ra đấy, tiền hàng rõ ràng rành mạch. Ông bà tin tưởng, dần dần giao cho anh quán xuyến mọi công việc của gia đình.
Bố mẹ cô Tuyết quý chàng rể giỏi giang, thương cô con gái chẳng được bằng người. Tiền công của anh Thành và tiền cho con gái, bà Nhâm mua vàng giao cho cô Tuyết cất giữ.
Năm cải cách ruộng đất, nhà ông Nhâm quy vào thành phần địa chủ bóc lột, tài sản tiền của bị thu, xung vào công quỹ chia cho dân nghèo. Anh Thành là con rể lại là người ở, chẳng ai động đến. Sau ngày ấy, nhà cô Tuyết chỉ còn ruộng đất chia theo định xuất làm chỉ đủ ăn. Cha mẹ già yếu, bệnh tật rồi chết.
Nghe cán bộ xã tuyên truyền, vận động Nhân dân lên miền núi khai hoang. Anh Thành nói với vợ:
- Mình ở làng mang tiếng con nhà địa chủ, mọi người khinh ghét khó sống lắm. Ở đâu cũng là làm ăn, mình lên miền ngược khai hoang, ở đấy xa xôi họ không biết mình là ai, cho đỡ
bận lòng.
- Còn đất đai nhà cửa thì sao?
- Giao lại cho Hợp tác xã, để họ chia cho xã viên, tiếc
làm gì.
Anh Thành đưa vợ lên Tuyên Quang, làm ăn sinh sống.
Núi rừng Tuyên Quang âm u rậm rạp. Từng cánh rừng nguyên sinh tre nứa, gỗ, giang chen nhau dày đặc. Muỗi vắt nhiều như trấu, rắn rết bò cả vào nhà, hươu nai hổ gấu hùm beo chẳng sợ người. Những đêm, khi nghe lợn kêu lên một tiếng “éc” là đã bị hùm bắt tha đi tận đâu rồi. Rừng xanh nước độc, chim kêu vượn hú suốt ngày. Anh Thành học người miền núi làm nhà sàn ở để tránh rắn rết, thú rừng. Giữa nơi đất rộng người thưa, sẵn có vốn anh Thành mua trâu, khai phá ruộng nương trồng lúa ngô khoai sắn, thuê người đào ao thả cá.
Chàng trai Thành giỏi giang phong độ hôm nào, nay đã xế bóng. Cuộc đời vất vả, về già đổ bệnh lao lực kèm theo hen suyễn, người gầy nhom ốm yếu. Ông bà Thành lấy nhau, hơn bốn chục năm chẳng có con. Ông nói với bà:
- Tôi chẳng còn được bao lâu nữa, tôi chết bà không có ai bầu bạn, già cả ốm đau không có người chăm sóc.
- Ông lo xa làm gì, cố dưỡng bệnh là ông thương tôi rồi.
- Vợ chồng gắn bó, ăn ở với nhau gần hết đời rồi. Mải làm ăn, chẳng nghĩ được sâu xa, giờ tôi chết bà cô đơn một mình, nhà cửa trống vắng hiu quạnh nơi rừng rú này, tôi không cam tâm… Tôi chết là hết, chẳng có con nối dõi hương khói cúng giỗ, tiệt giống bà ạ.
Bà Tuyết dân dấn nước mắt, nghẹn ngào nói:
- Tôi có lỗi với ông, có lỗi với tổ tiên… giờ phải làm thế nào?
- Tôi còn tí sức mọn, bà lấy vợ cho tôi để kiếm đứa con, cho vui cửa vui nhà, còn có người hương khói… Bà xem có cô nào đẻ được thì lấy về cho tôi.
Bà Tuyết nghe lời, đi hỏi vợ cho chồng. Nghe người ta nói: “xóm ngoài có cô Thảo hơn 30 tuổi dơ dở, ương ương lúc khôn lúc dại, tính nết cục cằn, chẳng biết làm gì, cơm không biết nấu, chẳng ai lấy”.
Bà Tuyết nhờ người, đi hỏi cô Thảo về làm vợ hai ông Thành. Nhận lời mời cưới của bà Tuyết ai cũng đến dự. Người ta nể ông bà, ăn ở có tình nghĩa với hàng xóm láng giềng, chẳng để mất lòng ai. Đối với ai, ông bà cũng tận tình chu đáo. Họ đến xem đám cưới của ông Thành, lấy cô Thảo điên dại ấy ra sao.
Gần 6 năm, cô Thảo sinh cho ông bà Thành 3 đứa con, 1 trai, 2 gái. Cô Thảo chẳng biết nuôi con, thậm chí cả việc cho con bú, bà Tuyết cũng phải ngồi cạnh canh trừng, sểnh ra là cô Thảo lại cắn xé, đánh con, ném con như đồ chơi.
Thằng Đạt sinh ra bé tẹo, như con mèo bị bỏ đói. Đúng là “cha già con cọc” da nó xanh lớt, ngặt nghẹo khóc dạ đề suốt đêm đến sáng. Bà Tuyết ôm con dỗ dành cưng nựng, lúc đứng, lúc ngồi suốt mấy tháng trời.
Những đêm dài thanh vắng, trong buồng bà Tuyết ru con chồng ngủ. Cách gian giữa, bên kia buồng ông Thành, cô Thảo ngủ. Nghe rõ tiếng khò khứ, như bễ lò rèn sắp đứt hơi của ông mà tội nghiệp.
Mọi việc cơm nước giặt giũ, chăm sóc nuôi dạy con, chăm sóc ông Thành, cô Thảo từ ăn uống đến vệ sinh cá nhân, dọn dẹp nhà cửa, chăn nuôi, trồng cấy đều một tay bà Tuyết làm cả. Ruộng nương đến mùa thuê người làm, mọi việc vẫn đâu vào đấy.
Bà Tuyết yêu quý, chăm sóc các con chồng từng miếng ăn giấc ngủ. Ông Thành ngày càng ốm yếu, cơn hen suyễn phát lên suốt ngày. Ông quanh quẩn xó bếp, rồi bước xiêu vẹo lên giường nằm. Nghe tiếng thở cố kiết của ông đã thấy khó khăn mệt nhọc lắm. Cô Thảo tha thẩn ngồi chơi, có lúc đi giải, đi ngoài ra quần không biết, nhiều khi lên cơn điên đập phá đồ đạc trong nhà. Bà Tuyết chẳng kêu ca phàn nàn lấy nửa lời, lúc nào cũng nhẹ nhàng cưng nựng bà Thảo, để nhà được yên.
Mùa đông trời rét đậm, những giọt sương trên cây lá đóng băng trắng muốt. Ông Thành ốm nặng, bệnh viện trả về được vài ngày, sau cơn suyễn tức thở ông Thành chết. Để lại cho bà Tuyết ba đứa con bé bỏng và bà vợ điên dở.
Bao nhiêu tiền của dồn vào nuôi chồng, nuôi con, nuôi bà vợ hai, lo tang ma cho chồng, kinh tế suy sụp rơi vào cảnh nghèo túng. Bà Tuyết lận đận địu đứa con gái nhỏ, mới hơn một tuổi đi bộ ra chợ cách nhà chục cây số, mua cá khô, nước mắm, mì chính, đường mía, quần áo mang đến những làng bản hẻo lánh đổi lấy thóc, lấy ngô gánh về nuôi con, nuôi bà hai.
Đường xá xa xôi vắng vẻ lúc nắng, lúc mưa. Có hôm gặp cơn mưa giông giữa rừng, phải trú vào gốc cây, chặt lá chuối rừng che tạm cho đỡ ướt, muỗi vắt túa ra vây lấy hai mẹ con. Nắm cơm đi đường, đến bữa bà nhai bón cho con xong, còn thừa mới ăn. Nhìn cảnh gánh gồng, địu con thơ, ai nhìn thấy cũng ái ngại thương bà. Lạ thay, đã gần sáu mươi, đi bộ hàng chục cây số, vai gánh gồng đến vài chục cân, lưng địu con bà chẳng đau ốm bệnh tật gì, bước chân nhanh nhẹn như chẳng có gì vướng bận. Cuộc sống cực nhọc vất vả là thế, mà nét mặt bà lúc nào cũng tươi tắn, vui vẻ.
Thằng Đạt cùng 2 đứa em chơi đá bóng bằng quả bưởi héo ngoài sân. Hai anh em tranh nhau, nó đá em ngã lăn ra. Bà Tuyết vội chạy ra đỡ con em, rồi gọi cả 3 đứa vào, bà cầm tay thằng Đạt nói:
- Con nhìn bàn tay có 5 ngón, các ngón tay đều chung một bàn tay, một ngón tay đau, thì bàn tay này có bị đau không?
Nó trả lời:
- Dạ, có đau ạ.
- Anh em con như các ngón tay trên bàn tay này, phải thương nhau, bảo vệ lẫn nhau. Anh em không được đánh nhau. Cái gì con thích, em cũng thích. Em bé hơn, con phải nhường em, cùng chơi với nhau mới vui chứ. Lần này mẹ tha, nếu con còn hư mẹ sẽ phạt đứng im một chỗ đấy.
Bà nuôi dưỡng chăm sóc, dạy bảo con cặn kẽ từ lúc lọt lòng, đến tuổi đi học đưa con đến trường. Các con học hết cấp II, lên cấp III trường nhà xa hơn chục cây số. Bà thuê nhà gần trường cho con trọ, gánh gạo lên nuôi con ăn học. Được mấy tháng chúng nó bỏ về. Thằng Đạt nói với bà:
- Học cấp hết cấp II được rồi, học cấp III xa nhà con không đi đâu.
- Không học, thì không ra ngoài đi làm được, ở nhà làm ruộng khổ lắm, con cố gắng học đi.
- Học khó lắm, con không theo được. Con ở nhà thôi.
Thế rồi, chúng nó nghỉ học ở nhà làm nương, làm ruộng cũng đỡ đần bà được đôi ba việc. Bà không phải đi đổi hàng như trước nữa.
Các con khôn lớn, đến tuổi bà dựng vợ gả chồng. Thằng Đạt lấy vợ sinh cho bà được thằng cháu nội mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh. Bà mừng lắm, suốt ngày bế bồng, chăm sóc, dứt vú mẹ là ngủ với bà. Hàng ngày, cõng cháu đi chăn trâu, làm việc nhà, cậu bé quấn quýt bên bà. Tưởng như cuộc đời vất vả của bà, đã được đền đáp.
Bà Thảo có tuổi, càng cục cằn điên dại, cái gì không vừa ý là quăng quật, đập phá, bà Tuyết già không ngăn cản được. Thằng Đạt thấy như thế tỏ ra khó chịu, quát mắng bà Thảo. Bà Tuyết nhẹ nhàng bảo:
- Mẹ Thảo điên dở cũng là người đẻ ra các con. Con phải thương quý, tôn trọng chăm sóc mẹ Thảo. Mẹ là, người nuôi các con thôi. Từ khi biết bà Tuyết không có máu mủ ruột thịt gì với chúng, bà có nói điều gì không vừa ý là Đạt cãi lại ngay. Mỗi tuổi một già, tai Bà Tuyết càng điếc nặng, nhiều khi chẳng nghe thấy gì, ai nói chuyện với bà cũng phải nói to, ra hiệu như múa.
Thấy Đạt ở ngoài lò sấy sắn, lửa trong lò cháy to quá. Đứng ở cửa nhà bà Tuyết nói vọng ra:
- Con cho ít củi để lửa vừa thôi, không cháy hết sắn đấy.
Chẳng nghe thấy Đạt nói gì, bà lận đận đi ra tận nơi, cúi xuống rút bớt củi. Đạt lấy ngay cây củi đang cháy dí thẳng vào mồm bà. Bà bị bỏng miệng mấy ngày không ăn uống được gì. Người ta hỏi, bà nói: “chân tay luống cuống bị ngã vào bếp”, để tránh tiếng ác cho con.
Thằng cháu nội học lớp ba, đi học về lại quấn lấy bà. Ai cho cái kẹo, tấm bánh bà không ăn để dành phần cháu. Thằng bé có cái gì ăn cũng phần bà, chờ bà ăn trước, nó mới ăn. Nó là niềm an ủi duy nhất của bà lúc tuổi già.
Bà làm việc nhà, toàn việc không tên mà bận bịu suốt ngày. Tiền nong chi tiêu trong gia đình bà giao cho vợ chồng anh Đạt. Trong xóm ngoài làng ai cũng thương bà, người ta nể vì nết ăn ở có trước, có sau. Nhà ai có công, có việc bà cũng đến chẳng làm được gì to tát, thì đến nhặt hộ nắm rau, trông đỡ nồi cơm, ấm nước. Đi đám cưới chẳng có tiền mừng, đám ma chẳng có tiền phúng, bà vẫn đến chia vui, chia buồn. Người trong làng, nhà ai có việc cũng mời bà đến dự. Bà hiền lành, ăn ở trọng nghĩa, chẳng nề hà việc gì, ai cần gì mà bà có là đưa ngay, chẳng phải nói lời khó dễ.
Như mọi ngày, sáng đi chăn trâu, gần trưa về nhà nấu cơm đợi con cháu về ăn. Mâm cơm bày ra cả nhà ngồi ăn vui vẻ, bà bảo với anh Đạt:
- Mẹ nhờ anh Thủy xát hộ dăm yến thóc tẻ, hai yến thóc nếp, sáng mai đi làm về, con ra lấy nhé.
Anh Đạt giẫy nẩy lên:
- Xát thóc vừa đủ ăn thôi, chứ xát nhiều thế thì ăn đến bao giờ mới hết? Để lâu cho nó mốc ra à.
Bà nhẹ nhàng:
- Cũng giáp Tết rồi, đằng nào cũng phải xát. Mẹ thấy anh ấy đánh xe trâu chở thóc đi xát, tiện thể mẹ nhờ.
Ăn xong bữa cơm, bà bảo với con là bà bị đau đầu. Anh Đạt nghĩ: mẹ bị đau đầu là chuyện thường, có sao đâu. Vợ chồng Đạt chẳng quan tâm hỏi han gì, chiều vẫn đi làm nương xa nhà. Thằng cháu đi học. Bà Thảo ngồi thẫn thờ bên cửa.
Hơn ba giờ chiều, đang nấu dở nồi rượu, bà thấy trong người khó chịu. Bà ra bãi dắt trâu về chuồng. Tiện có phi nước nấu rượu đang nóng, bà tắm rửa thay quần áo mới, vấn khăn gọn gàng rồi lên giường nằm.
Gần 6 giờ chiều, thằng cháu nội đi học về tìm gọi bà chẳng thấy, nó vào buồng thấy bà Tuyết nằm trên giường. Nó vào nằm bên bà, vòng tay ôm ngang bụng. Người bà lạnh ngắt, chân tay cứng đờ. Nó lay gọi mãi bà không thưa, cũng không quay lại ôm nó vào lòng như mọi ngày. Nó biết bà nó đã chết. Nó ra nói với bà Thảo, bà Thảo lơ ngơ không vào xem, cũng chẳng nói gì. Nó không khóc, cũng không sợ, lại quay vào lên giường nằm ôm bà.
Trong buồng tối om. Nó chẳng biết làm gì, ra cổng ngồi đợi bố mẹ nó về.
Trời tối bố mẹ nó đi làm về đến chân dốc. Nó nhìn thấy liền gọi to:
- Bố ơi! Bà nội chết rồi!
Anh Đạt cuống cuồng lấy dầu gió xoa bóp cho bà. Anh vừa lay gọi mẹ, vừa khóc. Vợ anh Đạt chạy đến nhà ông trưởng thôn báo tin. Mọi người trong xóm kéo đến.
Trước Ban tổ chức tang lễ và gia đình, cô giáo Ngọc dạy học cấp I điểm trường thôn gần nhà bà, thông báo với mọi người: “Bà Tuyết gửi tôi gần sáu triệu, bà dặn tiền này để lo tang ma cho bà.”.
Lúc ấy mọi người mới biết, bà Tuyết đã chuẩn bị cho ngày ra đi đã mấy năm nay. Bà nhặt từng mớ rau, quả trứng, con gà bán lấy tiền mua sách vở, quần áo cho cháu, rồi dành một phần tiết kiệm, mỗi lần mang sang gửi cô giáo Ngọc một vài chục bạc.
Nghe tin bà Tuyết mất, anh Thủy đèo gạo bà nhờ xát hộ đến trả. Hình như bà đã có linh tính về ngày ra đi. Mọi thứ bà đã chuẩn bị đầy đủ, nhất là bộ quần áo mới bà mặc và chiếc khăn nhung vấn tóc gọn gàng. Ngay cả bộ quần áo lúc tắm bà thay ra, đã giặt sạch phơi trên sào ngoài trái bếp đã khô.
Bà Tuyết đã đi qua 83 mùa xuân, trải qua bao nỗi vui buồn, nhọc nhằn. Để lại cho kẻ dân người làng tấm lòng thơm thảo nghĩa tình. Bà hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của người vợ, hoàn thành trách nhiệm cao cả của người con hiếu thảo trọn nghĩa với tổ tiên dòng tộc.
Tiết xuân ấm áp tràn về, mưa lất phất bay bay. Mùa xuân đến, rộn ràng trên từng lộc non chồi biếc. Những đóa hoa muôn màu khoe sắc, khởi đầu một năm mới an lành.
N.T.M.L
Minh họa của Tân Hà