(Trích Tự truyện “Dưới bầu trời kỷ niệm”)
Tháng mười, năm một ngàn chín trăm sáu chín (10/1969), bố mẹ tôi từ Cao Bằng, mảnh đất nên duyên vợ chồng của của ông bà, đưa cả nhà về Tuyên Quang sống (vì cả nhà nội đã từ Hà Nội tản cư lên Tuyên Quang từ những năm năm mươi của thế kỷ trước rồi). Bố tôi được phân đi dạy rất xa, tận xã Thổ Bình, huyện Chiêm Hóa (nay thuộc huyện Lâm Bình của tỉnh), cách nhà hơn trăm cây số. Một mình mẹ tôi tần tảo nuôi ba đứa con (lúc ấy chưa có em Đông Anh). Gia đình tôi được phân một gian ở trong một khu tập thể của Ty Giáo dục (khi ấy nằm ở chỗ Trường Trung học phổ thông Tân Trào bây giờ), vì mẹ tôi làm kế toán tại đó.

Ảnh minh họa
Đang ở một nơi không bị ngập lụt bao giờ, về Tuyên Quang, nhà tôi mới biết, thị xã Tuyên Quang năm nào cũng bị ngập lụt, nhẹ thì nước cũng vào trong nhà, còn nặng thì có thể ngập đến nóc nhà. Trận lụt năm một ngàn chín trăm sáu chín (1969) đi qua rồi, gia đình tôi mới chuyển về, nên tôi không có ấn tượng gì, mặc dù được các bác, các anh chị kể lại là trận lụt năm ấy to lắm. Cả nhà bác tôi và nhiều gia đình khác đã phải chạy lên khu Ủy ban nhân dân tỉnh để tránh lụt (vì khu đó ở vị trí rất cao). Nhưng nhìn cái thị xã nhỏ xíu nằm bên bờ sông Lô, có mấy cái nhà xây từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, cổ lỗ sĩ, nặng nề, mốc meo, thâm xì được xây trên một cái nền rất cao cũng có thể đoán ra. Cả thị xã là những hàng nhà cột tre, mái lợp néo cong tớn lên dưới những cơn nắng sau mưa. Ngấn nước lụt còn đánh dấu hàng năm trên tường nhà trát tooc - xi lở loét từng mảng, đủ các loại rác vẫn còn đánh đu phơ phất trên những hàng tre, cây gạo ven sông; đám lau lách trên bãi soi giữa sông đổ rạp, ngoi ngóp giữa cát, sỏi, đá, củi... thì cũng biết thị xã của lụt xấu xí đến mức nào.
Bố mẹ tôi lo lắm, vì cơ quan của mẹ tôi công tác nằm đúng khu vực nước năm nào cũng lên sớm nhất thị xã. Bố thì đi xa, không có nhà, lấy ai giúp mẹ lúc nước lên bất chợt, các con thì còn quá nhỏ…Nhưng mẹ bảo: “Không sao! Mọi người sống được thì mình cũng sống được!” Mẹ nói thế cho bố yên lòng mà đi công tác chứ mẹ cũng chưa biết sẽ phải đối phó với những trận lụt ấy như thế nào, bởi vì cũng đã biết nó như thế nào đâu mà nghĩ cách đối phó!
Và trận lụt năm một chín bảy mốt (1971) xảy ra thật, thì mấy mẹ con tôi được chứng kiến, mới biết lụt ở Tuyên Quang kinh khủng đến mức nào.
Là một người rất sợ giun, nên khi nghe tin đài Tiếng nói Việt Nam ra rả thông báo trên cái loa phóng thanh đặt tít trên cây phượng đầu dãy nhà tập thể rằng bão sẽ đổ vào Vịnh Bắc bộ trong tuần tới, mẹ tôi đã dành thời gian các buổi chiều, gánh nước đổ đầy một thùng phuy hai trăm lít đặt trên lưng chừng núi Thổ Sơn. Mẹ rẫy một đám cỏ thật sạch, san thành cái nền, mang cây que (là củi bố tôi hay chở về từ ngôi trường xa tít trên Thổ Bình) làm một cái lán chắc chắn, để sẵn chăn màn, giát, chiếu, đồ ăn thức đựng, dầu đèn, củi lửa…lên trên cái lán đó, phòng khi nước lên là mẹ tôi đưa các con lên trên lán để chạy lụt. Mẹ tôi lại còn làm hẳn một chỗ đi vệ sinh quây kín bằng lá cọ cho chúng tôi nữa. Rồi mẹ đi xin mấy khóm sả trồng xung quanh lán, phòng rắn vào lán.
Các cô bác cùng cơ quan thấy thế, đều cho là mẹ tôi lo xa quá, cứ cười mẹ suốt, vì mọi người ở đây quen rồi, người ta không chạy lụt kiểu mẹ tôi. Kinh nghiệm của họ là, cứ gói ghém sẵn đồ đạc, nước lên đến đâu, chạy đến đó, vì cũng đã có năm, chạy vội chạy vàng thì nước lại không tiếp tục dâng lên. Nhà nào cũng có sẵn một cái mảng nứa lớn, dựng cạnh cây phượng to đầu dãy nhà tập thể, trên đó lỉnh kỉnh là các loại dây thừng, lá cọ, cây que…để sẵn sàng cho hết tài sản của gia đình lên đó, kể cả lợn gà, khi nước dâng cao. Sau đó mới tùy tình hình nước lên hay xuống mới di chuyển đến chỗ cao hơn để tránh lụt. Có mỗi nhà tôi là không có cái mảng nứa ấy thôi, vì nhà tôi mới về khu tập thể mà.
Hơn nữa, trong khu nhà làm việc của Ty Giáo dục lúc đó có một cái sân bê tông nằm trên mấy cái hầm ngầm của Pháp để lại khá cao. Mọi người yên tâm, khi nước lên sẽ chuyển cả nhà lên bên trên cái sân ấy, cũng đủ cho cả khu tập thể ở tạm mấy ngày.
Mẹ tôi kệ mọi người cười trêu, cứ cắm cúi làm việc một mình, vì bố tôi ở xa lắm, thỉnh thoảng mới về nhà, không thể giúp mẹ được. Ngày ấy lại chẳng có điện thoại nên dẫu có muốn gọi cho bố về giúp cũng chịu. Lúc đó, tôi lên bảy tuổi, bé tý, gầy nhom, bế em Chính Anh to bự, trông nhếch nhác như con mèo con tha con chuột cống, vẹo cả xương sống để cho mẹ làm. Em Vân Anh sáu tuổi, cũng bé tý, tôi đi đâu, nó cũng lếch thếch theo đi đến đấy.
Thế rồi, đêm ấy, mưa bắt đầu rơi, rồi mưa to dần, to dần, nước lên ngay trong đêm nhưng từ từ thôi. Mẹ tôi tỉnh dậy lúc nửa đêm, thấy nền nhà lõng bõng nước thì hốt hoảng bế em Chính Anh, dắt hai chị em tôi đang say ngủ, mắt nhắm mắt mở, bước cao bước thấp cùng ánh đèn pin mẹ cầm trên tay, chạy lên cái lán trên núi. Mẹ thắp đèn dầu, rải chiếu lên trên tấm ni lông cho đỡ ẩm, rồi mắc màn, dỗ cho chị em tôi ngủ tiếp. Bốn mẹ con tôi yên chí ở trên lán đêm đó. Mẹ có ngủ được đâu, nằm nghe tiếng mưa rơi lộp độp trên mái mà lo thắt ruột.
Mưa mỗi lúc một to hơn, nhưng cái mái lá của mẹ không bị dột tý nào. Ban ngày, mẹ mặc áo mưa ra ngoài khơi rãnh cho nước không chảy vào trong lán. Chúng tôi không hiểu nỗi lo, sự vất vả của mẹ, nên thấy được lên lán ở, thích lắm, cứ chạy nhảy, nô hát trong cái lán còn thơm ẩm mùi đất ấy, có biết giúp mẹ gì đâu.
Trong khi đó, mọi người vẫn yên tâm ở dưới khu tập thể, lội nước bì bõm đã lên đến đầu gối, xếp đồ đạc lên chỗ cao hơn trong nhà, tiếp tục chằng chống khu nhà tập thể. Cái khu tập thể đã rất cũ kỹ, làm bằng cột tre bương, mái phủ đầy các loại phên néo, lá tranh, lá cọ, mảnh giấy dầu loang lổ, từng trải qua nhiều trận lụt vẫn đang ọp ẹp đứng đó, giờ đã ướt sũng trong những cơn mưa xối xả, nước giỏ, dột tứ tung trong từng căn phòng nhỏ. Một số đồ đạc của các gia đình cũng đã được chuyển lên cái sân bê tông trên nóc mấy cái hầm ngầm rồi.
Mẹ tôi để chúng tôi ở trên lán, giao cho tôi trông các em, rồi xắn quần cao, mặc áo mưa, đi ủng về khu tập thể dọn dẹp, chằng chống cùng mọi người. Những đồ đạc thiết yếu (mà thực ra cũng chỉ có chăn màn, quần áo, gạo muối, dầu đèn, củi đuốc thôi) đã được xếp gọn, phủ áo mưa lên mấy cái mảng nứa được hạ xuống, sẵn sàng khi nước lên to hơn nữa. Mấy con lợn chưa đến lúc được bán bị buộc chân đang giãy giụa, kêu la thảm thiết trong cái chuồng cũi làm tạm có mấy hàng dóng ngay đầu mảng. Gà, chó, mèo kêu, sủa inh ỏi trong không gian chật chội, nguy cấp. Còn bầu trời thì tối sầm, mưa như thác đổ suốt ngày đêm.
Ngày thứ ba, nước réo ầm ầm, đỏ ngầu, dâng lên nhanh chóng như một cơn hồng thủy. Mọi người trong khu tập thể lốc nhốc già trẻ lớn bé kéo nhau lên núi, đổ hết mọi thứ vào căn lán bé nhỏ của mẹ tôi. Bọn trẻ con chúng tôi sau mấy ngày bị ngăn cách, giờ gặp nhau, cười vui, reo hò sung sướng trong nỗi lo tột cùng của người lớn về trận lụt lịch sử đang diễn ra ngay trước mắt.
Rồi thì, cái lán nhỏ ấy của mẹ tôi chỉ đủ cho mấy cụ già và lũ trẻ chúng tôi chen chúc trong đó, các cô bác cùng mẹ tôi lại phải dựng thêm mấy cái lán nữa thì mới đủ chỗ trú cho cả khu tập thể. Thế là, thay vì được ngồi yên bình trong cái lán do chính tay mẹ vất vả một mình làm ra, thì giờ đây, mẹ lại mặc áo mưa, dầm mưa cùng mọi người, vô cùng vất vả. Thùng phuy hai trăm lít nước mẹ tôi gánh đổ đầy hôm nào, giờ là nguồn nước sạch duy nhất cho cả khu tập thể. Mọi người bảo nhau dùng thật tiết kiệm kẻo nước lũ lên chả biết lúc nào mới xuống.
Đến lúc này, mọi người mới khen mẹ tôi có tầm nhìn xa, mà thực ra, chỉ vì mẹ sợ giun lắm nên mẹ mới phải lo xa như thế. Hơn nữa, đây là lần chạy lụt đầu tiên trong đời của mẹ, nên mẹ lo xa cũng là đúng thôi. Mọi người cảm ơn mẹ tôi rối rít, còn có phần áy náy vì đã sử dụng mất cái phần đáng ra là của mẹ tôi, giờ đã bị san sẻ cho mọi người. Mẹ tôi chỉ cười, bảo:
- Anh chị em mình cùng cơ quan cả! Trong lúc hoạn nạn, giúp được nhau cái gì thì giúp thôi ạ!
Đứng trên núi, tất cả mọi người tận mắt chứng kiến dòng nước lũ đánh bật cây phượng to tướng đầu nhà, vốn đứng vững qua bao trận lũ, dứt phăng tất cả dây chằng, cột nhà, dui mè răng rắc gãy đổ, các loại phên néo, liếp tranh, túm lá cọ, giấy dầu lừ lừ trôi hết ra sông Lô đỏ ngầu, rộng gấp mấy lần ngày thường, đang ngồn ngộn củi rác, nhà cửa, trâu bò, lợn gà kêu la thảm thiết giữa dòng nước đang hùng hổ lao vun vút về phía hạ du. Vậy là, trong khi chạy lụt, mọi người chỉ mang được ít vật dụng để dùng trước mắt, còn mọi thứ vẫn để lại trong nhà, giờ đã trôi sạch, không còn thứ gì. Nhiều người phụ nữ bật khóc, trong khi nhiều người đàn ông khoanh tay nhìn dòng lũ dữ, trầm ngâm, không cất nổi một lời nào. Chỉ có bọn trẻ con chúng tôi vẫn hân hoan ca hát, nhảy nhô nhảy nhào trong căn lán bé tý giữa một trời nước đổ dữ dội.
Đến lúc nấu cơm ăn mới khổ. Nền đất ướt, củi đuốc ướt, nhóm lửa không thể cháy nổi, khói bay khắp mấy gian lán nhỏ đang thi nhau chảy nước tong tỏng ngoài mép lán. Các cô bác chúi xuống thổi lửa, khói xộc vào miệng ho sặc sụa. Cuối cùng thì bữa cơm đầy khói cũng xong, chỗ sống chỗ chín. May là mẹ tôi và các bác chuẩn bị sẵn lọ muối lạc, mắm tôm riềng sả ăn tạm chứ nếu không, chỉ có cơm với muối thôi. Rau cỏ chìm nghỉm hết trong nước, có tiền cũng không mua được mà ăn. Trong hai ngày đầu, bọn trẻ con còn được chưng cho vài quả trứng, sau thì cũng ăn giống người lớn hết.
Một tuần sau, trận lụt qua đi, mọi người lục tục xuống núi. Gọi là một trận đại hồng thủy đi qua cũng không có gì quá. Mặt đất ngổn ngang cây cối đổ xếp chồng lên nhau, củi rác. Bùn ngập đến đầu gối. Mùi bùn, mùi rác, mùi lợn, gà, chuột…chết xộc lên kinh khủng. Mặc kệ! Tất cả các cô chú bác trong khu tập thể đều lao đến cái nền nhà tập thể, cố rà đi rà lại xem còn sót lại gì không. Hầu như chẳng còn gì.
Nhà tôi, may còn hòm bát đĩa mẹ mang từ Cao Bằng về, chắc do nặng quá, lại nằm sát đất, vướng nhiều bùn đất nên nó hầu như không xê dịch khỏi vị trí.
Dọn dẹp vừa xong bùn đất, rác rưởi quanh khu tập thể thì bố tôi đạp xe về đến nhà. Nhìn thấy cả bốn mẹ con đều bình an, bố ôm mấy mẹ con, nước mắt lăn dài trên má. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy bố khóc. Thương vợ con vất vả mà bố không giúp được gì, tuần ấy, bố ở nhà, cùng các cô bác mua tre nứa ở bến phà Nông Tiến về dựng lại khu nhà tập thể.
Kho sách của Ty Giáo dục vốn nằm trong cái hầm ngầm kiên cố từ thời Pháp để lại, ngập hết, mẹ cùng các cô bác giở từng quyển sách ra phơi trắng xóa cả sân, trang nào cũng có màu phù sa vàng vàng, ố ố. Số sách ấy vô tình trở thành “chiến lợi phẩm” của chúng tôi, những đứa trẻ đói thông tin dạo ấy.
Tôi lại cắp em Chính Anh ra đó, chọn một quyển, vào chỗ mát, cho nó ngồi trên hông, còn mình thì cắm cúi đọc trong cái không khí tanh nồng của bùn đất sau lụt. Những Góc sân và khoảng trời, Không gia đình, Truyện cổ Grim…đã đi vào thế giới tuổi thơ của tôi hấp dẫn như thế. Tôi chả thấy khổ sở gì cả, trong khi mẹ cùng các bác, các cô chú đang đánh vật với hậu quả sau lũ lụt thật kinh khủng.
Đống đồ chơi chạy bằng cót được Đức tài trợ, chưa kịp chuyển đi, mắc cả đống bùn trong hộp, chả còn cái nào chạy được, bác Ma Văn Hiệu, Trưởng Ty Giáo dục cho chúng tôi mang về chơi. Đống bút chì màu cũng được nước nào đó tài trợ, gặp nước, vỏ bút chì tách làm đôi, ruột bút chì tan hết trong nước lũ, bọn con gái chúng tôi nhặt hết đám vỏ bút chì sặc sỡ đủ màu mang về chơi chuyền, chơi đồ hàng, xếp hình các kiểu.
Dọn xong nhà cửa cho mấy mẹ con, bố tôi lại đạp xe lên Thổ Bình dạy học. Trước khi đi, bố tần ngần, dặn tôi trông em đỡ mẹ. Mẹ tôi vẫn cười bảo bố đừng lo, giục bố đi cho kịp giờ, kẻo lên đến trường trời tối mất.
Tối hôm đó, dọn cơm ra, điện vẫn mất, mẹ tôi thắp ngọn đèn dầu ma dút sáng yếu ớt, đỏ đòng đọc, khói um tùm để mấy mẹ con ăn cơm. Bỗng, mẹ lẩm bẩm:
- Giời ạ, đứa nào lại đánh rơi cái đũa xuống đất thế kia? Có nhặt ngay lên không?
Ba chị em chưa kịp định hình cái đũa nằm ở vị trí nào dưới đất thì mẹ tôi cúi xuống, cầm “cái đũa” lên. “Cái đũa” oằn mình một cái. Cha mẹ ơi, nó là một con giun to và dài, đen bóng bò vào nhà sau lụt. Mẹ tôi hoảng quá, hét lên, hất đổ cả mâm cơm nghèo sau mùa lụt của mấy mẹ con.
Nghe tiếng mẹ tôi hét, bát đũa va loảng xoảng, còn ba chị em chúng tôi thì khóc váng lên, cô Phượng ở gian bên chạy sang, nhìn thấy vậy thì vừa thương mẹ con tôi vừa buồn cười. Cô nhặt con giun vứt đi trong khi mẹ tôi ngồi bệt dưới đất, run lẩy bẩy, mặt cắt không còn giọt máu, không nói nên lời.
Rồi cô sang các nhà bên cạnh, kể chuyện, bảo các cô chú, các bác ai còn gì thì mang sang cho mẹ con tôi ăn tối. Nhưng mẹ tôi sợ quá, không ăn nổi miếng cơm nào, cứ ngồi run lên từng đợt. Nỗi sợ giun này của mẹ sau này “lây” sang cả hai cô con gái, làm tôi và em Vân Anh cũng sợ chết khiếp cái con vật “mềm mềm mà vô hại” ấy (theo lời cô Phượng nói với mẹ tôi hôm đó) suốt cả đời. Báo hại hai chị em sau này không đứa nào dám mổ gà, vì sợ phải rút ruột gà, trông nó cũng giống con giun mà (!)
Sau trận lụt đó, mẹ nhất định không chịu ở nơi bị ngập lụt nữa. Mẹ bắt bố phải đi tìm chỗ đất nào cao, không bao giờ bị lụt để mua nhà ở. May mắn là bố tôi chỉ phải đi dạy trên Thổ Bình có hai năm. Hè năm đó, bố tôi được chuyển về trường liên cấp Một Hai xã Trung Môn trên cây số bảy đường đi Hà Giang làm Hiệu trưởng. Gia đình tôi chuyển lên khu tập thể của trường ở tạm, trong khi chờ bố mẹ tôi đi tìm mua nhà.
Bùi Thị Mai Anh






.jpg)

