Nhớ về ngày xưa ấy

Thứ ba, ngày 19-11-2024, 10:31| 3.499 lượt xem

Tản văn của Lê Thu

 

 

 

Quê tôi nằm trên đường Quốc lộ số 2, nối liền giữa Thủ đô Hà Nội với tỉnh Hà Giang, nơi địa đầu Tổ quốc. Nếu đứng ở cột mốc số 0, giữa trung tâm thành phố Tuyên Quang, rồi dang rộng hai tay để nối liền hai địa danh ấy, thì đoạn đường từ quê tôi ngược lên Hà Giang, hay về xuôi Hà Nội cũng dài vừa bằng nhau, như hai cánh tay trên thân thể con người.

Lúc còn nhỏ, mỗi khi nhận được thư của cha tôi gửi về, báo tin sắp đến ngày nghỉ phép, niềm hân hoan, vui sướng của tôi lại được dịp tràn đầy, nhưng nỗi lo lắng cũng từ từ kéo đến, “không biết cha mình có về nhà đúng hẹn?”, bởi cũng đã vài lần ông cũng bị lỡ xe, chậm chuyến. Rồi cảm giác vui sướng chợt vỡ òa, đó là lúc tôi đi học về đã thấy cha mình đứng ở ngoài cửa đón. Sau những ngày nghỉ phép ngắn ngủi, tôi lại theo cha ra bến xe để xếp hàng mua vé. Ngày ấy, nếu ai có việc phải đi lại ngược xuôi, lên tỉnh xuống huyện, hay phải về Thủ đô Hà Nội, thì mỗi lần đi - về ấy, là một lần gian lao, cực nhọc. Bến xe khách Tuyên Quang nằm ngay bên bờ sông Lô, gần cây cầu bắc qua suối Chả. Để được làm hành khách, ai cũng phải đến bến xe để xếp hàng mua vé. Trong ngôi nhà bán vé xe rộng rãi, hàng dài người lặng lẽ xếp thành hàng, kiên nhẫn chờ đợi, để mong đến lượt mình. Họ đến xếp hàng từ lúc nửa đêm, nhưng như thế vẫn còn là muộn, bởi cũng có nhiều người phải nhẫn nại đứng đợi ở đó cả mấy ngày trời, mới có được tấm vé để lên ngược, về xuôi. Ai may mắn, đứng được trong hàng lan can sắt đen bóng, chỉ rộng đủ thân người, thì cơ hội cầm được tấm vé đã gần như chắc chắn. Đó cũng là chỗ đứng mơ ước của mấy chục con người, đang chứa đầy hy vọng ở phía đằng sau.

Khi cánh cửa vừa được mở ra, khuôn mặt của người bán vé hiện lên sau ô cửa sổ, bỗng nhiên cả hàng người như những thỏi sắt, bị chiếc nam châm cực mạnh, hút họ dính chặt lại với nhau, rồi tụ vào cái ô cửa bé nhỏ. Bên trên ô cửa ấy, chỉ có một dòng chữ màu xanh đơn sơ “Quầy bán vé”. Họ đứng, mà chỗ đứng ấy nó chật đến nỗi, chỉ một nửa bàn chân trần - mà hình như chỉ có một ngón chân cái - là chấm được xuống nền xi măng. Tất cả đều bị hút chặt vào vòng xoáy của chiếc ô cửa nhỏ, mà tôi thấy chỉ nhỉnh hơn cái đầu người lớn. Chắc hẳn, bao sức lực của mỗi con người đều dồn vào đôi chân và cánh tay vươn lên chới với để đưa vào cái ô cửa đó. Cha tôi cũng chìm nghỉm trong đám người lộn xộn ấy. Và đột nhiên tôi bỗng giật mình lo sợ, biết đâu bức tường kia không chịu nổi sức mạnh, của những con người bên ngoài xô đẩy, nếu chẳng may nó lại sập xuống... tôi không dám nghĩ tiếp và cố căng mắt nhìn xem cha tôi đang đứng ở chỗ nào. Rồi người đầu tiên cũng cầm được tấm vé trên tay, cũng không khó để chui qua những đôi chân đang dướn lên, ép vào bức tường, rồi thoát ra ngoài ô cửa, mà lúc đó, nó đã bị lấp đầy bởi những cánh tay. Những vẻ mặt hân hoan, mừng vui, sung sướng của những anh bộ đội từ biên giới được về nghỉ phép, hay những chú, những cô cầm được tấm vé trên tay, như người vừa đọ trúng kết quả trên bảng sổ xố, mà phần thưởng là sự hân hoan của những người thân, đang phấp phỏng đón chờ ở bến xe nơi xuống. Những tiếng thở hắt ra vì mệt, những vẻ mặt rã rời, đầy thất vọng và mệt mỏi khi phải ngủ ngồi ngay tại quầy bán vé, cùng những nét buồn bực hiện ra, khi tấm biển “hết vé” được vội vã treo lên. Cánh cửa nhỏ chứa đầy hy vọng kia lạnh lùng đóng sập lại, hàng người dần tản mát, chỉ có những viên gạch lại im lìm nằm đó để chờ bán vé chuyến sau. Sự kiên nhẫn rồi cũng được đền đáp, cuối cùng cha tôi cũng có được tấm vé để trở về đơn vị. Và cũng có vài lần, cha tôi phải đạp xe từ dưới Hà Nội về nhà, vì không mua nổi vé.

Từ quê tôi ngược lên Hà Giang hay xuôi về Hà Nội, dù quãng đường chỉ chừng một trăm năm mươi cây số, nhưng cũng phải đi từ sáng sớm, đến giữa trưa mới về đến bến. Có lần, tôi tò mò trèo lên chiếc xe IFA chở khách, đang nghỉ ngơi để đi chuyến mới, trên xe là những hàng ghế gỗ, với khung sắt tròn vuông cứng ngắc, bám chặt vào sàn xe và lớp da ngoài cũng bóng đen một màu chen chúc. Những dòng chữ nắn nót viết lên trên những ô cửa sổ “không thò đầu, thò tay ra ngoài” khiến tôi không khỏi tò mò.

Đường Quốc lộ số 2, nối từ Hà Nội lên đến Hà Giang quãng chừng ba trăm cây số, nhưng cũng chỉ vừa cho hai xe tránh nhau, những đoạn cua sang phải, sang trái và những cú xóc nhấc tung người lên khỏi mặt ghế thì nhiều lắm, không có ai nhớ nổi. Con đường ấy, càng ngược lên phía Bắc lại càng bé nhỏ, những khúc cua và những cú xóc cũng nhiều hơn. Nhưng dẫu sao đó vẫn là đường nhựa, vẫn êm ái hơn những con đường “mưa trơn - nắng bụi” đi đến mấy huyện Chiêm Hóa, Na Hang trong tỉnh, dù quãng đường gần hơn, nhưng cũng mất đến cả ngày trời.

Đến giữa những năm chín mươi, khi tôi đi học chuyên nghiệp, việc xếp hàng mua vé cũng thưa dần, lúc ấy trong thị xã đã xuất hiện những chiếc xe U-oát, nó được cải tiến từ những xe cứu thương để chở khách và thêm cả hàng hóa. Cứ khoảng mười giờ đêm là xe lại xuất phát, tôi thích đi xe đêm, vì ban đêm xe chạy nhanh hơn và cũng là cố nán lại một ngày để được ở nhà. Nơi xuống là một bến “cóc”, bên kia gầm cầu Chương Dương, chỗ đó tuy chật chội, nhưng lại gần trung tâm thành phố. Những lần đi xuống vào mùa đông, tôi phải cố ngủ lại trong xe, chờ cho trời sáng hẳn mới dám vào trường, vì đến sớm kí túc xá vẫn chưa đến giờ mở cửa. Những năm đầu, mấy đứa học cùng phòng với tôi, chúng nó có người yêu ở nhà nên chịu khó viết thư, cứ mỗi buổi sau bữa cơm chiều, mấy thằng tôi lại háo hức ra hộp thư để tìm, để nhìn xem có nét chữ nào thân quen trong xấp phong bì dày cộp. Lúc ấy, ngoài mấy bộ quần áo và sách học, thứ tài sản quý nhất lại là những bức thư, chúng được cẩn thận cất giấu tận dưới đáy hòm gỗ. Và bỗng dưng tôi chợt nghĩ “không biết những bạn sinh viên trẻ bây giờ, có ai còn viết thư tay như chúng tôi ngày trước?”.

Sau này về đi làm, tôi vẫn đều đặn viết thư tay cho mấy người bạn xa và mỗi lần ra bưu điện gửi thư, lại mong chờ những lá thư hồi đáp, những lá thư cũng làm vợi đi những nhọc nhằn, lo toan của tôi, khi phải sống xa nhà. Những tưởng thói quen ấy cứ lặng lẽ, bình yên trôi đi như thế, nhưng từ khi chiếc máy điện thoại để bàn xuất hiện ở công ty tôi, thói quen của mọi người cũng nhanh chóng thay đổi. Ban đầu là chiếc điện thoại của văn phòng, nó kêu leng keng suốt trong những ngày làm việc, rồi cả những lúc ngoài giờ hành chính. Chị văn thư chốc chốc lại chạy đến phòng trên, phòng dưới, gọi anh này, chị kia. Việc chung, việc riêng mọi người đều nhờ chị văn thư nghe giúp để hẹn hò, nhắn gửi. Quý giá nhất, là những khi cha ốm, mẹ đau hay người già trăm tuổi, chỉ một lát đã biết tình hình. Có lần tôi chứng kiến, một chị chợt bật khóc to ở quầy bưu điện, không biết đó là niềm vui hay nỗi buồn của chị. Việc gọi nhờ qua điện thoại cơ quan hay ra ngoài bưu điện cũng có lúc bất tiện, nhất là khi mải mê nói chuyện với cô em hàng xóm - khi ấy tôi vẫn thầm cảm mến - mà bên ngoài, lại có vài người nhìn vào mình với vẻ sốt ruột. Quả thật, nói chuyện trực tiếp thích hơn nhiều, khi ngồi cặm cụi cả đêm để viết thư cho cô gái ấy.

Lần lượt, mỗi phòng làm việc của công ty tôi cũng có một chiếc điện thoại, chị văn thư không còn phải tất bật chạy đi, chạy lại mỗi khi có tiếng chuông reo. Rồi cũng thật nhanh chóng như lúc nó vừa mới xuất hiện, chỉ vài năm sau, nhiều gia đình đã có một chiếc điện thoại cố định, mà giá trị lên đến hơn một chỉ vàng. Tôi vô cùng thích thú khi nhìn thấy, chú giám đốc của mình cầm chiếc máy điện thoại, to cỡ bằng bắp tay của mình - mà không có đoạn dây như chiếc lò so dài - trông thật lạ mắt. Tiện nhất là, những lúc đang ngồi họp ở trong hội trường, có chuông reo, vẫn nói chuyện bình thường, như khi đang ngồi ở bàn làm việc, hay có lúc đang đứng ngoài sân, chợt có tiếng chuông, chú giám đốc chỉ cần rút chiếc ăng ten lên - giống như chiếc đài pin để nghe “kể chuyện cảnh giác” - là nói chuyện thoải mái. Lúc ấy, anh Mai là Trưởng phòng kỹ thuật của tôi vô cùng thích thú và bày tỏ ước ao “phải cố sắm một chiếc”.

Ở ngoài đường bắt đầu xuất hiện những chiếc bốt điện thoại màu xanh dương, chỉ cần mua một chiếc thẻ, khi nào cần sử dụng, đưa chiếc thẻ vào máy rồi ấn số, cũng như mình đang sở hữu chiếc điện thoại ở nhà. Thành phố Hà Nội có lẽ là nơi có nhiều bốt điện thoại nhất, chúng có mặt trong khuôn viên các trường đại học, ngoài hè phố, góc công viên, bến xe, rồi bệnh viện…, nơi nào có màu xanh quen thuộc là nơi đó đã có bốt liên lạc.

Những tưởng, công nghệ viễn thông tiện lợi như vậy đã làm thỏa mãn những ước mong của mọi người, nhưng đến đầu những năm “hai nghìn” tôi lại được nhìn thấy chiếc điện thoại di động đầu tiên, trông nó thật nhỏ gọn so với cái điện thoại “cục gạch” cùng với đoạn ăng ten dài đến gần nửa mét. Chiếc máy di động tuy bé nhỏ, nhưng gọi được ở mọi nơi trong thị xã và mang theo ra ngoài tỉnh khác, vẫn nói chuyện với nhau, như đang ngồi cạnh nhau. Quả thật, niềm ước ao này vừa kịp đến, lại có niềm khát khao khác lớn hơn ập về. Rồi tôi cũng cố sắm cho mình một chiếc máy điện thoại di động Motorola. Mỗi lần mở ra, hay gập vào cảm giác đầy khoái chí, mỗi khi phải bấm số, tôi cũng cố bấm thật nhẹ nhàng, như sợ nó bị đau.

Thật nhanh chóng, chỉ gần chục năm sau, những chiếc điện thoại vốn sinh ra chỉ để nghe - gọi trước đây, nay lại biến thành những chiếc máy ảnh, quay phim, đọc báo, rồi xem cả ti vi... như trong quyển sách viễn tưởng mà hồi nhỏ tôi đã từng được đọc. Thật thích nữa, bây giờ chỉ cần vài trăm nghìn, là ai cũng sở hữu được một chiếc điện thoại di động hiện đại, kết nối với mạng Internet đã phủ sóng đến khắp mọi nơi. Việc nói chuyện với nhau như hai người đang đứng trước mặt nhau, hay lúc rảnh thì xem phim giải trí, rồi gửi cho nhau những thước phim mình tự quay… đã trở nên quen thuộc, cho dù bạn có ở nơi đâu trên đất nước của mình, hay bay đến mọi nơi ở trên trái đất cũng đều như vậy. Điều đó, khi tôi đang đi học cũng không bao giờ tưởng tượng nổi, thì nay đã trở thành hiện thực.

Trên con đường cao tốc, nối từ thành phố Tuyên Quang về đến sân bay Nội Bài, tôi thả người ngồi im để được tận hưởng niềm vui sướng, khi chiếc xe cứ phăm phăm lao đi, trên con đường thẳng tắp và rộng rãi. Bất chợt, một thoáng rùng mình khi nhớ lại, những buổi đi xếp hàng mua vé, những chuyến xe chật chội lầm lũi lúc nửa đêm và có lần đi trên chiếc IFA bị hỏng máy giữa đường, phải vật vạ ngủ ngay bên vệ cỏ.

Giá như, những con đường khác cũng thẳng tắp và rộng rãi thế này thì tuyệt vời biết mấy.

Thành Tuyên, 11/2024

L.T

Minh họa của Quảng Tâm

Tin tức khác