Người lính trở về

Thứ ba, ngày 16-07-2024, 09:05| 4.604 lượt xem

Tân Trào

Trở lại chiến trường xưa. Tranh sơn dầu của Đỗ Ngọc Dũng

 

Ngày tôi sinh, bố tôi đã không ở bên cạnh để được ngắm nghía đứa con trai của mình. Rồi suốt cả quãng đời tuổi thơ của mình, tôi chỉ sống với mẹ và bà con làng xã. Thỉnh thoảng mới thấy bố tôi trở về nhà, nhưng chỉ thoảng qua một đến hai hôm lại tất tả đi ngay. Mãi sau này, tôi mới biết bố tôi đang tại ngũ, đóng quân ở nơi biên giới xa xôi. Thế nên kí ức của tôi về người bố của mình cũng không thực sự rõ nét, chỉ là một người luôn mặc bộ quân phục, hai cầu vai và chiếc mũ cối đội đầu có những ngôi sao vàng được đính lên, sáng lấp lánh. Mỗi lần về thăm quê, người làng kéo nhau đến chơi đông lắm. Họ ngồi chật cứng trong căn nhà nhỏ của gia đình tôi. Ấm trà nhạt nước lại được đổ đi, pha lại. Cứ thế bố tôi và người làng trò chuyện rôm rả đến gần sáng mới kết thúc. Câu chuyện mà người làng tôi quan tâm nhất là tình hình chiến sự nơi biên giới đang diễn ra ác liệt. Rồi cả việc rò hỏi xem con cái của họ cũng đang trên các chốt biên giới, giờ không biết thế nào. Đã có mấy nhà trong làng nhận báo tang khi con trai của họ không còn trở về. Những việc ấy khiến làng quê xao xác lắm, đau thương.

Hồi ấy làng quê tôi rất nghèo, nhưng người làng sống với nhau ân nghĩa lắm. Nhà nào có con đi bộ đội cũng rất tự hào vì đã đóng góp một phần trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Nhưng khi nhận tin nhà nào nhận giấy báo tử từ biên giới gửi về, người làng lại kéo nhau đến động viên, chia sẻ, giúp đỡ, nhằm an ủi gia đình có người mất để vợi đi nỗi mất mát, đau thương. Ngay cả trong dòng tộc tôi, anh trai con bác cả tôi đã hi sinh khi vừa kịp có mấy tháng lên biên giới. Anh tôi mất lúc vừa bước qua tuổi hai mươi yêu dấu. Máu anh đã thấm đỏ dọc biên thùy. Thịt xương anh tan vào đất mẹ khi chưa kịp một lần yêu và hẹn ước với gái làng. Ngày nhận giấy báo tử anh, bác tôi khóc ngằn ngặt mấy ngày liền. Cả nhà đau buồn chả thiết ăn. Nhưng nén nỗi đau thương, mất mát, bác tôi làm mấy mâm cơm vọng khấn vong hồn anh. Dịp  ấy, người làng xúm lại chia sẻ cùng gia đình bác. Hợp tác xã cử người đến đỡ đần từ việc to đến việc nhỏ, thậm chí cả việc đồng áng. Thế rồi nỗi mất mát ấy cùng dần vợi đi. Người còn sống lại tiếp tục với công việc hàng ngày, kiếm miếng cơm và lo toan trong muôn nỗi đời thường.

Cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc đã huy động được một lượng lớn các trai làng ở khắp mọi nơi sẵn sàng gạt bỏ hoài bão của tuổi trẻ để được đứng vào hàng ngũ những người lính kiên trung. Họ sẵn sàng cầm chắc tay súng, bám chốt, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Họ chấp nhận hi sinh, chấp nhận gian khổ để hậu phương được an toàn, Tổ quốc được vẹn toàn. Bố tôi cũng vậy. Ông đằng đẵng xa nhà trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, không chỉ là các trận đánh trong nước mà dấu chân của ông còn là các cuộc hành quân đầy gian khổ qua Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng của nước bạn Lào. Sau này khi lớn lên tôi mới biết, trong một cuộc chiến bên nước bạn, ông đã bị thương. Một mảnh bom vô tình găm sâu vào đầu gối của ông. Sau nhiều lần phẫu thuật, mảnh bon sắc lạnh ấy mới được lấy ra hết. Nhưng dư âm của nó mãi còn làm da thịt ông đau đớn mỗi khi trái gió trở trời.

Như vậy, bố tôi đã có gần hai mươi năm trong quân ngũ, trải qua hàng chục trận đánh lớn nhỏ. Sau này có lần ông kể cho tôi nghe về cuộc đời quân ngũ của ông. Do tuổi trẻ, nhận thức chưa đầy đủ nên tôi nghe câu chuyện của ông kể với một thái độ chưa thực sự nghiêm túc. Bố tôi bảo: “Con chưa thể hiểu hết nỗi khốc liệt của cuộc chiến”.

Ngót hai mươi năm đằng đẵng trong quân ngũ, ngày trở về quê, bố tôi tóc đã bạc nửa mái đầu. Về quê, do ảnh hưởng di chứng của cuộc chiến, cộng với thương tật trên cơ thể trong một lần bị thương, bố tôi cũng yếu hẳn. Bố tôi bảo: “Còn may mắn chán so với nhiều đồng đội còn nằm lại rải rác trên các chiến trường xưa”. Có lẽ, chưa một quốc gia nào trên thế giới lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc như Việt Nam. Qua hàng nghìn năm đô hộ phương Bắc, rồi cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài ngót một trăm năm vừa kết thúc dân tộc Việt lại bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Cuộc chiến này cũng kéo dài mười năm có lẻ, mãi đến năm một chín bảy lăm mới hoàn toàn kết thúc. Nhưng hòa bình chưa được bao lâu, cuộc chiến Tây Nam lại nổ ra. Sau đó không lâu, một lần nữa đưa cả dân tộc bước vào cuộc chiến mới - cuộc chiến chống quân phương Bắc xâm lược trên toàn tuyến biên giới.

Nhìn lại các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc mới thấy dân tộc Việt Nam thật kiên cường. Dẫu bao làng mạc bị tàn phá. Bao nhiêu bà mẹ mất con. Bao nhiêu lớp trai đinh từ thế hệ này nối sang thế hệ khác, họ từ các vùng quê nghèo khó do chiến tranh tàn phá mà sẵn sàng bỏ lại tuổi thanh xuân, bỏ lại cha mẹ già và cả ước vọng của tuổi trẻ để lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Cả triệu người con ưu tú đất Việt nằm lại trên những cánh rừng, trên đất đai của mẹ. Hàng vạn người lính trở về khi thương tật đầy mình, để sống quãng đời còn lại trong đau đớn khi thân thể dày vò từ di chứng chiến tranh.

Đi dọc dài đất nước, dường như xã nào cũng có nghĩa trang liệt sĩ. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì cả nước có trên ba nghìn nghĩa trang liệt sĩ và trên ba nghìn công trình ghi công liệt sĩ. Trong đó có ba nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia, bao gồm: Nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang Đường Chín và nghĩa trang Vị Xuyên. Đây là những nơi an nghỉ của hàng trăm vạn liệt sĩ qua các cuộc chiến tranh mà dân tộc Việt đã trải qua. Thành cổ Quảng Trị và các vùng quê khác vẫn là địa chỉ đỏ để các thế hệ người dân cả nước hướng về. Nỗi mất mát, đau thương của cả triệu gia đình Nam - Bắc mà thời gian khó có thể phai nhòa.

Trong suốt những năm qua, Đảng, Nhà nước và Nhân dân luôn ghi nhớ sự hi sinh cao cả của hàng vạn người con đã ngã xuống, hoặc mang di chứng chiến tranh khi họ bước ra từ cuộc chiến. Không chỉ cả xã hội chăm lo về vật chất mà cả bằng tinh thần để những gia đình thương binh, liệt sĩ theo đạo lí tốt đẹp của cha ông ta: “Uống nước nhớ nguồn”. Đặc biệt, cứ vào dịp kỉ niệm ngày Thương binh, liệt sĩ (27 tháng 7) hàng năm, cả nước lại chung tay cùng Đảng tổ chức tri ân với những việc làm cụ thể, thiết thực. Đơn cử như gia đình tôi, hồi cha tôi còn sống, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng xã hội vẫn thường xuyên quan tâm, động viên, hỗ trợ chu đáo. Giờ cha tôi đã mất, chế độ dành cho người ở lại vẫn được Đảng, Nhà nước thực hiện đầy đủ.

Đảng, Nhà nước, Nhân dân không bỏ quên gia đình tôi và những gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công trên khắp mọi miền Tổ quốc. Đó là đạo lí và trách nhiệm với gia đình có người ngã xuống hoặc mất mát một phần máu xương cho dân tộc được trường tồn.

T.T

Tin tức khác