Bút ký của Lê Thu
Mây buông. Ảnh của Kiều Chinh
Trái Đất - hành tinh mà chúng ta vẫn trìu mến gọi là Quả Đất, hay Địa Cầu - là nơi sinh sôi và chứng kiến hàng trăm triệu vòng đời của vạn vật trên khắp thế gian này. Thế nhưng, quả đất mà chúng ta đang sống lại là… Quả Đá. Sở dĩ phải gọi đúng tên “cúng cơm” như vậy là bởi, hành tinh này được sinh ra từ hơn bốn tỷ rưỡi năm về trước chỉ có đá. Và tuổi của trái đất cũng là tuổi của đá từ lúc được sinh ra trong vũ trụ bao la. Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, là một trong bốn công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam, đó là Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non Nước Cao Bằng, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông và Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Lạng Sơn, vừa được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc công nhận. Đến nay, trên thế giới chỉ “năm mươi quốc gia”, với “hai trăm hai mươi chín” công viên địa chất có được danh hiệu ấy.
Trên rừng đá mênh mang
Cao nguyên đá Đồng Văn, chỉ xuất hiện trên bốn huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc trước kia, có đường biên giới giáp hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của nước bạn Trung Quốc. Với diện tích rộng đến “hai ngàn ba trăm năm mươi sáu kilômét vuông”, gần lớn bằng tỉnh Hưng Yên bây giờ. Chiều cao thẳng đứng, nếu ta đo từ mặt biển lên đến ngọn núi cao nhất là “một ngàn sáu trăm mét”, vượt quá nửa nóc nhà Đông Dương Fansipan, trên Sa Pa lạnh giá. Thoạt nghe vẻ khó tin, nhưng lại là sự thật. Nếu ai chưa đến đây, những tưởng công viên này phải xa xôi lắm, nhưng bắt đầu đi từ cây số “0” ở thành phố Hà Nội, đến chân Cột cờ Lũng Cú - nơi địa đầu của đất nước Việt Nam - cũng chỉ chừng bốn trăm năm mươi cây số. Không quá cao phải đi bằng cáp treo, không quá xa phải đến bằng máy bay, thế nhưng, đó là hai thế giới biệt lập. Dưới kia là đồng bằng bao la, phì nhiêu tươi tốt. Còn trên này, chỉ thấy những dãy núi cao trơ trọi, trập trùng đá xám. Như tên gọi của nó, bề mặt của cao nguyên đá, nơi đã đón bao mùa sương sa buốt giá, mà chỉ toàn thấy đá. Dù đá nhỏ hay to, thấp hay cao, lớn hay bé…, nhưng chúng cứ thi nhau tua tủa, đâm lên trời như những ngọn măng rừng. Hình như, trong lúc kiến tạo ra hình hài trái đất, mẹ thiên nhiên đã để quên túi hạt mầm “Đá núi” trên cao nguyên kỳ vĩ. Và khi nhân loại phát hiện ra nơi này, nó đã trở thành một công viên với những điều kỳ thú, vẫn cất giữ trong mình biết bao bí mật.
“Đây là bọ Ba thùy, sống ở dưới đại dương”, Hoàng Xuân Đôn - Trưởng Ban Quản lý Công viên địa chất toàn cầu - chỉ vào mẫu vật hóa thạch, nằm ẩn mình trong vách đá cao, trên đường lên Cột cờ Lũng Cú. “Chúng đã hiện diện hơn hai trăm bảy mươi triệu năm, là nhóm động vật chân khớp cổ nhất, được hóa thạch lâu đời nhất, nhưng lại được tìm thấy ở đây!”, Đôn nói vẻ tự hào. “Hóa thạch là sao?”, tôi thắc mắc. Anh Nguyễn Thanh Giang, Phó Ban Quản lý cười “là con vật biến thành đá”. “Hay nó bị các vị thần phù phép nhỉ?” tôi tỏ ý nghi ngờ. Anh Giang nói tiếp “chúng có niên đại từ kỷ Cambri và phát triển thịnh vượng sau Đại Cổ sinh, trước khi bị đại tuyệt chủng. Ở kỷ Devon mọi phân nhóm của chúng hầu như biến mất”, dừng một lát anh nói tiếp “nó còn bị tuyệt diệt trong cuộc đại tuyệt chủng vào cuối kỷ Permi”. Chúng tôi cùng “ồ” lên và vô cùng ngạc nhiên khi thấy, con vật cỡ gần hai ngón tay đã biến thành đá, có tuổi đời đến mấy trăm triệu năm về trước, lại ngay trước mắt của mình. “Bọ hóa đá - đá từ bọ” tôi lẩm bẩm và săm soi nhìn vào mẫu vật, cố tìm xem mấy trăm triệu năm trước nó bơi thế nào, nhưng chỉ thấy phần đuôi và những cái gai còn nguyên vẹn của nó, còn phần đầu đang chìm dưới lớp đá cứng. “Ở Lũng Pù và Cán Chu Phìn bên Mèo Vạc cũng có!”, anh chỉ tay về dãy núi phía xa. Quả thật, cũng hiếm có nơi nào như cao nguyên đá Đồng Văn, nơi đây rất đa dạng về địa hình, địa chất. Nó chứa đủ các loại đá, từ mắc - ma của núi lửa, rồi trầm tích, đến biến chất yếu..., với tuổi đời dài dằng dặc “từ cổ đến trẻ”. Các đá trầm tích các - bon - nát có tuổi đời cổ nhất, từ ba trăm đến năm trăm triệu năm, tiếp đến là các đá mắc - ma xâm nhập và cuối cùng là các thành tạo trầm tích không gắn kết, có tuổi từ mười đến năm triệu năm. Sau một hồi nghe các anh giảng giải, chúng tôi cũng lờ mờ hiểu, trái đất của chúng ta đang sống, đã trải qua rất nhiều thời kỳ, ở các kỳ đó có rất nhiều loại bọ này, nhưng đã bị tuyệt chủng. Cũng thật may mắn, có một số ít con bọ được hóa thạch, bởi nó có bộ giáp cứng và được bảo quản trong môi trường đặc biệt, không bị phân rã, vì nằm sâu trong các lớp trầm tích, nên đã hóa thành đá. Trên Cao nguyên đá Đồng Văn, cũng mới phát hiện ra vài con bọ như loại này hóa thạch. “Phải chăng chỗ này là hố sụt, hay băng đá vùi lấp xưa kia?”, tôi ngẫm nghĩ. “Hóa thạch này cũng tìm thấy ở Ma-rốc, Ca-na-đa và Cộng hòa Séc”, anh Giang gõ tay vào vách đá, rồi nhìn quanh các đỉnh núi cao. Anh chợt cười vui vẻ “hậu duệ của nó là con sam biển bây giờ”. Chúng tôi càng thêm ngạc nhiên vì những điều anh nói, bởi có lần tôi ra vùng biển Quảng Ninh và được xem con sam to bằng bàn tay, rất lạ mắt. Nhưng kỳ lạ nhất là, chúng chỉ sống thành cặp cho đến hết đời, con đực cứ bám chặt lấy lưng con cái không rời. “May mà chưa nếm thử lần nào!”, tôi thành thật. “Ai nỡ động đũa vào tình yêu thủy chung của chúng!”, anh Đỗ Đức Mai - người kỹ sư địa chất uyên thâm, sinh ra ở đất Hà Giang - nói với vẻ thương cảm. Chúng tôi bật cười vì khiếu hài hước của các anh. Nếu có một bộ phim chiếu về cuộc đời của những con bọ hóa đá, chắc chắn không ai có đủ thời gian để xem nó từ lúc bị đông cứng, đến khi hóa dần thành đá…, vì thời gian ấy dài đến cả mấy trăm triệu năm. Nó kéo dài từ Đại Cổ sinh của thời kỳ băng hà lạnh hơn cả hai đầu Nam - Bắc cực, làm những con bọ này chết cóng. Đến Đại Trung sinh, những chuyển động kiến tạo dữ dội của vỏ trái đất, núi đương cao bỗng hụt xuống trở thành đáy biển, đại dương sâu thẳm bỗng trồi lên thành những dãy núi cao, rồi những ngọn núi lửa thi nhau phun trào, những thiên thạch khổng lồ từ vũ trụ lao vào trái đất…, đã giết chết bao nhiêu đàn thằn lằn khổng lồ, vùi lấp hết cá sấu ở ngoài biển khơi và cả những con khủng long to lớn, kỳ dị ở kỷ Jura - chiếu trong một bộ phim - làm tôi sợ hết hồn. Mãi đến Đại Tân sinh, đó là kỷ nguyên của các lục địa đã chuyển dịch và nằm yên ở vị trí bây giờ. Rồi đến đoạn cuối cùng, Nam Mỹ đã gắn liền với Bắc Mỹ, mà mỗi quốc gia lại phân định biên giới của mình lên trên bề mặt của nó. Hình như, những mảng lục địa ấy đến nay vẫn còn dịch chuyển, dù vô cùng chậm chạp. Sau những giấc ngủ dài trăm năm, bất chợt nó lại khe khẽ cựa mình, như muốn nhắc nhở mọi sinh vật sống trên vỏ địa cầu “lục địa già vẫn thức”. Đó là những trận lở đất khủng khiếp, vùi lấp cả ngôi làng đang bình yên dưới núi, là những cơn sóng thần ập vào bờ biển, cuốn đi bao con người vô tội, là những trận rung lắc kinh hoàng, xé toạc mặt đất, nuốt chửng những ngôi nhà vững chãi và những ngọn núi cao đang lặng im thơ mộng, đột nhiên phun lên trời lưỡi lửa đỏ rực, như bễ rèn khổng lồ của vị thần lửa Hephaestus, mà đến tận bây giờ loài người cũng không sao hiểu nổi. Tôi trông lên không gian xa thẳm, rồi đặt tay vào vách đá lặng im. Những lớp vân thời gian của triệu năm hiện lên, đẹp như sóng nước mây trời, rồi tự nhủ “đã nghìn đời nay, chúng ta luôn ngước lên những vì sao xa xăm - mà quãng đường đến đó, dài như thời gian của những con bọ từ khi hóa đá - rồi gửi gắm vào đó những khát khao, ước vọng, những đam mê cháy bỏng của mình, mà rất nhiều những giấc mơ đó cứ trôi đi, từ đời này qua đời khác...”. Nhưng ngay vách đá trước mắt mình, hay ở dưới chân tôi đang đứng, chỉ vài xen - ti - mét, vài mét, hay sâu đến hàng chục, hàng trăm mét nữa…, dễ mấy ai hiểu được, dưới kia đá muốn nói gì?. Tôi cười một mình “loài người chỉ giành nhau những ranh giới vẽ ở trên mặt đất”.
Vương Vĩnh Thái - kỹ sư địa chất của Ban Quản lý - chỉ vào rừng đá lô nhô, lồi lõm, có những gốc đã cùn mòn, có những ngọn non sắc nhọn trên dãy núi điệp trùng, hiện lên trong không gian mờ sương, đẫm lạnh, đủ thiên hình vạn trạng. Và Thái say sưa kể về cuộc đời dài dằng dặc của từng tầng địa chất. Này là Chang Pung, Lutxia, Sika, Làng Sảng…, Hồng Ngài. “Núi Đôi Quản Bạ thuộc hệ tầng Khao Lộc, bị dolomit hóa mạnh”, bất ngờ cậu ta vỗ tay lên trán nói, bởi khi đi qua chỗ đó tôi có hỏi, nhưng cậu ta chưa kịp trả lời. Tôi thấy rõ, mấy quả núi đá vôi màu trắng cứ bở rời, như núi cát để sẵn đó lâu đời. Rồi Thái đọc tên của những hóa thạch cổ sinh, với đủ các giống, loài: Tay cuộn, Cá cổ, San hô bốn tia…, Huệ biển. Nghe Thái kể, chúng tôi như đang xem một bộ truyện tranh nhiều tập, mà mỗi tập kéo dài hàng triệu năm trời, nhưng lại trôi qua chỉ trong có một giờ. Tôi lõm bõm nhớ rằng, có đến ba phần tư ngọn núi ở đây là đá vôi trầm tích, chúng được tạo thành ở rất nhiều giai đoạn khác nhau, điều kiện và môi trường cũng rất khác nhau, chính vì vậy mới có nhiều hệ tầng địa chất khác biệt, mà tầng Chang Pung cổ xưa đã hơn năm trăm triệu năm tuổi, còn địa tầng Hồng Ngài trẻ hơn, cũng đã trên hai trăm triệu tuổi đời. Trải qua bao thời gian, đá bị rửa trôi, bóc mòn, đứt gãy..., tạo thành các chóp nón, để lộ ra các sườn núi đơn nghiêng, mà bây giờ người ta gọi là “sách đá”. Từ thủa bé tôi vốn tính tò mò, nhớ một lần đến xem bộ xương hoá thạch của người tiền sử ở hang Phia Vài, dưới lòng hồ của thuỷ điện Tuyên Quang, mới được trưng bày ở Bảo Tàng giữa lòng thành phố, thấy lớp thời gian phủ dày mười mấy nghìn năm tuổi, đã cổ xưa lắm rồi. Nhưng, so với hóa thạch trước mắt tôi, mẫu vật đó vẫn ở kỳ bào thai.
Anh Mai giọng chậm rãi “Phong hóa và rửa lũa biến đá thành đất”, lúc này tôi cũng dần dà hiểu ra, trải qua hàng trăm triệu năm, các loại đá thành tạo trên trái đất, ngày thì bị nắng thiêu làm nứt da, đêm thì sương sa, mưa lạnh đến nát thịt. Cứ thế, nắng mưa âm thầm thấm sâu vào lòng đá, làm đá bị bong tróc từng lớp da thịt của mình, rồi bị dòng nước xiết bào mòn đến tận xương, đá gục xuống, rơi khỏi những ngọn núi cao, sụp xuống dưới thung lũng hẹp, chúng vụn ra trôi theo dòng nước mạnh, lấp đầy những thung lũng sâu, đắp bồi lên vùng đá trũng và phủ chờm ra tận biển cả. Để rồi muôn loài lưỡng cư, chim muông, cây cỏ…, dần tiến hóa và sinh sôi nảy nở. Trong hàng trăm triệu vòng đời ấy, chúng bị tan rữa ra thành những lớp đất đai màu mỡ, trở thành những miền đất bằng phẳng. Những cánh rừng, cùng bao nhiêu loài chim thú bị lấp vùi, chúng biến thành đá vôi, than đá... Không ai thấy đã bao nhiêu lần biến đổi, mà quả đá cổ xưa già cỗi, lại hoá thành hành tinh xanh kỳ diệu.
Nếu núi cũng giống con người, thì mỗi ngọn núi trên trái đất này, đều có những tính cách riêng biệt của mình. Những dãy núi ở cao nguyên này cũng thế, mỗi ngọn núi thấp cao, đều mang trong mình diện mạo riêng của người nghệ sĩ thiên nhiên. Dãy núi Vần Chải, cách thị trấn Đồng Văn bốn mươi cây số, dọc theo đường Quốc lộ 4C, xuống dưới huyện Yên Minh. Vẫn là những dãy núi nhấp nhô, đuổi nhau tưởng chừng vô tận. Vẫn là đá, chỉ một màu xám chì lạnh ngắt. Chỉ khác là, một bên sườn núi dài hơn, trông như các bé em đứng giơ tay, nghiêng người trong giờ thể dục và tất cả các đỉnh núi ấy, mũi nhọn cùng lao về một hướng. Còn bên trong thân đá là những lớp trầm tích dày, mỏng đều đặn, xếp chồng lên nhau đến tận đỉnh núi. Nếu ta lấy chiếc thước thời gian để đo chiều cao từ chân lên đỉnh núi, thì lớp mỏng nhất cũng mất cả nghìn năm để hóa thạch. Anh Đỗ Đức Mai chỉ tay về dãy núi và bảo “đây là chuyển động nén ép”, rồi giải thích, sở dĩ núi có hình dáng như vậy là do chuyển động kiến tạo. Có nơi vỏ trái đất bị kéo căng, giãn nứt và đứt tách thành rãnh sâu, như ngoài biển cả, còn chỗ này đá bị nén ép, uốn nếp, tạo thành các đứt gãy đẩy lên cao về một phía, nên núi bị nghiêng lệch. Anh lại nói “núi cao nhọn thì trẻ, núi thấp tròn là già”. Hỏi thêm tôi mới biết, trẻ nhất là dãy núi Himalaya củachâu Á, mới hình thành cách đây khoảng năm mươi triệu năm, còn già nhất là dãy núi Ural, nằm ở trên đất Nga, đã hai trăm năm mươi đến ba trăm triệu năm tuổi.
Thung lũng trong mây
Làng Sảo Há, nằm ở thôn Khó Chớ, cách Ủy ban xã Vần Chải quãng hai cây số, đoạn đường dẫn lên làng đã được phủ bê tông, bề rộng vừa đủ để hai con ngựa lên xuống, nhưng càng vào sâu, đường càng bé, góc cua càng gắt và dốc càng cao. Đưa tôi lên trên làng bằng chiếc xe máy còn khoẻ, Sùng Mí Phình người Mông - làm văn hóa của xã - cầm lái leo lên dốc. Dù đã được trấn an, nhưng nỗi lo lắng cứ bám chặt lấy tôi “nhỡ chệch tay lái thì…” tôi không dám nghĩ thêm, vì một bên là vách đá chắc nịch, còn bên kia là vực sâu lổm ngổm đá. Chắc hẳn, ai đến lần đầu tiên, đi qua cũng đều run sợ. Vượt hết con dốc là thấy hai bức tường đá xếp, đã bị rêu phong phủ kín, cao quá đầu người, nằm vuông vắn hai bên lối vào, trên đỉnh tường thành là hai ngôi miếu nhỏ. Phình chậm rãi nói “người già bảo làm từ hồi thổ ty rồi”, anh chỉ vào con đường “ngày xưa người với ngựa đi ở đây”. Thấy tôi tò mò ngắm nghía hai bức tường thành vững chắc, trông như hai lô cốt án ngữ lối ra vào bé nhỏ, Phình lại gần và lấy tay như đóng, mở cánh cổng “để ngăn thú dữ vào”. Qua hết rừng trúc là vào đến làng. Gọi là làng, nhưng ở đây chỉ có hơn hai chục nóc nhà “người Mông hết!”, Phình nói, rồi tiến lại gần đứa bé trai và hỏi “bố mẹ ở nhà không?”, nó nhìn chúng tôi vẻ lạ lẫm, ngượng ngịu và lắc đầu “chi pâu” rồi chạy vào nhà. “Sảo Há, tiếng người Mông là Thung lũng trên cao”, Phình giơ tay muốn giải thích thêm cho rõ “rộng gần năm trăm héc ta đấy!”, anh nói vẻ tự hào. Tôi “à” lên một tiếng và nhìn những dãy núi bao bọc khắp xung quanh làng. Đúng như tên gọi của mình, thung lũng đá nằm ở trên độ cao gần “một nghìn năm trăm mét”, nhưng lại có ngôi làng nhỏ bé, nằm lọt thỏm trong lòng chảo khổng lồ, lổng chổng đá, chen lẫn với với rừng cây xanh tốt. “Ngày mù còn không thấy đường đấy!”, Phình nói với chúng tôi. Không biết còn bản làng nào ở lẫn với cây rừng, lại có những cây cổ thụ cao lớn, mà người già nhất làng lúc lớn lên đã thấy, nó đã đứng ở đó từ bao giờ. Trong làng, uốn quanh mỗi ngôi nhà là hàng rào đá xám đen, lượn cong hình nhẫn nại. Nhưng, bước qua cánh cổng gỗ là thế giới của hồn nhiên, ngây thơ và trong trẻo. Những hàng ngói âm, dương già nua, lấm tấm rêu xanh, bao năm đã đón mưa, ngăn nắng. Bức tường đất dày im lìm vẫn che kín sương đêm, gió buốt. Khoảnh sân trước, mảnh vườn sau và những thân cây vững chãi…, như người bạn tâm giao trong mỗi căn nhà, của ngôi làng cô đơn. Những tưởng nơi đây chỉ xám một màu lạnh lẽo, nhưng may thay, đá vẫn giữ lại dưới chân mình những vốc đất, để những cây ngô, quả bí và ngọn cải xanh, cùng những cây đậu tương…, lớn lên xanh tốt. Bao năm rồi vẫn thế, những cây quả.., cứ nối nhau từ mùa này gối sang mùa khác. Không ai nhớ, cây ngô đã sống trên vùng đất này từ lúc nào, nhưng từ khi sinh ra, ngô đã làm bạn của bao đời ông cha, sống trên vùng đất khát. Phình cầm thân cây ngô phơi ngoài sân trầm tư nói “giống cũ, cây bé, quả lại nhỏ”, rồi anh kể những việc từ lúc cho bò đi cày đất, xong tra hạt, đợi hai tháng ngô lên xanh mới được vun gốc, rồi bón phân, lại chờ... “Gần nửa năm mới được hái”, anh nói vẻ kiên nhẫn. “Nó quen đất, lớn khoẻ lắm!”, anh cười, chỉ vào những quả ngô treo trước hiên nhà. Cậu Trưởng thôn Vàng Mí Ná đưa chúng tôi đi thăm mấy ngôi nhà quanh làng, thật bất ngờ khi biết, ở Sảo Há tất cả cùng mang dòng họ Vương. Tôi nghĩ bụng “làng Ghi nét”, rồi tự cười với mình. Trong ngôi nhà trình tường của chú Vàng Dũng Cấu, chúng tôi nghe chú kể về cách giữ lại nước mưa mùa hè, để mùa đông không phải xuống núi chở về, rồi mùa cày trồng ngô, vun cây lanh dệt vải. Thấy vợ chú đang xe cuộn dây lanh, tôi hỏi “học khó lắm không ạ?”, cô Mỷ cười “làm từ bé rồi!”. Chú Cấu đưa tôi chén rượu rồi bảo “lúc bắt về đã biết làm rồi mà”. Tôi hỏi đùa “về mới học được không?”, chú tủm tỉm nói “không biết không lấy đâu!”. Thấy tôi loay hoay cầm ống điếu trúc to, cỡ cái bát ăn cơm màu vàng óng nói “thử xem kêu to không?”. Chú Cấu cầm cây điếu, trông như khẩu súng thần công có từ thời Pháp, bảo “thế này”, rồi áp má vào miệng điếu. Sau những tiếng kêu lục ục nặng trĩu, nghe như dưới thung lũng vọng lên, giọng chú chợt trầm buồn “cây to còn ít thôi!”, rồi thở dài “lấy đi nhanh quá!”. Phình gõ vào ống điếu như an ủi “mùa măng nó lại chui lên!”. Đột nhiên Ná nói như phát hiện ra điều gì “đá không biết mọc như cây!”. Phình cầm tay chú Cấu, tay kia vỗ vào vai Ná “không cho chặt đá nữa!”. Tôi vội nói “không còn đá, không ai đến chơi đâu!”. Chúng tôi cùng nhau đưa chén rượu ngô sóng sánh lên “cạch” một tiếng rồi đồng thanh “trăm phần trăm!” và nhìn nhau với ánh mắt vui cười.
Không ai nhớ từ lúc nào trên miền cao nguyên đá núi, chỉ người Mông là giỏi nghề trồng lanh dệt vải. Ngay từ lúc vừa sinh, miếng tã lanh đã ủ ấm cho những sinh linh bé nhỏ chào đời. Khi đã được đặt tên, tấm áo lanh đầu đời phải do tay của người mẹ dệt. Món quà quý của tuổi ấu thơ, là sợi dây lanh buộc vào cổ tay để cầu phúc đức. Rồi đến ngày kết hôn,lễ cưới của người Mông không thiếu được bộ váy áo dệt từ vải lanh, thêu bông hoa với các màu xanh, trắng, đen rực rỡ. Và người Mông vẫn truyền cho nhau câu nói “đói chết cũng không ăn hạt thóc giống, nghèo rách cũng phải có váy áo lanh mặc lúc chết”. Bởi thế, những cô con gái Mông sống trên cao nguyên đá, lúc bé đã đi vun gốc lanh, lớn lên đã biết xe lanh dệt vải. Vì lẽ ấy, những cô gái người Mông khi lấy chồng rồi, vẫn nhớ may cho cha mẹ mình và cha mẹ của chồng đủ bộ áo váy bằng vải lanh, để mặc lúc về nơi tiên tổ. Sợi dây lanh như cây cầu, nối cuộc sống của người trần, với thế giới của thần linh huyền ảo. Mãi đến lúc ấy tôi mới hiểu ra rằng, tại sao những người đàn bà Mông mà tôi bắt gặp trên đường, hay ở góc chợ phiên, dù trên lưng vẫn mang chiếc gùi nặng nhọc, nhưng họ vẫn cần mẫn, miệt mài, vân vê sợi lanh dài, như những vòng đời của con tằm nhả kén. Khi những đám mây tụ về đỉnh núi, mấy đứa trẻ nô đùa ngoài nương ngô, lại ào về bên bếp lửa reo vui, trong ánh mắt long lanh, thơ ngây căng đầy ước vọng. Ngoài sân, mấy anh em nhà lợn quẩn quanh dưới chân chị chủ nhà, đang rít lên nũng nịu. Trên sàn tre, những chàng trống cựa cất tiếng gọi chị mái mơ cục tác… Tất cả, dường như vẫn còn vẹn nguyên của những đơn sơ, yên bình, mà cha ông họ đã cất giữ đến tận bây giờ. Và tôi cứ lẫn lộn vui buồn, khi được tận thấy những nụ cười chứa chan của tấm lòng chân thật, trong ngôi làng Sảo Há, trên thung lũng đựng đầy mây mù sớm tối.
Tháp núi dựng trên sông
Có một nơi đã trở nên quen thuộc trên cao nguyên đá, ấy là “hẻm Tu Sản”, nằm ở xã Pải Lủng, của huyện Mèo Vạc. Từ chỗ này, cứ ngược dòng sông Nho Quế ba mươi kilômét là đến biên giới Việt - Trung. Cũng hiếm có nơi nào lại có sự hiện thân rõ nét nhất, của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống của trái đất, mà cách đây từ hai, đến năm triệu năm về trước. Không biết, có phải thiên nhiên đã cố tình sắp đặt, hay do sự tình cờ hiếm hoi, mà thiên tạo đã dựng lên hai bên vách núi cao sừng sững, chạm đến mây trời, như những cánh cổng thời gian khổng lồ, mở ra quá khứ cổ xưa của các tầng địa chất, đã hàng trăm triệu năm. Hai vách đá dựng đứng kéo dài, như hai tòa tháp song sinh khổng lồ, khắc họa dấu ấn của thời gian, của sự chuyển mình chưa bao giờ ngừng nghỉ giữa đất trời. Nhưng không chỉ có thế, hẻm vực Tu Sản càng trở nên long lanh và diệu kỳ hơn, khi dòng sông Nho Quế màu ngọc bích lờ lững, miên man chảy, ôm lấy hẻm vực sâu trong xanh, mát rượi, khiến cho bất kỳ ai đến đây, cũng phải ngợp mình trước nhan sắc vừa hoang sơ mỹ miều, vừa mạnh mẽ dữ dội, nhưng lại vô cùng quyến rũ, của thiếu nữ thiên nhiên vùng cao nguyên đá. “Đỉnh núi cao nhất, thung lũng sâu nhất trên trái đất này, cũng chỉ như những vết lồi lõm trên vỏ quả cam”, anh Mai nói đầy ví von. “Thật hở anh?”, tôi thốt lên đầy kinh ngạc vì nghĩ rằng, hành tinh này dù vô cùng to lớn, nhưng chắc phải gai góc lắm, do những ngọn núi cao và hẻm sâu ngoài biển rộng. Nhìn vẻ mặt của tôi, anh Mai cười thành tiếng và bảo “cao nhất là đỉnh Everest, sâu nhất là rãnh Mariana nằm dưới đáy đại dương”. Tôi thấy hơi run người khi đứng trên con đèo Mã Pì Lèng và nhìn xuống hẻm vực sắc ngọt. Sợ hãi và thích thú!. Đó là thứ cảm giác lẫn lộn mà tôi chưa từng gặp phải, khi con thuyền ngược dòng sông Nho Quế quanh co, đầy thơ mộng. “Nhỡ có gì từ trên kia rơi xuống!”, tôi hơi lo lắng khi đứng trước mũi thuyền nhìn lên đỉnh núi. Rồi những câu hỏi cứ dội sâu vào vách núi, không biết, trong vách đá kỳ vĩ này có con khủng long khổng lồ nào chưa chịu hoá đá, mà phố phường tôi ở, có lúc lại rung rinh?. Con King Kong qua hẻm núi này, chẳng may bị mắc kẹt, nước dâng cao thì quá nhiều rắc rối…?. Và, bên trong thế giới của đá, còn biết bao những điều bí ẩn, mà đến nay, loài người dù vô cùng to lớn, nhưng chưa ai tận thấy bao giờ.
Tôi cứ miên man nghĩ, dù đá rất cứng chắc, tuổi cổ nhất thế gian, nhưng không biết tái sinh, luân hồi như những cây cổ thụ, hay rừng trúc thẳng tắp như trên làng Sảo Há. Rồi những vẩn vơ lo lắng thấy trái đất của mình, như người mẹ đã sinh xong đứa con cuối cùng, giờ đến lúc nghỉ ngơi. Nhưng con người, những đứa con của mẹ trái đất, có để mẹ thảnh thơi?. Từ khi loài người chỉ biết ghè đẽo đá, đến bây giờ chỉ mười mấy nghìn năm, đến thế kỷ mười chín gần đây mới chế ra thuốc nổ. Nhưng thật đáng buồn từ khi có thuốc nổ, không biết đã bao nhiêu ngọn núi được sinh ra từ mấy trăm triệu năm về trước, mãi không còn tồn tại. Khủng khiếp hơn, thứ thuốc được “tinh chế” ấy, không phải dành cho đá. Và câu nói thật thà của cậu Trưởng thôn Sùng Mí Ná “chưa ai thấy đá đẻ bao giờ!” khiến tôi thêm day dứt. Nhớ lúc ngồi uống rượu, anh Cấu bảo “đàn ông Mông hiểu đá, đàn bà Mông biết lanh”. Ừ nhỉ, những chỗ nào đá bị gãy đổ, cứ để những người đàn ông Mông sẽ đắp vá lại, cho dù vách đá có cao, vực kia có sâu đến mấy. Bởi đá là người bạn, là máu thịt của họ, sống với đá từ thuở lọt lòng. Còn những người đàn bà Mông, không bao giờ quên cách gieo hạt lanh, dệt thành vải của mình.
Lúc chia tay chúng tôi, Đôn nói nhỏ “đá cũng mọc lại đấy!”, làm tôi cứ lâng lâng vui sướng. Tôi ước ao sẽ đi thăm hết những công viên trên đất nước của mình, rồi đến các nước có công viên địa chất, để xem nơi nào chỉ có đá, như Công viên địa chất UNESCO Cao Nguyên đá Đồng Văn.
Hà Giang, 7/2025
L.T
22-10-2025
22-10-2025
21-10-2025

.jpg)






