Lão Thòn

Thứ ba, ngày 21-10-2025, 08:53| 2.510 lượt xem

Truyện ngắn của Trần Mỹ Thương

 

 

Nắng tháng Sáu rát rạt. Mặt đường nhựa quẩn lên một làn sóng hơi ảo giác, có chỗ nhựa đường chảy ra, đen nhức, khét lẹt. Dưới đoạn mương ngay cổng lên nhà của Thuổm, lão Thòn vô tư mặc sức khỏa thân tắm. Người ta gọi lão là: “Tuyến cố định Tân Mỹ - Chiêm Hóa” bởi vì sáng sáng, cứ tầm lúc mặt trời vừa lấp ló nhoi lên thì lão Thòn đã lang thang từ nhà ra đến ngã ba rồi thẳng hướng ra phố huyện, quá trưa đã lại thấy lão trở vào, bất kể hè hay đông, ngày nào cũng thế. Rồi mặc kệ nắng mưa, nóng rét, lão cũng sẽ luôn dừng ở đoạn mương trước nhà Thuổm để tắm. Rét thì lão chỉ khỏa nước qua loa, ngồi ngẩn tò te cười mình, lảm nhảm một lúc. Còn trời nóng thì lão phải dầm mình ở quãng mương ấy cả tiếng đồng hồ mới chịu rời đi.

Lão tắm. Vẫn biết cởi cái quần đã rách toạc hết cả phần đũng để trên bờ mương khỏi ướt, rồi để thồ lồ cả cái người đen bóng nằm tơ hơ trên nước, ngay cạnh đường, kệ ai đi qua đi lại, chả thèm biết xấu hổ. Lão nằm đấy, lầm bầm nói nhảm, cái bình tông buộc vào đoạn dây vải thắt ngang hông, dập dềnh nổi trên mặt nước, lâu lâu lão lại ấn cả bàn tay vào cái bình, nhìn nó bị đè chìm xuống nước rồi lại bật nảy lên trên mặt nước ngay khi lão vừa thả tay ra, rồi cười sằng sặc thích chí.

Nắng đến tối mắt tối mũi, nên đã giữa chiều vẫn chẳng ai buồn ra khỏi nhà đi làm việc. Thi thoảng mới có vài cái xe máy phóng vèo qua. Người ta đã quá quen với cảnh lão Thòn điên tắm tiên ở cái đoạn mương này, nên chẳng ai thèm để ý.

Nói đến cái bình tông của lão. Nó là một vật bất ly thân kể từ ngày lão hóa điên từ chiến trường B trở về. Chiến trường B xa lắm, tận miền Nam đất nước. Thế mà lão Thòn đã từng đi lính ở tận chiến trường B từ cái ngày mà cả làng cả xã dắt díu nhau lên núi Trù Tri tìm vàng. Xã lão Thòn khi xưa nghe đâu là khu vực đất có nhiều vàng vô kể. Có người đổi đời nhờ đào trúng mạch vàng núi hoặc đào san đất làm nền nhà cũng cuốc được cả rổ. Nhưng đất trồng cấy thì lại chẳng được màu mỡ là bao. Chưa kể thời tiết khí hậu ở xứ này cứ biến đổi khó lường, mất mùa liên miên. Thế nên, trong cái khốn khó tối tăm của cuộc sống đói nghèo, người người, nhà nhà, từ già trẻ, lớn bé, chủ yếu là những người không có đủ tiêu chuẩn sức khỏe để người ta gọi đi lính thì đều ở nhà đi tìm vàng mong được thoát nghèo, thoát đói. Còn có người, vì sợ đi lính, vì ham đi tìm vàng mà chịu tự cắt cả gân chân cho thành thọt để được ở nhà, lê lên núi ăn dầm nằm dề đào bới. Người ấy đâu xa, là anh trai của Thòn. Trước lúc làm thế, còn rủ cả Thòn làm theo, nhưng Thòn không chịu.

Ngày ấy, Thòn có tên là Thoàn hẳn hoi, là con trai út trong nhà có bảy anh chị em. Các anh chị đã đều gả chồng, dựng vợ. Cha mẹ mất lúc Thoàn chưa kịp lấy vợ, nên ở với nhà anh cả. Từ ngày anh của Thoàn bị thọt, mải mê tìm vàng trên núi chẳng buồn về nhà. Chị dâu lúc ấy, một nách ba con, đứa bé còn chưa cai sữa mẹ cũng phải ăn cơm nhá thật sớm cho chắc bụng để mẹ nó còn quần quật làm việc. Cấy hái, xay thóc, giã gạo đều đến tay. Những việc nặng như cày bừa, quạn lúa1, thì Thoàn vơ lấy cả mà làm. Tại mấy con trâu nhà Thoàn có cả trâu cà, nó khỏe lắm, nó còn biết bắt nạt đàn bà, nên chỉ có Thoàn là thuần được chúng nó. Lúc cày bừa, chị dâu chỉ giữ trạc dắt đi, Thoàn phía sau giữ cày, giữ bừa và luôn miệng “pạt, giệt” nó mới chịu đi theo đúng đường cày, đường bừa và làm không đòi nghỉ. Lúc quạn lúa, cả đống lúa khô ở trong cái bện2 to kín cái sân, chị dâu chỉ việc ở ngoài dùng ngoạm cây mà xới bung những bông lúa lên để Thoàn điều khiển mấy con trâu vòng quanh cho nó quần đều, làm đến tận tối mịt cả trâu lẫn người mệt lử mới nghỉ tay. Đàn bà vùng núi, có khổ cỡ mấy cũng không than lấy một lời. Chị dâu bằng tuổi em chú, lúc bước vào nhà Thoàn làm dâu còn chưa đầy mười sáu tuổi. Lần lượt cấp tập đẻ liền ba đứa, đến đứa thứ ba thì chị mới vừa hai mươi mốt. Vất vả là thế, áo quần xộc xệch, mốc thếch, mà chị vẫn đẹp, cái đẹp căng tròn. Thế mà giữa lúc ấy anh trai Thoàn lại bỏ bê vợ con, đêm ngày hì hục tìm vàng trên núi, họa hoằn lắm mới về nhà lấy gạo, mài cuốc mài dao rồi lại đi. Xã người ta tuyển quân, nhưng vì hoàn cảnh anh trai bị tai nạn thọt chân, mất một nhân lực lao động chính, nhà lại đông con nhiều cháu, chỉ trông vào Thoàn. Chính quyền địa phương cũng kêu gọi sức người làm ra của cải ngô sắn để góp phần cho chiến trường đánh giặc, cần nhiều công điểm, nên Thoàn còn được đôi lần khất lính.

Cả ngày quần quật làm việc với nhau, chẳng tránh được đôi lần Thoàn phải lén nuốt nước bọt xuống cổ khi vô tình thấy cái khe ngực của chị dâu vì mải làm bung cả cúc áo mà lộ ra. Cũng lắm khi nửa đêm chị phải chạy ào xuống vũng nước suối ngâm mình khi chẳng may bắt gặp cảnh em chú nằm ngủ say sưa ở gian trái, mình cởi trần, tấm lưng cuồn cuộn những thớ cơ. Khổ sở, quằn quại bởi vì những chuyện thầm kín trớ trêu. Cái khổ sở chẳng thể nói ra được với ai, khi mà anh trai Thoàn - chồng của chị cứ mất dạng biền biệt trên núi nên thành ra người ở nhà cứ phải quằn quại tránh nhau như thế. Bao lần Thoàn leo núi tìm anh về mà anh nào có chịu. Cảnh đói làm người ta chẳng đủ sáng mắt để nhìn xa một việc gì. Thế rồi cũng đến khi chẳng thể lén lút tự mình chịu đựng được mãi, thay vì nhảy ùm xuống suối khỏa nước ngâm mình thì chị bạo gan nhảy tọt vào lòng em chú. Một thân thể nóng rực căng đầy bỗng chốc nằm gọn lỏn trong vòng tay mình như thế, Thoàn chẳng còn cách nào để nuốt nước bọt của mình ngược vào trong. Họ lao vào nhau, quằn quại với nhau, khổ sở vật lộn nhau khi bọn trẻ con đã đều say giấc. Cặp vú của chị căng cứng, rỉ sữa ướt nhẹp một vùng ngực áo. Hửng sáng, Thoàn lao ra khỏi nhà chạy một mạch vào khe Nậm Thuổm trốn mình ở đấy liền mấy ngày đêm không dám về nhà. Phải hơi em chú, liền cả mấy ngày chị cất công lùng sục tìm Thoàn khắp nơi, đến khi tìm được Thoàn trong khe suối Nặm Thuổm, nơi mà mỗi đêm trước kia khi trong đầu quẩn lên ý nghĩ về những thớ cơ cuồn cuộn của Thoàn, chị đã luôn lao đi rồi nhảy tùm xuống đấy cho nước lạnh dìm chết những khát khao. Nhìn cái bộ dạng thảm hại của Thoàn nằm ngửa mặt trên phiến đá, mắt sâu hoắm nhìn lên trời xanh, râu dài ra, tóc rối bù như tổ quạ thì chị lại như tỉnh mộng mà quay lưng bỏ về. Ngày anh trai Thoàn lếch thếch từ núi trở về, mang theo một dúm vàng nho nhỏ, cũng là ngày Thoàn khăn gói quả mướp cùng nhiều thanh niên trong xã lên đường đến khu tập kết đi đánh trận, chiến trường vào giai đoạn ác liệt, cần thêm chi viện từ khắp ba miền nơi. Thoàn đi, mặc cho anh trai can ngăn khuyên nhủ rồi bày trò tìm cách cho anh trốn lính. Thoàn thà đi lính, còn hơn phải tìm cách trốn bản thân mình.

Thằng Thuổm, con út của anh trai vào lớp một thì Thoàn được người ta đưa về trao trả cho gia đình vì bị sức ép bom mìn hóa điên. Anh mặc một bộ đồ lính đã cũ, trước ngực toòng teng đeo một cái bình tông đựng nước màu rêu đã tróc sơn loang lổ, vài chỗ móp méo. Đón lấy vài bộ tư trang và sấp giấy tờ quân ngũ của Thoàn từ tay mấy người mặc áo lính, anh trai nhìn Thoàn vẻ dửng dưng, chẳng tỏ ra được chút xót xa hay mừng rỡ khi thấy em hóa điên trở về. Ba đứa lớn thập thò ngoài vách lấm lét ngó xem. Còn thằng Thuổm rúm vào, bấu áo mẹ, làm mặt mẹ nó càng thêm tái bợt. Thoàn ngẩn tò te nhìn lũ trẻ một hồi, rồi lại vân vê cái bình tông mà cười hềnh hệch. Anh trai, thay vì nhìn em hay là sụt sùi nắm lấy bàn tay em thì lại chỉ nhìn vào cái bình tông Thoàn đeo lủng lẳng trên ngực. Một người lính đeo quân hàm thượng tá trầm giọng kể như giải thích: "Cái bình tông của đồng đội Thoàn, hi sinh lúc đi tìm nước uống cho Thoàn đấy. Chiến trận hôm ấy chúng tôi hi sinh gần hết, xác chồng lên nhau. Chỉ còn vài anh em sống sót nhưng đều bị thương nằm la liệt, Thoàn bị nặng nhất, cứ luôn mồm kêu khát nên thằng Đông mới cố lết cái chân bê bết máu dậy đi tìm nước cho Thoàn uống. Quay trở về sắp đến nơi thì bất ngờ máy bay giặc quay lại, rà thêm một lượt bom nữa. Đông bị hất tung lên, xác nát tan tành. Thoàn ở cự ly gần nhất, chứng kiến rõ mồn một. Quá kinh hoàng, cộng thêm áp lực tiếng bom nổ, thành ra mới hóa điên. Từ đấy cái bình tông cứ nhất nhất đeo trên người”.

Nửa như nghe ra câu chuyện, Thoàn lại ngẩn người, rồi mếu máo. Không khí nặng như chì. Thằng Thuổm nghe chuyện, đứng đấy nhìn chú nó một hồi rồi mắt cũng rưng rưng. Thoàn mất hẳn tên mình từ ngày đó, bởi vì cái tên Thòn3 ấy giống với cái dáng vẻ điên điên dại dại của anh hơn.

Kể từ hôm Thòn đi lính, anh trai cũng bị chị dâu cương quyết ép phải ở nhà, không cho leo núi đào đất tìm vàng nữa. Đành cà nhắc cái chân thọt làm lụng loanh quanh, bao nhiêu việc nặng nhọc vẫn một mình chị dâu cáng đáng, cho đến khi đẻ thẳng Thuổm ra, mấy đứa lớn cũng bắt đầu biết việc, đỡ đần mẹ thì chị dâu mới đỡ phần vất vả. Vừa thế, thì Thòn về, mang theo gánh nặng một miệng ăn khỏe mà chả biết làm việc, cứ tối ngày lang thang. Anh chị cãi vã đều hơn, tăng lên theo những cơn ú ớ vật lộn ngày càng dày lên của Thòn lúc trái nắng, trở trời, hoặc đì đùng sấm sét.

Một chiều cuối hạ, người ta hò hét nhau múc nước dập lửa. Thòn trong cơn điên loạn, chân tay giãy giụa quăng đạp mọi thứ, gẩy tung cây củi gộc lên gác bếp. Lớp bồ hóng dày cộp, đen nhánh gặp than bén lửa. Nhìn đám cháy ngùn ngụt bốc thẳng từ gác bếp lên xà nhà, Thòn ú ớ rú gào rồi ôm đầu nhảy phốc khỏi sàn nhà mà bỏ chạy. Người ta chỉ cứu kịp vài tạ thóc với mẹ con đàn lợn đen chưa tách sữa. May còn cả đàn trâu thằng Thuổm đi chăn chưa lùa về. Tất cả giấy tờ của nhà anh chị lẫn giấy tờ của Thòn còn chưa kịp trình xã để cho Thòn hưởng chế độ, đều bị lửa nuốt gọn. Từ dạo ấy, Thòn phải tự ở riêng. Một cái nhà người làng chụm vào làm hộ cho nhà anh trai, chếch khỏi nền nhà cũ đã cháy rụi, đen sì một khoảng đất. Còn một cái nữa, bé thôi, to hơn cái lều nương một tí, là nhà của Thòn, cách nhà anh trai một đoạn mương đi vào trong mảnh ruộng cạn trồng ngô gần đấy, không cho ở cùng nhà anh chị nữa. Cũng từ dạo ấy Thòn cứ lang thang, nhặt nhạnh được gì ăn nấy. Ngày hai cữ, sáng ra ở ngã ba thôn ra phố huyện, quá trưa lại tha thẩn từ phố huyện mò về, có lúc cầm theo gói mì tôm được người ta cho, có lúc vừa đi vừa nhồm nhoàm gặm miếng thịt gà với nắm xôi chắc đi qua đám cưới, đám ma nào được người ta cho làm phúc. Lang thang, nhặt nhạnh, bữa đói nhiều hơn bữa no, chưa kể lúc thời tiết trái trở lại quằn quại vật lộn đau đớn. Ấy thế mà Thòn sống dai. Người ta thường ví “khỏe như trâu điên”, trâu đã khỏe, trâu điên còn khỏe hơn, thế thì người điên chắc cũng vì thế mà khỏe, mà sống dai một cách lạ thường. Cái kiếp người điên của Thòn nó kéo dài từ lúc người ta gọi là “Thằng Thòn” cho đến khi thành “Lão Thòn” còn chưa hết kiếp. Mà quái lạ, càng về già lão càng thêm đổ đốn, ai cho manh áo cái quần nào lão cũng phải xé toạc hết cả đũng quần, bứt hết cúc áo ra mới chịu mặc, mặc mà như không. Đã thế, lại thêm cái thói thích tắm truồng ở đoạn mương phía dưới cổng nhà anh trai, ngay cạnh đường cái. Mà cái đoạn đường từ khi đổ nhựa lại lắm người đi qua. Sức vóc một lão điên, đã chẳng còn khỏe như vâm nhưng cái dáng cao to, làn da nâu bóng lúc nào cũng tơ hơ phơi ra ấy vẫn khiến người ta trờn trợn khiếp đảm. Đói no, bẩn tưởi, rách rưới chẳng làm lão yếu đi cho được. Lão cứ mặc sức mà phơi trần tất cả ra mương.

Bốn đứa con nhà anh trai thì ba người đã ra riêng. Thuổm là út ít, cũng đã con cái đề huề. Người miền núi xưa nay bố mẹ thường sống cùng con trai út. Vậy mà Thuổm lại ở riêng vì bố anh một mực đòi sống cùng con trai cả. Thuổm lờ mờ nghe ngóng thấy những xì xào bàn tán về chuyện bố anh nghi ngờ anh không phải con ruột của mình, nhưng anh chẳng để tâm việc đó. Cứ nghĩ, người ta rỗi việc quá thì đưa chuyện cho vui thôi. Nhưng cả đời anh có cố gắng cỡ nào cũng chẳng bao giờ hòa hợp được với bố, càng già ông lại càng khó tính, xét nét anh nhiều hơn. Xét nét anh, thờ ơ ghẻ lạnh cả mấy đứa cháu nội. Nhất là mỗi khi bắt gặp anh mang đồ ăn cho người chú điên của mình lúc ông lên cơn đau đầu co giật vì vết thương tái phát, bố thường nhấm nhẳng chì chiết. Anh em như khúc ruột già, sẩy cha thì còn chú. Vậy mà bố anh lại chẳng thương đứa em bệnh hoạn của mình. Thuổm thấy lòng nhoi nhói. Cũng mãi cho đến khi làm nhà ra ở riêng hẳn, thì Thuổm mới dám quyết tâm chạy vạy hồ sơ, thủ tục để chú Thòn được hưởng trợ cấp. Việc ấy kéo dài suốt hơn năm trời, từ thôn đến xã, đến huyện, rồi anh lần tìm xuống tận Sở Lao động - Thương binh xã hội của tỉnh trình bày hoàn cảnh, xin được chỉ cho đường đi nước bước, các việc phải làm. Cuối cùng thì Thuổm cũng được cầm trên tay tờ giấy chứng nhận và cuốn sổ bệnh binh cho người chú của mình. Anh cũng là người được chính quyền chứng nhận ủy quyền để nhận trợ cấp hằng tháng cho chú. Chuyện cơm áo, thuốc men cho chú lúc lão ốm đau, đổ bệnh, nhờ có những đồng tiền trợ cấp và chế độ khám chữa bệnh cho thương binh, bệnh binh mà nhẹ gánh hơn.

Tháng Bảy về, là mùa tưởng nhớ công ơn của các anh hùng thương binh, liệt sĩ. Năm nào lũ trẻ trường cấp hai của xã cũng vác những bó củi nhỏ hoặc xách những túm gạo đem từ nhà đến gửi ở nhà Thuổm cho lão Thòn. Nhà trường vẫn luôn kêu gọi tinh thần tương thân tương ái, uống nước nhớ nguồn, nên chẳng năm nào quên mang quà đến cho lão Thòn vào những ngày tri ân. Chỉ sợ lão lên cơn điên lại đem vứt hoặc đốt hết đi nên bọn trẻ thường gửi nhà Thuổm nhờ anh quản hộ. Thuổm cũng tự thấy mình phải có phần trách nhiệm chăm sóc người chú không may. Cái lý do chú phát điên do sức ép bom mìn và do ám ảnh cái chết của đồng đội, Thuổm còn nhớ mãi. Bố anh càng ghét bỏ, thì anh càng phải thương lấy chú, thế thôi.

Dạo gần đây người ta hay thấy lão Thòn quanh quẩn ở nghĩa trang liệt sĩ ngoài phố huyện, từ ngày nghĩa trang ấy khánh thành và đưa nhiều hài cốt liệt sĩ về quy tập. Lúc thì lão mang theo một nắm cơm, khi thì cầm theo một túm quả, chắc được cho, rồi mang lên, ngồi cười hềnh hệch, lúc lại khóc tu tu ở chỗ mấy ngôi mộ chưa có thông tin liệt sĩ. Cười khóc chán lại tha thẩn mò về.

Ký ức một thời lửa đạn càng về già càng tra tấn lão, tra tấn cái đầu đã phát điên của lão. Lão chọn ngồi cười khóc ở đấy, như là đang cùng những vong linh đã khuất vì hòa bình kể cho nhau nghe về những ám ảnh buồn vui nơi chiến trận.

Một ngày sầm sập mưa ngâu, bà mẹ bất hạnh của Thuổm vào giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư gan quái ác, trong lúc anh thay đệm cho mẹ, bà cố thều thào thú nhận thân phận thật của Thuổm. Cái tên anh, nhắc để bà nhớ mãi những chuyện khổ sở và sai trái của một người đàn bà, nhắc cho bà cái dằn vặt của mình kể từ lúc tìm thấy chú Thoàn trốn mình trong khe suối Nặm Thuổm, râu dài tóc rậm và mắt vô hồn trũng sâu. Nửa như bất ngờ, nửa như đã lờ mờ biết trước. Thuổm thất thần bỏ đi, cầm lấy cái xe uyn lao vào màn mưa trắng xóa. Anh định chạy đi đâu, lòng anh cũng chẳng rõ. Chỉ biết rõ là, sự thật cuối cùng sẽ chẳng bao giờ giấu được. Nước mưa chảy xuống mồm mặn như pha muối. Anh cứ thế lao đi, tưởng như vô định mà lại vô tình có đích đến. Anh dừng khự lại nơi cổng nghĩa trang của phố huyện, bước nhanh về phía người đàn ông đang ôm cái bình tông cũ, co rúm, ướt như chuột ở gần mấy ngôi mộ tập thể chưa xác định được rõ thông tin. Thuổm vỗ nhẹ hai đầu gối đã bắt đầu trơ xương, nắm lấy bàn tay đã nhăn nheo nổi đầy gân guốc, kéo lão đứng dậy, thì thầm như giục: mừa a, po ơi!4.

T.M.T

Chú thích:

1. Quạn lúa: Là việc vò lúa, quần lúa ra hạt bằng sức trâu, thường thấy ở miền núi phía Bắc thời kỳ trước.

2. Bện: Được đan bằng cật nứa tạo thành một chiếc thảm rộng để phơi thóc, vò lúa. Ngày nay ít thấy do đã được thay thế bằng bạt.

3. Thòn: Một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc thường gọi những người ngốc nghếch, có vấn đề về trí tuệ là “thòn”.

4. Mừa a, po ơi: Về thôi, bố ơi! - dịch từ nghĩa câu tiếng Tày vùng Đông Bắc.

 

Minh họa của An Bình

Tin tức khác