Khoái “cò”

Thứ hai, ngày 18-11-2024, 10:54| 3.166 lượt xem

Hồ Văn

 

 

 

Gã có cái biệt danh như vậy tự lúc nào, chả ai hay. Chỉ thấy thiên hạ gọi như vậy từ lâu, chí ít thì cũng từ cái ngày tôi bất chợt để ý đến gã.

Hóa ra chẳng phải đâu xa lạ, nhà gã cách nhà tôi chừng hai dãy phố. Nữa, gã cũng chạc tuổi tôi. Lại nữa, xưa học cấp ba, tôi với gã hình như cùng trường, nhưng khác lớp. Chẳng thân, cũng chẳng sơ nên chẳng thằng nào để ý đến thằng nào âu cũng là việc bình thường.

Khoái người gầy, tóc tai bờm xờm, khuôn mặt nhỏ thó đặt ngay ngắn trên cái cổ ngẳng như cổ cò. Tưởng cái tên Khoái “cò” từ đó mà ra, hóa không phải.

Khoái làm nghề bẫy cò. Nói là nghề chưa hẳn đã chính xác, nhưng cái việc bẫy cò cũng giúp gã thêm thắt ít nhiều vào cái công cuộc nuôi một lúc ba cái “tàu há mồm” đang tuổi ăn tuổi lớn. Vợ gã bán rau chợ cóc, thu nhập chắc cũng chẳng đáng là bao, được cái lành. Gia đình gã cứ thế mà bươn mình, năm này qua năm khác.

Cái việc bẫy cò của Khoái, bảo nhàn hạ thì cũng đúng, nói cơ cực thì cũng chẳng sai. Sáng dậy, gã sửa soạn đồ nghề, úp bát mì tôm, vẫn kịp pha ấm trà mạn trước khi leo lên cái xe máy cà tàng, nổ máy. Đồ nghề của gã chỉ vỏn vẹn có chừng hai chục cái tay tre gai được chuốt kỹ, một hộp keo dính đặc biệt, nghe nói nhập khẩu tận bên Úc, và không thể thiếu một “con át chủ bài”, đó là con “cò mồi”. “Cò mồi” là một con cò mạnh khỏe, đẹp mã được gã tuyển chọn kỹ lưỡng từ những con cò bẫy được. Con “cò mồi” bị khâu mắt, buộc chân trên một cái tay tre. Ra đồng, gã tẩn mẩn cắm những cái tay tre đã được gắn keo xung quanh con “cò mồi” một cách cẩn thận, kỹ lưỡng rồi chỉ việc ngồi đợi. Đàn cò chấp chới bay qua, con “cò mồi” tung cánh mời gọi. Cả đàn cò sà xuống. Gã chỉ việc nhặt những con cò dính bẫy, bẻ cánh, cho vào bao. Ngày tiếp ngày, cứ mỗi sáng thấy gã cưỡi con xe cà tàng đi ngang, tôi lại có cảm giác những cánh cò trên cánh đồng Ỷ La, Kim Phú cứ thưa dần. Đến lạ.

Công việc của Khoái chưa kết thúc tại đó. Cứ khoảng ba giờ chiều, gã xách cái bao tải cò đã bẫy được phóng tuột về nhà. Hôm nào khá thì cũng dăm ba chục con, hôm nào tệ thì chỉ vài con dính bẫy. Gã ngồi tỉ mẩn vặt lông sống những con cò rồi buộc chân vào đoạn dây chuối, đoạn “diện” cái áo bay màu cỏ úa đã sờn vai,  xách xâu cò ra đứng đầu đường bán lẻ. Những con cò tội nghiệp bị bẻ cánh, vặt lông, trói chân vẫy vùng một cách yếu ớt và vô vọng. Người qua đường xúm vào. Nhiều kẻ chẳng biết là chim gì, vậy nên lắm khi Khoái thu bộn tiền vì gã cứ liến thoắng nửa đùa nửa thật rằng chim bẫy trên rừng. Có lần, vợ tôi bảo: “Nay thấy có lão bán mấy con chim rừng, định mua mà người khác tranh mất”. Tôi chả nói gì, bụng bảo dạ: “Tệ đến thế là cùng”.

Ngày tháng cứ thế trôi đi…

Bẵng đi một dạo, tôi không thấy bóng dáng Khoái “cò”. Lại có cái cảm giác những cánh cò dập dờn trên cánh đồng Ỷ La, Kim Phú ngày càng trắng muốt. Hỏi ra mới biết, thành phố vừa mở thêm con đường mới. Mấy ông phóng tuyến đúng hướng nhà Khoái, nhưng đi qua cái vườn sau. Gia đình Khoái vẫn giữ được căn nhà từ thời bố mẹ để lại, thêm khoản đền bù rất khá mà cả đời bẫy cò của gã cũng chẳng dám mơ. Có tiền, Khoái lập tức như lột xác thành người khác.

Việc đầu tiên, gã tậu ngay một con SH đời mới, thêm mấy bộ quần áo hàng hiệu, giày dép thời trang, phụ kiện đầy đủ, tóc tai gọn gàng, nom bảnh chả kém mấy diễn viên trên VTV. Gã kết bạn rất nhanh với giới “Tinh hoa” tỉnh lẻ chuyên nghề buôn đất. Quả thực, buôn có bạn, bán có phường, có lưng vốn, gặp thời bất động sản tăng giá như lên đồng nên Khoái phất lên khá nhanh. Chưa đầy một năm, hàng xóm đã phải điếc tai vì tiếng còi ô tô của gã. Khoái giờ vẫn giữ cái biệt danh Khoái “cò”, nhưng không phải bẫy cò, mà là “cò đất”. Cũng từ đấy, tôi chẳng để ý đến gã mà làm gì.

Thời gian cứ thế trôi đi…

Lại bẵng đi có đến vài năm.

Một buổi chiều, tôi nổi hứng đi bộ. Vừa ra đến bờ hồ bỗng thấy cái dáng quen quen. Lại gần hơn thì đúng là Khoái “cò”. Vẫn đầu tóc bờm xờm, khuôn mặt nhỏ thó đặt ngay ngắn trên cái cổ ngẳng, cái áo bay màu cỏ úa sờn vai. Trên tay gã vẫn là xâu chim đã vặt lông, những chú chim tội nghiệp mình mẩy rướm máu đang yếu ớt vẫy vùng một cách tuyệt vọng. Tôi sáp lại gần, giật giọng:

- Ông Khoái.

- Ờ, mua chim hả? - Khoái giọng nửa lạ nửa quen.

- Chim gì đấy?

- Chim mới bẫy trên rừng.

- Phét vừa thôi, lông chim cút còn sót lại đây này.

- Ờ. - Khoái hờ hững, chẳng có vẻ gì ngạc nhiên hay ngượng ngùng.

Đứng đường có vẻ không tiện, tôi mua hết xâu chim, tất nhiên là với giá chim cút nuôi trong trang trại rồi nài gã tạt vào quán bia quen gần đó. Tôi với Khoái chẳng thân, chẳng sơ nên chuyện cứ dấm da dấm dớ. Sau vài cốc, mọi thứ mới kịp vỡ ra.

Chả là đang phất lên như diều, tưởng mọi thứ đều dễ dàng, hanh thông như thông cái ống nước thì Khoái nhận trái đắng. Nghe thằng bạn thân mách nước, gã dồn hết tiền của, cắm nhà cửa, xe cộ chung vốn ôm một lúc gần chục lô đất biệt thự trong một dự án khu đô thị mới tít tận một cái tỉnh mà gã còn chưa có dịp đặt chân đến xem mặt mũi nó ngang dọc thế nào. Rồi cái gì đến cũng đến, chủ đầu tư ôm tiền bỏ trốn, thằng bạn thân thì gọi điện ba năm vẫn cứ… tò tí te. Giờ cả nhà đi ở thuê, may vẫn còn cái xe máy cà tàng gọi là phương tiện.

Cạn thêm một cốc, gã thở ra cái thượt:

- Đúng là cái gì đến nhanh thì cũng đi nhanh, của thiên trả địa đã đành, cái nhà của bố mẹ còn chả giữ nổi.

- Giờ lại đi bẫy cò à? - tôi hỏi.

- Giờ chả còn sức, mà cũng chả còn cò mà bẫy…

Gã lại thở ra, đoạn ngước mắt nhìn mông lung. Bất giác, tôi thấy thương gã, dù chẳng thân, chẳng sơ. Chả lẽ cái biệt danh Khoái “cò” nó vận vào đời gã, bởi bao năm gã hành nghề bẫy cò, gần cuối đời, gã lại sập bẫy đời một cách đau đớn.

H.V

Minh họa của An Bình

Tin tức khác