Chiến tranh cách mạng và người lính qua thơ người lính

Chủ nhật, ngày 27-04-2025, 10:27| 5.288 lượt xem

Ngô Đức Hành

 

                                           

Trong vườn. Ảnh của Thanh Tình

                                  

 

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”, (Đất nước, Nguyễn Khoa Điềm). Đất nước ấy, bên bờ biển Đông có lịch sử dựng nước và giữ nước quật cường. Đất nước ấy đến sông núi cũng mang hình người lính. “Có bao nhiêu ngọn núi/Đều uốn theo hình mũi giáo/Uốn theo hình đất nước lao lên/Mặt trời mọc trên yên ngựa/Tất cả sừng trên đầu hươu nai/Đều chuốt theo hình đất nước/Lá lúa vừa nhú lên/Đã uốn thành câu liêm”, (Đất nước hình tia chớp, trường ra của Trần Mạnh Hảo).

Chiến tranh cách mạng và người lính là một đề tài hấp dẫn đối với lực lượng sáng tác cả trong và ngoài quân đội. Tuy nhiên, sáng tác của những nhà văn, nhà thơ là chiến sĩ, với tư cách là “thư ký” của cuộc chiến tranh cách mạng, viết về mình và đồng đội của mình luôn có sức lan tỏa, thuyết phục, truyền cảm hứng, lay động lòng người. Thực tế, không ít cây bút đã nổi danh, thành danh từ chiến hào. Ở đây chỉ xin nói đến những người đã góp phần làm nên diện mạo “vóc nhà thơ ngang tầm chiến lũy”, (thơ Chế Lan Viên).

*

Lịch sử chiến tranh cách mạng, từ năm 1945 đến năm 1975 đã sản sinh ra “đội ngũ” những nhà thơ mặc áo lính trong “bầu trời” thơ ca Việt Nam. Trong 80 năm ấy, thế hệ nhà thơ mặc áo lính có nhiều thế hệ, nhưng thế hệ “thứ hai” xuất hiện trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (từ năm 1954 - 1975), các nhà thơ mang áo lính là “đội ngũ hùng hậu” nhất.

Có thể kể đến nhiều tên tuổi nổi danh như Hữu Thỉnh, Phạm Ngọc Cảnh, Phạm Tiến Duật, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Trần Anh Thái, Trần Mạnh Hảo, Lê Thành Nghị, Nguyễn Hữu Quý... Đa phần trong số này đều đã được nhận giải thưởng cao quý như Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Họ đều là những thanh niên, sinh viên xếp bút nghiên lên đường đánh giặc, lăn xả vào khói lửa, trận mạc. “Lớp lớp mười tám, đôi mươi/Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Thơ Tố Hữu).

“Mùa lũ qua rồi đang đến mùa khô/Đường ra trận có bạn bè đủ mặt/Tiếng súng dội như trống trường vào học/Không có buổi học cuối cùng, thưa cô” (Không có buổi học cuối cùng, thơ Lê Thành Nghị).

Không ít nhà thơ, nhà văn đã ngã xuống trên chiến trường, có thể kể đến Lê Anh Xuân (1940 - 1968), Nguyễn Mỹ (1935 - 1971), Dương Thị Xuân Quý (1941-1969)... Trong số nhà thơ - chiến sĩ ngã xuống trên chiến trường, liệt sĩ Lê Anh Xuân đã được vinh danh Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý được nhiều nơi đặt tên cho trường học, con đường.

Thời kỳ chống Mỹ, cứu nước thật sự “Vóc nhà thơ ngang tầm chiến lũy”, (thơ Chế Lan Viên); tác phẩm của họ mang âm hưởng chủ đạo là anh hùng ca với tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược và tràn trề lòng lạc quan. Có thể kể đến tác phẩm Mẹ của Phạm Ngọc Cảnh; Cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ; Nửa sau khoảng đời của Vũ Đình Văn; Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy; Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân...

Với “nhà thơ Trường Sơn” Phạm Tiến Duật có thể kể đến một “sery thơ” trên đường ra trận: Lửa đèn, Tiểu đội xe không kính, Gửi em, cô thanh niên xung phong, Nhớ, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây...

 Trong “kho tàng thơ” chống Mỹ xuất hiện nhiều trường ca có giá trị về nội dung và nghệ thuật. Có thể kể đến Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh; Những người đi tới biển của Thanh Thảo; Trường ca Sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu; Sông Mê Công bốn mặt của Anh Ngọc, Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo... Một số tập thơ khác của các nhà thơ chống Mỹ như Phạm Ngọc Cảnh, Vương Trọng, Lê Thành Nghị... đã chứng minh cho điều đó.

 “Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”, (nhà thơ, đại tá Nguyễn Hữu Quý). Ở thời điểm lịch sử ấy, theo ông, “người cầm bút trở thành chiến sĩ, chiến sĩ trở thành người cầm bút; đội ngũ nhà thơ mang áo lính trở nên đông đảo, họ vừa đánh giặc vừa làm thơ”. Lịch sử đã kết tinh nên văn hóa Việt Nam: “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn” (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng, thơ Chế Lan Viên).

Hiện thực cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vốn đã chứa đựng nhiều điều bí ẩn từ con người đến địa danh hay chiến công. Nhà thơ như người thư ký của thời đại đã ghi lại một cách trung thực nhất những huyền thoại của cuộc chiến ấy: “Này đây/Doi đất Cửu Long xanh/Sư đoàn châu thổ/Giữa bãi sú, rừng tràm/Vụt đứng dậy sư đoàn Nam Bộ/Sư đoàn Tây Nguyên/Từ hầm chông, bẫy đá, cung tên...” (Sư đoàn của Phạm Ngọc Cảnh)

Thống nhất đất nước là khát vọng của cả dân tộc. Bởi vậy, “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, (Trường Sơn đông, Trường Sơn Tây - Phạm Tiến Duật). Những người lính bước vào thi ca giản dị tự nhiên, hiện thực chiến tranh dẫu khốc liệt nhưng luôn mang đến chất thơ đích thực: “Không có kính không phải vì xe không có kính/Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi/Ung dung buồng lái ta ngồi/Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng...” (Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật).

Tinh thần xả thân vì Tổ quốc và niềm tin tất thắng là nét nổi bật nhất trong thơ người chiến sĩ. Khát vọng hòa bình, ước mơ về cái đẹp luôn luôn tạo ra sự khác biệt cho người lính chính nghĩa, anh Bộ đội Cụ Hồ của Việt Nam suốt cả chiều dài chiến tranh giữ nước.

Giữa sục sôi bom lửa chiến trường, dưới mái tăng người lính chợt trở nên mơ mộng: “Mặt trời là trái tim anh/Mặt trăng vành vạnh là tình của em/ hức là ngày, ngủ là đêm/Nghiêng nghiêng hai mái hai miền quê xa (Bầu trời vuông - Nguyễn Duy)...

“Đêm chao nghiêng theo mặt dốc ngọn đồi/Nòng súng chao nghiêng theo hướng bàn chân chạy/Những vầng bụi vuốt dài theo gió xoáy/Những lá rừng như những mũi tên lao” (Tây Nguyên đêm tháng ba, Lê Thành Nghị). Người lính (sau này là đại tá Lê Thành Nghị) viết bài thơ này khi ông cùng đồng đội tham gia Chiến dịch Tây Nguyên, tháng 3/1975, mở màn cho Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

“Chỉ có pháo bắn thật gần/mới được cười thoải mái/bom nổ loạt thật dài/mới hát hết một câu…”, “và đội hình chúng tôi vượt qua/hàng dọc/thành một dấu cộng/mặt trời khi ấy chưa lên”. Trong trái tim người lính, nhà thơ Vương Cường luôn có niềm tin mãnh liệt: “Mặt trời sẽ lên thôi/chúng tôi đẩy mặt trời lên/để nhìn rõ Sài Gòn phía trước/để viên đạn bay đi khỏi lạc/bầy chim xòe quạt đón mặt trời”, (Khi ấy mặt trời chưa lên). 

Bài thơ này nhà thơ Vương Cường viết khi đang cùng đồng đội vượt sông Đồng Nai, tiến vào giải phóng Sài Gòn, sáng 30/4/1975. Với một người lính khát khao cuộc sống bình yên, họ khát khao hòa bình, dự cảm về hòa bình. Không có lý do gì, dân tộc ấy không chiến thắng.

Hạnh phúc nào hơn, khi đất nước đang có họa xâm lăng, những chàng trai cô gái được đóng góp một phần tuổi trẻ của mình cho cuộc chiến ấy. Nhập vào đội ngũ những người hành quân ra trận, họ không hề do dự, tính toán được mất, thiệt hơn; dù “chiến tranh không phải trò đùa”. 

Trong đạn bom khốc liệt của chiến tranh, trong tận cùng của nỗi đau chia tách, trước hết những người lính mong muốn hòa bình. Trong chiến hào, “Anh Bộ đội Cụ Hồ” luôn nghĩ về hạnh phúc. Trong ba lô của họ, lọn “tóc thề”, tấm hình, lá thư bạn gái luôn trở thành năng lượng sống, năng lượng cảm xúc.

“Anh mất em như mất nửa cuộc đời/Nỗi đau anh không thể nói bằng lời/Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy/Những viên đạn quân thù bắn em trong lòng anh sâu xoáy/Bên những vết đạn xưa chúng giết bao người/Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi/Như bỗng tắt vừng mặt trời hạnh phúc...”, (Bài thơ về hạnh phúc của Dương Hương Ly).

Bài thơ này nhà thơ Bùi Minh Quốc viết sau khi nghe tin vợ ông, nhà báo, nhà thơ Dương Thị Xuân Quý hi sinh trên chiến trường Quảng Đà. Bài thơ từng một thời được thế hệ 6X ghi chép vào sổ tay, chuyền tay nhau khái niệm về hạnh phúc. Xin nói thêm, đây là gia đình hiếm hoi, cả hai vợ chồng đều là nhà thơ cùng ra trận. 5 tháng trước khi Dương Thị Xuân Quý vào chiến trường, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã lên đường ra trận; và dù mới sinh con nhưng bà đã viết đơn tình nguyện xin ra chiến trường.

Cùng với thơ là âm nhạc. Phải nói rằng, rất nhiều bài thơ của các nhà thơ giai đoạn này các nhạc sĩ đồng cảm, góp phần tạc nên “tượng đài người lính bằng âm nhạc”. Sự gặp gỡ giữa thơ và nhạc là sự cộng hưởng của tình yêu đất nước, khát vọng thống nhất non sông. Những ca khúc ra đời thời kỳ chống Mỹ trở thành tiếng nói đồng điệu của hàng triệu con tim nhiều thế hệ, và cho đến nay đã trở thành “Những bài ca đi cùng năm tháng”, sống mãi với thời gian.

Có thể kể đến: Vàm Cỏ Đông (thơ Hoài Vũ, nhạc Trương Quang Lục); Ngọn đèn đứng gác (thơ Chính Hữu, nhạc Hoàng Hiệp); Đường ra mặt trận (thơ Chính Hữu, nhạc Huy Du); Tháng Ba Tây Nguyên (thơ Thân Như Thơ, nhạc Văn Thắng); Bước chân trên dải Trường Sơn (thơ Nguyễn Đăng Thục - Tào Mạt, nhạc Vũ Trọng Hối); Bóng cây kơ nia (thơ Ngọc Anh, nhạc Phan Huỳnh Điểu); Hạt gạo làng ta (thơ Trần Đăng Khoa, nhạc Trần Viết Bính); Cùng anh tiến quân trên đường dài (thơ Xuân Sách, nhạc Huy Du); Đất quê ta mênh mông (thơ Dương Hương Ly, nhạc Hoàng Hiệp); Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây (thơ Phạm Tiến Duật, nhạc Hoàng Hiệp), Năm anh em trên một chiếc xe tăng (thơ Hữu Thỉnh, nhạc Doãn Nho),

Xin nêu thêm một ví dụ: Đường chúng ta đi - Ca khúc đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh được nhạc sĩ Huy Du phổ nhạc, luôn vang lên hào hùng: “Việt Nam! trên đường chúng ta đi. Nghe gió thổi đồng xanh quê ta đó. Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời. Nghe ấm lòng những khi đang dồn bước, mà vui sao ta chẳng nói nên lời...”. Bài hát này nhạc sĩ Huy Du dựa từ thơ của hai nhà thơ là Xuân Sách và Hoàng Trung Thông.

*

Thơ là thế giới nội cảm, xác tín những ưu tư về thân phận con người, khát khao vươn tới cái tôi mang chiều sâu tâm cảm. Đối với thi ca, ý niệm về nhân bản, ưu tư về cuộc sống, sự tồn sinh của phận người, phồn sinh của quy luật... để lại dấu ấn sâu sắc trong thơ ca Việt Nam từ năm năm 1975 đến nay.

Thời kỳ “hậu chiến” là các dùng để nói về văn học nghệ thuật sau năm 1975. Các nhà thơ thời kỳ này, các nhà thơ bước ra sau chiến tranh, không còn phải nói đến những điều to lớn; nhưng đặc điểm nổi bật là các nhà thơ - chiến sĩ của chúng ta tiếp tục khắc họa những nỗi đau mất mát, những thấm thía hi sinh, trăn trở về đồng đội, đồng chí -những vấn đề hậu chiến, do chiến tranh để lại.

Suy nghĩ thấu đáo bao giờ cũng cần “độ lùi” của thời gian. Sau chiến tranh, sự cởi mở thoáng đãng trong nhìn nhận đánh giá văn học và được tiếp nhận nhiều phương pháp sáng tác mới nên các tác phẩm viết về người lính cũng đa dạng, phong phú hơn. Tất nhiên, những vấn đề “hậu chiến” luôn ám ảnh trong tâm hồn thơ các nhà thơ vừa bước ra khỏi chiến tranh.

Quá khứ, hiện tại và tương lai bao giờ cũng là một dòng chảy của lịch sử, làm nên lịch sử. Quá khứ thật ám ảnh và đó là lý do để cho dòng thơ viết về chiến tranh tiếp tục chảy với những lưu vực rộng rãi hơn cùng độ sâu mới. Dù viết về chiến tranh cách mạng và người lính ở thời kỳ hậu chiến, nhất là từ ngày đổi mới đất nước đến nay vừa thuận lợi, vừa khó khăn. Với những nhà thơ “bước ra” từ cuộc chiến, quá khứ luôn ám ảnh, không thể bứng ký ức ra khỏi tâm hồn họ.

Từ nỗi lòng đau đáu về số phận đồng đội hi sinh, nhà thơ Vương Cường có một giấc mơ đặc biệt, “Cõng bạn đi chơi”. Đoạn kết bài thơ này là nỗi đau xé lòng khi chỉ cõng một... giấc mơ: “Thôi mày về đi/cái thằng hai mươi tuổi/tao thương mày/mày chẳng biết thương tao”. Đồng đội cứ “ngồi cười sau nải chuối”.

Trong tâm hồn thơ của các nhà thơ đã trải qua cuộc chiến, vết thương đó không bao giờ liền sẹo, “anh biết lặng im mà giông bão” (thơ Vương Cường). Thơ viết về chiến tranh sau năm 1975 biết lắng xuống để chạm đúng vào nỗi buồn đích thực của nhân dân. Đấy là sự lựa chọn đúng đắn của thi ca, phải thấm thía hết chiều sâu giọt nước mắt khổ đau của dân tộc mình.

Thanh Thảo là nhà thơ có mặt trên chiến trường miền Nam từ rất sớm, được công chúng biết đến qua những tập thơ và trường ca có diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến: Những người đi tới biển (1977), Dấu chân qua trảng cỏ (1978), Những ngọn sóng mặt trời (1981), Khối vuông ru-bích (1985), Từ một đến một trăm (1988). Ông có những suy tư về nhân dân, dân tộc khá chân thành và sâu sắc: “Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người/Mồ hôi vã một trời sao trên đất/Nhân dân tôi khởi lên từ phù sa vất vả/Và cứ thế nhân dân thường ít nói/Và cứ thế nhân dân cao vời vợi/Bao tai ương cứ dội xuống theo mùa...” (Những người đi tới biển).

Sau khi đất nước thống nhất, đội ngũ nhà thơ mặc áo lính ở “thế hệ thứ ba” ngày càng được bổ sung. Có thể kể đến các nhà thơ đang mặc áo lính như Nguyễn Bình Phương, Đoàn Văn Mật, Phạm Vân Anh, Hoàng Đăng Khoa... Họ tiếp tục khám phá, sáng tạo về chiến tranh cách mạnh và người lính, ở góc nhìn mới.

“Chiến lệ năm xưa thành hiện vật/Thay bài sử khô khan, thước phim khốc liệt/Chiến công năm xưa sống động ao làng/Mươi chú Tễu áo lính tên lửa/Dăm cô Chàng chàng áo nâu dân quân/Những nhân vật chưa từng trong phường rối/Hối hả cuộc thư hùng...” (Thủy Đình, thơ Phạm Văn Anh).

Đất nước hòa bình, thống nhất chưa được bao lâu đã buộc phải bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, thực hiện nghĩa vụ quốc tế với nước bạn Căm-pu-chia chống lại họa diệt chủng và chiến tranh biên giới phía Bắc, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc. Văn học nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng lại cùng cả nước “ra trận” vì hòa bình và phẩm giá dân tộc.

Phải nói rằng, đề tài về chiến tranh cách mạng và người lính luôn hấp dẫn với các nhà thơ; bởi sự bí ẩn của chiến tranh, thân phận; bởi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc luôn song hành với xây dựng đất nước. Lòng yêu nước, sự lãng mạn, tính nhân văn thời nào cũng là phẩm chất được gìn giữ, bồi đắp của người lính mang tên Bộ đội Cụ Hồ.

Thời nào, chiến tranh hay hòa bình, đổi mới hay trước “kỷ nguyên vươn mình”, thơ ca Việt Nam luôn nhận lãnh trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân. Đối với các nhà thơ coi đó vừa là nghĩa vụ, vừa là tình cảm của người cầm bút. Với các nhà thơ mặc áo lính, càng ý thức như vậy, họ luôn khát khao sáng tạo mang đến vẻ đẹp đích thực cho cuộc sống, tiếp nối thành tựu của thơ ca Việt Nam.

Tháng 3/2025

N.Đ.H

Tin tức khác