Hát từ Thành Tuyên đến Phan Xi Păng của Lê Tuấn Lộc

Thứ ba, ngày 18-06-2024, 10:24| 125 lượt xem

Ngô Đức Hành

 

Vừa qua, nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Công nhân thuộc Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Lễ ra mắt tập thơ “Hát từ Phan Xi Păng”. Đây có thể coi là một hoạt động quảng bá tác phẩm của tác giả, nhưng cũng có thể coi là một trong các “sự kiện văn hóa”, bởi được tổ chức bên lề Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam. Và lý do cho ý kiến này còn là bởi hoạt động giới thiệu sách được diễn ra tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, số 9 Nguyễn Đình Chiểu, Hà Nội

Lê Tuấn Lộc đã dành trọn cảm xúc và năng lượng sáng tạo; Hát từ Phan Xi Păng dày hơn 400 trang; khổ lớn 16x24 cm, bìa cứng, có áo bìa. Hình thức tác phẩm đã cho thấy Lê Tuấn Lộc “chăm chút” tác phẩm. Đó cũng là cách nhà thơ nâng niu con chữ, trân trọng bạn đọc.

 “Hát từ Phan Xi Păng” thực sự là 14 khúc hát, cả về nghĩa đen và cả về ẩn dụ thi ca. Về nghĩa đen, bài thơ đầu tiên cũng là tên từng khúc và đều là những bài thơ đã được phổ nhạc; trong đó có bài đã xuất hiện trên sân khấu chuyên nghiệp.

Khúc I có tên “Một nét thành Tuyên”; Khúc II có tên “Đêm trăng trên dòng sông Đáy”; Khúc III có tên “Ca ba vùng mỏ”; Khúc IV có tên “Bao giờ em trở lại”; Khúc V có tên “Em là người Tày”; Khúc VI có tên “Lính trẻ về thăm nhà”; Khúc VII có tên “Tôi người xứ Thanh”; Khúc VIII có tên “Áo mới cô tặng”; Khúc IX có tên “Trên đỉnh An Tiêm quê Thanh”; Khúc X có tên “Hoa lau màu biên cương”; Khúc XI có tên “Em ơi đừng là trăng”; Khúc XII có tên “Hát ở Tân Trào”; Khúc XIII có tên “Con gái sông Lam”; Khúc XIV có tên “Khúc hát từ Phan Xi Păng”.

Người đọc có thể gặp trong trường ca nhiều địa danh, vùng đất thân thương của đất nước; Truyền thống lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng của nhiều vùng đất cũng như cộng đồng dân cư; Có thể nói quê hương, đất nước là “mạch chủ” của cảm xúc thơ Lê Tuấn Lộc trong “Hát từ Phan Xi Păng”.

PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện đánh giá: “Mỗi khúc đoạn được mở đầu bằng một bài thơ được phổ nhạc, cho thấy dụng ý của tác giả; Hát từ Phan Xi Păng là một bản hợp xướng nhiều bè, nhiều giọng như một vĩ thanh vang vọng, ngân nga trong miền đồng cảm, tri ân; đồng thời chứa đựng những thông điệp về tương lai xán lạn của miền núi phía Bắc, của bà con các dân tộc anh em sinh sống trên mảnh đất này”.

Trong 14 khúc của hợp tuyển thơ này, Tuyên Quang và Tân Trào được Lê Tuấn Lộc “định danh” cho hai khúc, và được tác giả triển khai ngay đầu tiên. Chắc chắn có lý do riêng.

Khúc I có tên “Một nét thành Tuyên” (lấy tên bài thơ “Một nét thành Tuyên” xếp ở vị trí đầu tiên) và gồm 21 bài. Riêng bài “Một nét thành Tuyên” có 30 câu. Thành Tuyên, nơi cất dấu một phần lịch sử dựng nước, từ cuối thế kỷ XVI, thời chiến tranh Lê - Mạc. Năm 1991, Thành Tuyên Quang (hay còn gọi là Thành nhà Mạc) được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Nói đến Tuyên Quang, người dân nước Việt nhớ ngay đến “Thủ đô Kháng chiến” với địa danh lịch sử nổi tiếng Tân Trào (huyện Sơn Dương).

Lê Tuấn Lộc sinh ra và lớn lên ở Thanh Hóa nhưng Tuyên Quang còn là mảnh đất ông có thời gian dài sống và làm việc với cương vị Giám đốc Xí nghiệp Thiếc Bắc Lũng, thị trấn Sơn Dương. Ông là một kỹ sư mỏ, sau này là Tiến sỹ kinh tế mỏ.

Có lẽ vì vậy, Tuyên Quang đối với Lê Tuấn Lộc là một “bầu trời ký ức”. Ông luôn hoang hoải cùng cảm xúc: “Nghe đâu đây một tiếng đàn xưa/Tiếng lóc cóc đường xa ngựa hí/Màu thổ cẩm lưa thưa quá nhỉ/Lúa non trong phố thanh bình”. Bài này nhà thơ Lê Tuấn Lộc viết từ tháng 4/1994, thời ông đang công tác ở Sơn Dương.

...

Tôi yêu bản anh hùng ca năm xưa

Tôi yêu màn đêm tháp viba rực rỡ

Đường về chiến khu xe bon bon trong gió

Trời Tuyên rất trẻ

Rất xưa thành.

                   (Một nét thành Tuyên)

Trong Khúc I ngoài “Một nét thành Tuyên” - với tư cách là một bài riêng, cùng tên, còn có những “nét thành Tuyên” khác qua 11 bài thơ khác: “Những tấm mành trúc hát”, “Hoàng hôn trên đồng cỏ”, “Lời ru trong đêm”, “Người gieo hạt”, “Mưa xuân”, “Trở lại tuổi học trò”, “Tản mạn đêm rừng”, “Tuổi năm mươi”, “Mùa xuân sông Lô”, “Chiều xuân màu chàm”, “Người vác cày trên phố”... được ông viết quãng những năm đầu 90 của thế kỷ trước trên mảnh đất Tuyên Quang.

...

Ngổn ngang núi, ngổn ngang đồi

Phút giây với bạn, đất trời bung biêng

Nền nhà không phẳng thì nghiêng

Trần nhà chao đảo, chung chiêng trần nhà…

    (Uống rượu ở mỏ thiếc Sơn Dương)

Ông gắn bó với vùng đất Tuyên Quang, từng ngọn núi, dòng sông, ngòi/suối như ngòi Chò, ngòi Lẹm, Khuôn Phầy... đều gợi nhớ, đánh thức cảm xúc của ông: “Chia tay Ngòi Lẹm, Khuôn Phầy/Chén nâng với thiếc hẹn ngày ta lên”.

...

Không say sóng, cũng chòng chành

Em đừng nghiêng ngửa mảnh tình sang tôi

Để ngô xanh mướt quê người

Chông chênh bóng cọ nghiêng trời Tuyên Quang.

(Mùa xuân sông Lô)

Ở Khúc II, có tên “Đêm trăng trên dòng sông Đáy”, không gian ký ức với Tuyên Quang ùa về, trong các bài thơ “Đưa con thăm lán Nà Lừa”, dù con sông này không liên quan đến Tuyên Quang. Bài thơ này là sự đối thoại giữa hai bố con, nhưng chính nhân vật trữ tình “con” là cái cớ để tác giả tự đối thoại:

...

Lán xưa còn ở rừng già

Người thành thiên cổ đã xa lâu rồi

Giản đơn để lại cho đời

Giản đơn Bác nói một lời: Tự do!

(Đưa con thăm lán Nà Lừa)

Ngoài ra, ở Khúc II còn có “Đêm trăng sông Lô”, “Sơn Dương tự tình khúc”, “Hoa Phù dung”, “Chờ hoa quỳnh nở”, “Nhớ rừng xưa”, “Hoa đào”, “Đi tìm vàng”. Hình ảnh con sông Lô (trước đây gọi là sông Tuyên Quang), con đò giúp tác giả trải nỗi niềm: “Con đò xưa nhớ trăng không/Để trăng đỏng đảnh giữa dòng chơi vơi/Người về phố đôi từng đôi/Còn tôi đi với mình tôi một mình”, (Đêm trăng sông Lô). “Đăng Châu hàng cây long não xanh/Bóng cửu vạn vác choòng đi đào quặng/Xa xanh núi đá vút cao/Tỏ mờ, hoang sơ, huyền bí”, (Sơn Dương tự tình khúc). Đăng Châu là tên cũ của thị trấn Sơn Dương.

Đại ngàn xanh

Chiến khu Kim Bình

Lán Nà Lừa, mái đình Hồng Thái

Đường đèo dốc quanh co mềm mại

Níu lòng ta ở lại

Tình Đăng Châu

(Sơn Dương tự tình khúc)

Khúc III có tên “Ca ba vùng mỏ” với các bài viết trên

đất Tuyên Quang như “Ở bản người Dao”, “Sương mù ở

Phia Khao”.

Trái tim Lê Tuấn Lộc, quá nặng tình đất, tình người với Tuyên Quang. Ngay cả khi ông về công tác ở mỏ quặng Như Xuân (Thanh Hóa), ông lại nhớ Tuyên Quang: “Dẫu bây giờ mới tới đây/Như là tìm quặng những ngày Tuyên Quang” (Như Xuân).

Khúc IV có tên “Bao giờ em trở lại” có các bài ông viết ở Tuyên Quang “Tản mạn về hạnh phúc”. Khúc V có tên “Em là người Tày” có các bài “Em Tày đấy”, “Cái chết của người Cao Lan”, “Con chó vàng chết rồi”, “Chia tay Tuyên” - bài này ông viết tháng 8/2002. Nỗi buồn man mác trong tâm hồn Lê Tuấn Lộc: “Chia tay Tuyên, vang bóng một thời/Một thời đã yêu, một thời để nhớ/Câu thơ ta nồng nàn như lửa/“Trời Tuyên rất trẻ, rất xưa thành””.

Tuyên Quang với ông là một vùng ký ức, sống dậy khắc khoải: “Tuyên ơi Tuyên, lòng ta trong xanh/Như muối xát như là rượu đắng/Cứ như mây mờ, như là xa vắng/Cứ như mơ, loáng cái đã xa vời” (Nhớ lắm Tuyên ơi).

Khúc VI có tên “Lính trẻ về thăm nhà”, có các bài ông sáng tác ở Tuyên Quang như “Lính trẻ về thăm nhà”, “Lũ quét ở Sơn Dương”, “Cơm lam”, “Tôi hỏi chim Khướu”, “Đưa con đi thi đại học”, “Người núi người phố”, “Canh đắng”, “Tiệc đứng”, “Ăn bốc”, “Hà Nội cái gì cũng có”.

Khúc VIII có tên “Áo mới cô tặng” có bài “Tuyên là em” với những lời thề hẹn “Một ngày kia anh về lại Tuyên/Đêm cầm tay em ngắm trăng sông Đáy/Em cứ buồn như mùa thu vậy/Năm xưa… núi Cố trăng tàn…”.

Khúc X có tên “Hoa lau trắng màu biên cương” có bài “Mỗi lần về lại Tuyên”, “Ở ngã tư Yên Sơn”, “Núi Cọc Vài”, “Lướt trên em Na Hang”. Khi trở lại Tuyên Quang, dẫu vạn vật thay đổi từ cảnh vật đến con người, nhưng ông vui vì Tuyên Quang đang vươn lên phía trước: “Mỗi lần về lại Tuyên/Thêm một tầm cao vợi/Năm ngoái cây cầu mới/Năm nay đường rộng ra/Ta vẫn không muốn già/Vì Tuyên cứ trẻ mãi/Em đừng quay đi vội/Anh ngày xưa đây mà” (Mỗi lần về lại Tuyên).

Khúc XII có tên “Hát ở Tân Trào” có bài “Nghe hát về Người”, “Hát Quốc ca ở Tân Trào”, “Mấy cháu ở Tuyên Quang”, “Sơn Dương còn một người yêu thơ tôi”, “Một nét Tuyên”, “Đi trong lễ hội Thành Tuyên”, “Những đêm mơ Tuyên đường xưa” - giấc mơ này còn nối tiếp trong bài “Người xưa”, “Nhớ 50 năm thành lập nước ở Quảng trường Tân Trào”.

Đi trong Lễ hội Thành Tuyên

Đi trong Ngày Hội văn hóa dân tộc Dao

Đi trong đêm hát Soọng cô của người Sán Dìu...

Đi trong rừng hoa 22 dân tộc anh em cộng đồng xứ Tuyên

(Đi trong lễ hội thành Tuyên)

Nói đến thành Tuyên, ngoài “Thủ đô Kháng chiến”, người ta còn nghĩ đến “Lễ hội thành Tuyên”. Theo các tài liệu thì lễ hội hình thành từ Trung thu năm 2004. Xuất xứ ban đầu là một số gia đình trang trí, cắt dán một số hình các con thú rồi kéo đi dọc theo các tuyến phố có múa lân, ca hát. Từ một hoạt động tự phát đó, dần dần được nâng lên với quy mô cấp thành phố, rồi cấp tỉnh và ngày càng có nhiều hoạt động thú vị, mô hình con giống độc đáo, hấp dẫn. “Lễ hội Thành Tuyên” không chỉ trở thành một nét văn hóa đặc sắc, riêng có vào mỗi dịp Tết Trung thu hàng năm của người dân Tuyên Quang mà còn trở thành Lễ hội Trung thu độc đáo, lớn nhất cả nước. Nhân dân là chủ thể sáng tạo nên văn hóa, lễ hội, nhìn từ “Lễ hội Thành Tuyên”. Như vậy “Lễ hội Thành Tuyên” năm 2024 vừa tròn 20 năm “tuổi”.

Năm 2023 là năm đầu tiên tỉnh Tuyên Quang triển khai thực hiện “Đề án Đổi mới tổ chức Lễ hội Thành Tuyên giai đoạn 2023 - 2025”, với mục tiêu trọng tâm là xây dựng, phát triển Lễ hội trở thành sản phẩm du lịch mang thương hiệu quốc gia và quốc tế.

Ta đã xưa, đêm toàn mơ đường xưa

Không có nó, làm gì nên cao tốc

Tuy đường xưa làm ta đi khó nhọc

Nhưng đường xưa đã vạch nên giờ.

(Những đêm mơ Tuyên đường xưa)

Thơ ca vốn là tiếng nói của tâm hồn, tiếng nói của tình cảm con người, thuộc phương thức trữ tình, thơ lấy điểm tựa là sự bộc lộ thế giới nội tâm của nhà thơ, những rung động mãnh liệt của trái tim người thi sĩ trước cuộc đời, số phận, thực tại xã hội. Mỗi tâm hồn là một vương quốc riêng, mỗi bài thơ là một đứa con tinh thần riêng của người nghệ sĩ.

Tuyển thơ “Khúc hát từ Phan Xi Păng” của Lê Tuấn Lộc về bút pháp đa dạng, có tự do (chủ yếu), có lục bát, thơ văn xuôi, kể cả thất ngôn. Có thể nói, đây là tập thơ “đa bút pháp”, nhạc điệu biến ảo, thể hiện bút lực sung mãn của nhà thơ Lê Tuấn Lộc.

Năm 1994, nghĩa là cách đây 30 năm, Lê Tuấn Lộc đã nhận ra sự thay đổi của Thành Tuyên (thành phố Tuyên Quang): “Rất khó nhận ra vết thành xưa/Trong sương sớm ảo mờ/Chuông nhà thờ ngân lên/Chìm trong lá” và: “Phố trong nét rừng/Đồi đột ngột nhô lên trên phố/Hao hao chè xanh mỡ/Hao hao một chút cổ xưa thành” (Một nét thành Tuyên). Chỉ cần khổ thơ đầu này, đã có thể hình dung ra một thành Tuyên xưa. Thơ Lê Tuấn Lộc là tiếng nói thủ thỉ, chân thành, tự nhiên, không lên gân, điệu bộ.

Biểu tượng con đường, biểu tượng núi, sông; thế giới thực về cỏ hoa; thế giới âm thanh; thế giới màu sắc… tạo nên một không gian nghệ thuật trong hợp tuyển thơ. Tất nhiên, “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao”, (Thạch Lam), nên các biểu tượng thơ của Lê Tuấn Lộc vừa hiện thực, vừa hiện thực huyền ảo; có những biểu tượng nhìn được bằng mắt, nhưng có những biểu tượng gọi lên từ trong tâm tưởng. Hay nói cách khác, đó là nghệ thuật kết hợp thực - hư, siêu thực, huyền ảo tâm linh.

...

Bao căn nhà xinh cửa che mành trúc

Gió vờn trúc va nhau lao xao

Không biết người làm mành trúc ở đâu

Tôi chỉ nghe tấm mành trúc hát.

                                      (Những tấm mành trúc hát)

Có thể dẫn ra nhiều đoạn thơ khác, trong số những bài thơ lấy cảm hứng từ Tuyên Quang: “Có một đôi cò trắng/In trong ráng chiều hồng/Núi giăng mờ tím biếc/Chiều đi trong mênh mông”, (Hoàng hôn trên đồng cỏ). Ở bài thơ này, Lê Tuấn Lộc sử dụng thể thơ 5 chữ (hay còn gọi là thơ ngũ ngôn). Đây là thể thơ rất gần với nhịp đồng dao, giàu nhạc tính; vì thế nó quen thuộc với người Việt Nam, dễ tạo nên đồng cảm, gần gũi. Hình ảnh một Tuyên Quang thanh bình, yên ả, nao lòng; vừa thực vừa ảo hiện ra chỉ trong 4 câu thơ của bài thơ.

...

Đôi khi mình sợ chính mình

Xa xôi em có chung tình nữa chăng?

Bây giờ lắm gió nhiều trăng

Bây giờ chung thủy nghe chừng mong manh

(Tản mạn đêm rừng)

Sông Lô mưa bụi buồn tênh

Mùa xuân như chỉ để dành cho ai?

Lênh đênh một lá thuyền chài

Một khoang đò dọc cho người lênh đênh…

(Mùa xuân sông Lô)

Sông Lô ơi! Có đa tình

Đêm trăng sông có yêu mình làm thơ

Hỏi sông, sông cứ lững lờ

Hay sông đắm đuối yêu bờ lau xa?

                   (Đêm trăng sông Lô)

Đây là ba khổ trong ba bài thơ viết về Tuyên Quang, Lê Tuấn Lộc sử dụng thể thơ lục bát. Bài thơ này ông viết năm 1991, lúc ấy chàng kỹ sư mỏ Lê Tuấn Lộc hãy còn trẻ lắm. Sống ở nơi vốn được gọi là “Chè Thái, gái Tuyên” nghệ sĩ nào không muốn đa tình, đa mang? “Trăng”, “gió”, “em”… là những biểu tượng trong thơ Lê Tuấn Lộc. Nhà thơ hơn ai hết hơn người về sự cô đơn; giữa rừng thẳm, núi cao… nhớ nhà, nhớ quê, nhớ người mình trót “đa mang” bao giờ cũng làm thăng hoa sự cô đơn thành vẻ đẹp của thi ca.

Sông Lô - dòng Lô không chỉ là “dòng nước”, đó là cả một không gian văn hóa về Mẫu Thoải. Huyền sử kể rằng Kinh Dương Vương đem lòng yêu mến và lấy con gái của Long Vương làm vợ rồi sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân, Thủy tổ của bộ tộc Lạc Việt. Về sau dân gian tôn người Mẹ của Lạc Long Quân là Mẫu Thoải (tức Mẹ Nước). Theo nhiều tài liệu ghi lại thì dọc lưu vực sông hiện còn cả một hệ thống ban thờ Mẫu trong các đền, chùa từ Việt Trì, Đoan Hùng, Thanh Ba, Hạ Hòa (các huyện của Phú Thọ),… cho đến Tuyên Quang.

Dễ hiểu vì sao, dòng Lô xuất hiện nhiều trong “Hát từ Phan Xi Păng” của Lê Tuấn Lộc vừa thực vừa ảo, vừa tâm linh.

Đề tài dân tộc cũng khá đặc sắc trong “Hát từ Phan Xi Păng”, và ta có thể cảm nhận, rằng trong các tập thơ đã xuất bản về chủ đề miền núi và dân tộc - của các nhà thơ đương đại từ 54 dân tộc anh em, sống trên quê hương thân yêu của chúng ta. “Chiều ấy trên đường đi tìm quặng/Dừng chân nghỉ lại bản Dao Tiền/Lưng đồi sương xuống bập bùng lửa/Rượu ché, măng rừng say lâng lâng” (Ở bản người Dao). Bài này Lê Tuấn Lộc sáng tác năm 1995, ở bản Cốc (Tuyên Quang). Bà con các dân tộc ở Tuyên Quang đã đùm bọc nhà thơ trong những năm tháng ông công tác ở đây. “Nói cho sòng phẳng, chưa có tập thơ nào có tính chuyên đề nổi bật, dành riêng cho đề tài dân tộc và miền núi phong phú như tập “Hát từ Phan Xi Păng” của nhà thơ Lê Tuấn Lộc” - ông xác quyết.

Hát từ Phan Xi Păng là một tập thơ tuyển lấy cảm hứng từ đỉnh núi thuộc dãy Hoàng Liên Sơn - được mệnh danh là “Nóc nhà Đông Dương”. Từ “nóc nhà”, ông hát “khúc hát” về non sông đất nước Việt Nam. Nếu như non sông đất nước trong “Hát từ Phan Xi Păng” là một bản sonate về quê hương Việt Nam thì “Một nét thành Tuyên” là một chương của bản sonate đó. Hơn thế, những bài thơ lấy cảm hứng từ Tuyên Quang ở các khúc khác là những tiết tấu làm tôn thêm vẻ đẹp đa sắc màu trong tác phẩm của Lê Tuấn Lộc.

“Tôi đã có 18 tập thơ tính đến năm 2019 thì có đến 11 tập liên quan nhiều đến miền núi và dân tộc. Hệ thống lại mới thấy, miền núi đã gắn với mình trọn đời. Và việc ra mắt một tuyển tập về chủ đề gắn với đời tôi là đúng dịp rồi”. “Trong đời làm thơ của tôi, tôi đã sáng tác rất nhiều về mảng thơ miền núi và dân tộc. Cái tạng của tôi là viết về rừng núi và dân tộc thiểu số đấy thôi. Có lý do, vì tôi là kỹ sư mỏ, đời tôi gắn với núi rừng và những vùng dân tộc nghèo khó”. Nhà thơ Lê Tuấn Lộc chia sẻ.

Lê Tuấn Lộc đã kiên trì “con đường” thơ của riêng mình là bắc nhịp cầu cảm xúc từ thân phận, đến cuộc đời. “Hát từ Phan Xi Păng”, là lời hát về thiên nhiên hùng vĩ và tươi đẹp, về lịch sử quật cường của dân tộc. Đó còn là lời hát về tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em, lời hát về sức mạnh nội sinh của đất nước.

N.Đ.H

Tin tức khác