“Tồn đọng chiến tranh” và văn hóa tri ân

Thứ sáu, ngày 11-07-2025, 10:19| 2.712 lượt xem

Trong thời đại Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam có thêm nhiều lễ hội mới, được toàn dân quan tâm hưởng ứng chẳng kém gì những lễ hội truyền thống tự bao đời. Đó là những nghi thức sinh hoạt cộng đồng, được Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp, hoặc các đoàn thể chính trị-xã hội tổ chức định kỳ, nhằm tôn vinh những giá trị lịch sử - văn hóa, phát huy truyền thống cách mạng, phát động phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa mới v.v… Có những lễ hội mang tầm quốc gia, như: Tết Độc Lập (2-9), Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12), Ngày hội thống nhất non sông (30-4)… Có những lễ hội do các ngành, đoàn thể hoặc địa phương tổ chức, như: Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27-2), Ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11), Festival Huế, Lễ hội hoa Đà Lạt v.v…

    Đó là những lễ hội tuy chỉ mới xuất hiện từ sau năm 1945 đến nay, thậm chí có những lễ hội chỉ mới xuất hiện hơn chục năm nay, nhưng đã sớm định hình trong đời sống xã hội và tâm thức cộng đồng, trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa mới của toàn dân. Một trong những lễ hội mới được toàn dân hưởng ứng thành tâm, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, là Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7) hằng năm. Đó là ngày lễ tri ân, “đền ơn đáp nghĩa” những người đã hi sinh một phần xương máu hoặc tính mạng vì nền độc lập - tự do  của đất nước và hạnh phúc của nhân dân, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và truyền thống nhân nghĩa của dân tộc.

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm công tác giúp đỡ vật chất, tinh thần và tri ân thương binh, liệt sĩ. Chính Người đã đề xướng và chỉ đạo những hoạt động đầu tiên của Ngày Thương binh-Liệt sĩ.  Người là Hội trưởng danh dự đầu tiên của Hội giúp binh sĩ bị nạn từ giữa năm 1946, sau đổi tên là Hội giúp binh sĩ bị thương, tiền thân của ngành Thương binh - Xã hội hiện nay. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Người chỉ thị chọn một ngày trong năm làm Ngày Thương binh toàn quốc để nhân dân tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái các thương binh. Thực hiện chỉ thị của Người, giữa năm 1947, một hội nghị liên ngành được tổ chức tại chiến khu Việt Bắc, nhất trí đề nghị Trung ương lấy ngày 27-7 hằng năm làm Ngày Thương binh toàn quốc, sau đổi thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Tại cuộc mít tinh chào mừng sự kiện trên đây, tổ chức tại An toàn khu Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên trước đây), Ban tổ chức đã đọc bức thư của Bác Hồ gởi cho thương binh. Người viết: "... Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy ...". Quan điểm trên đây được Người nhắc lại trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng đầu năm 1960: “Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta...”.

Trao máy đo huyết áp cho nạn nhân chất độc da cam/dioxin xã Xín Mần. Ảnh Minh Huệ

    Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác Thương binh - Liệt sĩ, toàn Đảng, toàn dân ta luôn quan tâm và dành những tình cảm, trách nhiệm để chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công bằng những chính sách cụ thể, thiết thực, phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Nghị quyết các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng đều nhấn mạnh việc quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là nghĩa vụ của toàn dân. Theo thống kê của ngành chức năng, kể từ khi thành lập nước Việt Nam mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã có hơn 1.400 văn bản về ưu đãi các đối tượng chính sách. Gần đây nhất là Pháp lệnh số 02/2020/PL- UBTVQH14 ngày 09/12/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về Ưu đãi người có công. Hiện nay, cả nước đang có hơn 2 vạn thương binh nặng, 6 vạn người là bố mẹ liệt sĩ già yếu cùng 100% Bà mẹ Việt Nam Anh hùng được Nhà nước chu cấp và các cơ quan, đoàn thể phụng dưỡng suốt đời. Hàng triệu đối tượng chính sách khác, như: Lão thành cách mạng, vợ con liệt sĩ - thương binh, cựu Thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến, nạn nhân chất độc da cam/dioxin… được trợ cấp khó khăn, ưu tiên về nhà ở, học tập, việc làm, chăm sóc sức khỏe… Cùng với các chính sách đãi ngộ của Nhà nước, hoạt động đền ơn đáp nghĩa cũng được xã hội hóa thành những phong trào sôi nổi, rộng khắp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và đạt được những kết quả to lớn.

     Không riêng ở nước ta mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng có các hoạt động giải quyết hậu quả chiến tranh, như: tìm kiếm quân nhân mất tích trên các chiến trường, đãi ngộ phế binh và thân nhân tử sĩ tham gia các cuộc chiến tranh do Chính phủ phát động… Bất kể ở đâu và vì những lý do gì, thì chiến tranh vẫn là điều hết sức tồi tệ và để lại những hậu quả hết sức nặng nề, dai dẳng. Cách đây hơn chục năm, tôi được tham gia đoàn công tác của Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam sang làm việc với một số cơ quan chức năng của Quân đội nước Cộng hòa Bê-la-rút. Tình cờ tôi bắt gặp trên báo Vaiar (Quân đội) của nước bạn số ra ngày 15-10-2013 có chuyên mục “Những lá thư từ mặt trận”. Chiếm hẳn cả trang 6 là lá thư của một hồng quân đề ngày 3-9-1943 ở mặt trận phía Tây, có cả bút tích và chân dung của người viết thư. Các đồng nghiệp ở báo Vaiar cho tôi biết: Suốt bảy chục năm qua, báo Vaiar vẫn giữ đều đặn chuyên mục này và họ chưa bao giờ cạn nguồn tư liệu. Không những thế, hiện tại Quân đội Bê-la-rút còn có một cơ quan gọi là “Cục hồi tưởng chiến tranh” chuyên trách giải quyết những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh, như: Tìm kiếm những quân nhân bị mất tích; xác minh các trường hợp hi sinh, bị thương hoặc người có công; giải quyết các chế độ, chính sách theo qui định của Nhà nước v.v… Và cho đến thời điểm đó (năm 2013), Quân đội Bê-la-rút vẫn duy trì một tiểu đoàn đặc biệt, đi kiếm tìm đồng đội trên khắp các chiến trường xưa…

    Tôi chưa có dịp hỏi chuyện thân nhân các anh hùng liệt sĩ ở xứ sở bạch dương, chưa được gặp gỡ những người lính “tiểu đoàn đặc biệt” của Quân đội Bê-la-rút, nhưng tôi tin rằng bất cứ nơi đâu trên trái đất này, những chiến sĩ hi sinh vì dân, vì nước đều để lại niềm tiếc thương đau xót khôn cùng cho gia đình, người thân và lòng tưởng nhớ, tri ân của nhân dân, của Tổ quốc. Có khác chăng là với đất nước Việt Nam của chúng ta, sau hơn ba mươi năm kháng chiến cứu nước cùng hơn bốn mươi năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đã được bồi đắp và nâng lên thành một nét Văn hóa Tri ân của dân tộc trong thời đại mới. Và nữa: trải qua mấy chục năm trường kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và toàn vẹn lãnh thổ… đã để lại một khối lượng tồn đọng chiến tranh cực kỳ to lớn và phức tạp. Chỉ tính riêng trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc từ năm 1979 đến năm 1989, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta đã ngã xuống. Đặc biệt, trận chiến đấu khốc liệt ngày 12-7-1984 tại mặt trận Vỵ Xuyên (tỉnh Hà Tuyên trước đây), đã có hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ thuộc các LLVT hi sinh, trong đó Sư đoàn 356 có gần 600 liệt sĩ, 800 thương binh. Hơn bốn chục năm đã trôi qua, đến nay vẫn còn hàng trăm liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, Nghĩa trang liệt sĩ ở Vỵ Xuyên vẫn bạt ngàn những bia mộ chưa rõ danh tính… Điều kiện, hoàn cảnh, khoảng cách thời gian… của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc (và biên giới Tây Nam nữa) khác hẳn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trước đây, vậy mà việc qui tập và xác định danh tính Liệt sĩ còn ngổn ngang như thế, thì công việc giải quyết các tồn đọng chiến tranh từ thời chống Pháp, chống Mỹ còn khó khăn và phức tạp biết nhường nào!

    Thực trạng trên đây, chủ yếu do hoàn cảnh chiến tranh triền miên khốc liệt, điều kiện kinh tế-xã hội của một đất nước tiểu nông và những người làm công tác chính sách qua các thời kỳ chủ yếu cũng là… nhà nông. Bên cạnh đó có phần trách nhiệm về nhận thức và phương pháp, tác phong công tác của các ngành chuyên trách và những người trực tiếp làm công tác chính sách; nhất là tệ quan liêu, cứng nhắc trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Theo đó mà có lúc, có nơi, vì những lý do khách quan hoặc chủ quan mà hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” vẫn còn những trường hợp cụ thể chưa được giải quyết kịp thời và chu đáo.  Chẳng hạn: Nghị định 31/2013/NĐ-CP của Chính phủ qui định “Vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác, thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng bằng một lần mức chuẩn”. Đây là một nét mới so với các qui định về đối tượng thụ hưởng chính sách trước đây. Khi thực hiện Nghị định này, ngành chức năng yêu cầu thêm thủ tục phải có xác nhận của gia tộc là đối tượng có “nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành, hoặc chăm sóc bố mẹ liệt sĩ khi còn sống”. Mục đích của qui định là nhằm thực hiện chính sách của Nhà nước chặt chẽ hơn, chính xác hơn. Tuy nhiên đôi khi thủ tục này cũng gây thêm khó khăn phiền toái, cản trở việc thực hiện một chính sách hết sức nhân văn, hợp lý… Bởi vậy, đi đôi với việc khẩn trương khắc phục những bất cập, yếu kém trong công tác chính sách, Nhà nước cần đổi mới công tác này phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay, bao gồm cả việc nâng cao mức ưu đãi và mở rộng diện đối tượng ưu đãi mà trước đây do điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước còn khó khăn nên chưa thực hiện được. Đồng thời, các các cấp ủy Đảng, chính quyền và cơ quan chức năng của các địa phương cần thường xuyên tuyên truyền giáo dục thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công tiếp tục phát huy truyền thống gia đình và bản thân trong thời kỳ mới, thật sự xứng đáng là những công dân gương mẫu và gia đình tiêu biểu.

    Tổ quốc độc-lập tự do và hoà bình-thống nhất hôm nay là nhờ sự hi sinh to lớn của của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân cả nước trong sự nghiệp cách mạng lâu dài và anh dũng của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đất nước ta đang ngày càng phát triển tiến tới mạnh giàu. Hoạt động tôn vinh, đền ơn đáp nghĩa ngày càng được quan tâm và tiến hành thường xuyên, thiết thực, hiệu quả, với nhiều hình thức sôi nổi và phong phú. Thời gian gần đây, các địa phương và đoàn thể chính trị-xã hội đã và đang có nhiều biện pháp năng động, thiết thực đẩy mạnh việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các đối tượng chính sách và những người có công với nước. Nổi bật là các hoạt động xã hội hóa công tác “đền ơn đáp nghĩa” được các tầng lớp nhân dân và các đoàn thể chính trị-xã hội tích cực hưởng ứng, đạt được những kết quả rất to lớn và hết sức quan trọng. Đó là những hoạt động thiết thực bồi đắp giá trị Văn hóa Tri ân - nét đặc sắc của kho tàng Văn hóa Việt Nam trong Kỷ nguyên mới của dân tộc!

Mai Nam Thắng

Tin tức khác

Lặng 8

13-07-2025

Mùa hè

02-07-2025

Tôi học đi

02-07-2025

Emagazine

Được mùa lúa bản Dao

19-03-2026| 1.703 lượt xem

Bản Dao đón Tết

15-03-2026| 1.454 lượt xem

Bà cháu

10-03-2026| 1.405 lượt xem

Bảo tồn để phát triển

11-02-2026| 1.278 lượt xem

Cam sành Hàm Yên mùa thu hoạch

17-08-2024| 5.100 lượt xem