Ghi chép của Minh Cường

Con đường dẫn vào Tân Trào trong tiết xuân sớm hôm ấy uốn lượn giữa những triền đồi xanh thẳm. Sương còn giăng mỏng trên những tán cọ, thân tre, trên mái nhà sàn thấp thoáng phía xa. Không gian bảng lảng một vẻ trầm mặc, thiêng liêng, như thể từng hạt sương cũng mang theo hơi thở của lịch sử. Lòng người kịp lắng lại, trước khi bước vào miền ký ức của dân tộc. Hôm nay, Tân Trào không chỉ đón những bước chân hành hương về nguồn, mà còn đón các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa và đại biểu đến từ nhiều vùng miền trong nước. Họ về đây dự cuộc hội thảo mang tên: “Tuyên Quang - nơi khơi nguồn dòng chảy văn học, nghệ thuật cách mạng”. Một cái tên không cầu kỳ, nhưng hàm chứa cả một trường liên tưởng rộng lớn: Về lịch sử, về con người, về sự khởi đầu của một dòng chảy tinh thần đã nuôi dưỡng cách mạng, đồng hành cùng dân tộc trong suốt những năm tháng gian nan.
Tân Trào với những địa danh đã đi vào sách giáo khoa, vào thơ ca, vào ký ức tập thể của nhiều thế hệ người Việt. Chính nơi đây, mùa hè năm 1945, những quyết định mang tính bước ngoặt cho vận mệnh dân tộc đã được đưa ra. Và cũng chính nơi đây, văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam đã tìm thấy một trong những cái nôi tinh thần đầu tiên của mình. Đặt chân xuống Tân Trào, không chỉ bước vào một không gian địa lý, mà như bước vào một tầng sâu của thời gian. Mỗi lối mòn, mỗi bậc đá, mỗi tán cây đều phảng phất những câu chuyện cũ: về những cuộc họp trong đêm, về những bài thơ chép vội trên mảnh giấy mỏng, về tiếng đàn, tiếng hát khẽ khàng vang lên bên bếp lửa, để sưởi ấm tinh thần cho những con người đang gánh trên vai vận mệnh non sông. Bởi thế, việc Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang lựa chọn Tân Trào làm nơi tổ chức hội thảo là một quyết định mang tính biểu tượng; là một cách trở về - trở về với cội nguồn của văn học, nghệ thuật cách mạng, để từ đó nhìn lại, suy ngẫm và tiếp tục hành trình phía trước.
Một nhà thơ chia sẻ, giọng trầm lại: “Chúng tôi - những người viết sau chiến tranh, không viết bên bếp lửa rừng, nhưng mỗi khi cầm bút, vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng của những thế hệ đi trước, những con người từng ngồi ở Tân Trào, viết những câu thơ đầu tiên cho một đất nước chưa kịp ra đời”. Còn một nhà văn trẻ đứng lặng rất lâu, rồi nói khẽ: “Tôi thấy như mình đang đứng trong một trang sách chưa khép lại”. Có lẽ, đó cũng là cảm giác chung của nhiều người văn nghệ sĩ khi tham gia cuộc hội thảo. Bởi, Tân Trào không phải là câu chuyện đã khép, mà là một chương đang tiếp tục được viết, bằng mồ hôi, trí tuệ và tâm huyết của những người đang tiếp bước.
Trong tham luận tại cuộc hội thảo do PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh trình bày, hình ảnh những năm 1944 - 1945 hiện lên rõ nét: những căn lán lợp lá cọ, những chiếc bàn tre tạm bợ, những cây bút mực còn hiếm hoi, và những con người viết bằng cả trái tim nóng bỏng. Nhiều văn nghệ sĩ đã sống, đã viết, đã trưởng thành cùng cách mạng. Những cái tên như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, Xuân Diệu, Huy Cận... từng in dấu chân nơi núi rừng Việt Bắc. Không ít tác phẩm quan trọng của văn học cách mạng đã được thai nghén, hoặc ít nhất là được bồi đắp tinh thần từ chính không gian này. Nếu không có Việt Bắc, không có Tân Trào, chưa chắc đã có một nền văn học, nghệ thuật cách mạng mang diện mạo như chúng ta biết hôm nay. Ở đó, cái đói, cái rét, sự thiếu thốn vật chất luôn rình rập. Nhưng cũng ở đó, lòng tin vào ngày độc lập, tự do lại cháy bỏng hơn bao giờ hết. Văn chương sinh ra trong hoàn cảnh ấy không thể là thứ văn chương ủy mị. Nó buộc phải mạnh mẽ, giản dị, trực tiếp, gắn chặt với đời sống chiến đấu và lao động của Nhân dân. Tân Trào, vì thế, không chỉ là địa danh lịch sử, mà còn là “không gian tinh thần” - nơi hình thành một hệ giá trị thẩm mỹ mới: Văn học, nghệ thuật vì Tổ quốc, vì Nhân dân, vì lý tưởng cách mạng.
Các tham luận lần lượt mở ra một bức tranh toàn cảnh về sự phát triển của văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam: Từ giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đến thời kỳ xây dựng đất nước và hội nhập. Người ta nhắc đến những bài thơ làm rung chuyển lòng người trong chiến hào, những ca khúc trở thành hành trang của bộ đội trên những nẻo đường Trường Sơn, những bức tranh ký họa vội vàng mà giàu xúc cảm, những vở kịch, những trang tiểu thuyết viết về số phận con người trong chiến tranh và hòa bình. Tất cả đều được nhìn nhận như những nhánh lớn nhỏ của một con sông khởi nguồn từ những suối nguồn như Tân Trào, như Việt Bắc.
Tiến sĩ Nguyễn Vũ Phan khẳng định: Núi rừng hùng vĩ, thơ mộng và phong trào cách mạng sôi nổi ở chiến khu Việt Bắc trở thành nguồn cảm hứng sáng tác dồi dào cho các văn nghệ sĩ. Các tác phẩm ra đời ở thời kỳ này đánh dấu sự chuyển hóa hoàn toàn từ văn học, nghệ thuật hiện thực lãng mạn sang văn học, nghệ thuật cách mạng, trở thành lẽ sống, động lực thúc đẩy cho người người, nhà nhà tập trung phục vụ kháng chiến. Đội ngũ văn nghệ sĩ hùng hậu đã khẳng định tên tuổi và vẫn tinh thần ấy, sức mạnh ấy tiếp tục xung kích trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, cùng Nhân dân cả nước đi qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước, rồi tiếp tục hòa mình vào công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước... Tất cả đã trở thành các tác phẩm mang giá trị nghệ thuật cao, đồng thời là tư liệu lịch sử minh chứng cho thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc... Nhiều tác phẩm ở thời kỳ này, cho đến nay vẫn thường xuyên được sử dụng để phục vụ đời sống, trở thành những tác phẩm sống mãi với thời gian. Một khối lượng lớn tác phẩm văn học, thơ ca, hội họa, điện ảnh, sân khấu của các tác giả có mặt tại Tuyên Quang ngày ấy trở thành kinh điển giảng dạy trong các trường học, các cơ sở đào tạo hiện nay...
Hội thảo không dừng lại ở việc tôn vinh quá khứ. Nhiều ý kiến thẳng thắn đặt vấn đề: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế thị trường, công nghệ số, văn học nghệ thuật cách mạng sẽ đi về đâu? Làm thế nào để giữ được cốt lõi nhân văn, tinh thần dân tộc, lý tưởng phụng sự Tổ quốc, mà vẫn đổi mới hình thức, ngôn ngữ, để không bị tụt lại phía sau? Những câu hỏi ấy không có câu trả lời đơn giản. Nhưng chính việc đặt ra chúng, giữa không gian lịch sử của Tân Trào, đã cho thấy một thái độ nghiêm túc với di sản và với tương lai.
Ở mảng nhiếp ảnh, bà Trần Thị Thu Đông, Chủ tịch Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam cho rằng, không chỉ phục vụ nhiệm vụ chính trị và kinh tế địa phương, nhiếp ảnh Tuyên Quang còn tự hào là một điểm sáng, một "thương hiệu mạnh" trong phong trào nhiếp ảnh cả nước và khu vực. Năm 2025 là một năm "được mùa" rực rỡ. Dù là một tỉnh miền núi, nhưng tư duy nghệ thuật của các nghệ sĩ Tuyên Quang không hề bị giới hạn bởi không gian địa lý. Anh chị em đã vươn tầm quốc tế và khẳng định vị thế ở khu vực miền núi phía Bắc. Tại Liên hoan Ảnh nghệ thuật khu vực miền núi phía Bắc lần thứ 24 vừa diễn ra ở Cao Bằng, đoàn Tuyên Quang đã để lại dấu ấn đậm nét. Cho thấy, nhiếp ảnh Tuyên Quang không chỉ đông về số lượng mà còn tinh về chất lượng. Minh chứng là Tuyên Quang vinh dự nằm trong Top các tỉnh nhận giải Đồng đội. Điều này khẳng định sự đồng đều, đoàn kết và lực lượng kế cận hùng hậu của Tuyên Quang.
Trong bối cảnh về mặt địa lý, Tuyên Quang đã trở thành biểu tượng của sự chở che, lòng trung hậu của Nhân dân, sự hòa quyện giữa cách mạng và đời sống thường nhật, giữa lý tưởng lớn lao và những phận người nhỏ bé... Từ những trang văn viết về đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan... đến những bài thơ ca ngợi núi rừng Việt Bắc, Tuyên Quang hiện lên vừa cụ thể, vừa giàu chất huyền thoại: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù...”. Câu thơ tưởng chừng giản dị, nhưng gói trong đó là cả một triết lý về thiên nhiên, con người và cách mạng gắn bó làm một. Các thế hệ văn nghệ sĩ của Tuyên Quang có sự kế thừa. Trong các dòng chảy của văn học, nghệ thuật hôm nay thì dòng chảy văn học, nghệ thuật cách mạng vẫn được xem là dòng chủ lưu, có sức ảnh hưởng to lớn đến đời sống đương đại.
Nhà văn Cao Duy Sơn, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam mang đến những nhận định: Tuyên Quang đã có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển chung văn học của cả nước, đặc biệt với văn học dân tộc miền núi. Ảnh hưởng tích cực từ “cái nôi cách mạng”, các tài năng đã làm giàu cho quê hương bằng những tác phẩm giá trị, mang ý nghĩa lịch sử. Cả sự sống động, chân thực cuộc sống hôm nay cũng ùa vào những trang viết, như các tập thơ của Gia Dũng: “Nắng Tân Trào”, “Bài ca Trường Sơn”; Cao Xuân Thái với: “Cao nguyên cực Bắc”, “Trước đá”, “Từ tuyến đầu Tổ quốc”; Mai Liễu với: “Bếp lửa vuông”, “Suối làng”, “Đầu nguồn mây trắng”; Hà Phan với: “Lán Nà Nưa; Lê Na với: “Đêm lửa trại”; Đoàn Thị Ký với: “Tân Trào”... Mỗi tác giả một phong cách, mang tới bạn đọc không gian văn hóa đậm nét, với cảm hứng về một vùng đất cách mạng in dấu trong lòng bao thế hệ người Việt.
Một số tham luận tại hội thảo cũng cho rằng, trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, văn học, nghệ thuật Tuyên Quang gắn bó sâu sắc với nhiệm vụ chính trị của đất nước. Văn nghệ sĩ vừa là chiến sĩ, vừa là người sáng tạo. Các tác phẩm ra đời trong giai đoạn này mang đậm tinh thần sử thi, phản ánh hiện thực chiến đấu của quân và dân một lòng. Chúng ta đã có những áng thơ bất hủ của Hồ Chủ tịch, của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi; những tác phẩm nhiếp ảnh đi cùng chiều dài đất nước; những bài ca cách mạng xuyên suốt chiều dài lịch sử và những tác phẩm mỹ thuật đã gắn liền với vận mệnh dân tộc. Ở giai đoạn này dòng chảy ấy mang những đặc trưng rất rõ, như: Tính thời sự sâu sắc, gắn trực tiếp với nhiệm vụ lịch sử. Ngôn ngữ giản dị, cô đọng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ truyền bá. Tinh thần nhân văn lớn, đặt con người - đặc biệt là quần chúng Nhân dân - ở vị trí trung tâm. Thời kỳ này văn học, nghệ thuật cách mạng Việt Nam đã xác lập một hệ giá trị nền tảng là: Phụng sự Tổ quốc, giải phóng đất nước và bồi đắp niềm tin vào ngày mai tất thắng. Còn sau năm 1975, văn học, nghệ thuật bước vào giai đoạn phát triển mới với sự đa dạng về đề tài, thể loại và phương thức biểu đạt. Bên cạnh mảng đề tài truyền thống về chiến tranh, cách mạng, nhiều tác phẩm đã đi sâu phản ánh đời sống đương đại, những biến chuyển của xã hội, tâm tư, số phận con người trong thời kỳ mới.
Một cuộc hội thảo về đề tài này lần đầu tiên được tổ chức. Nhưng nó cũng đã để lại nhiều cứ liệu quan trọng về việc hình thành nên dòng chảy mới, mà dòng chảy ấy bắt nguồn từ Tuyên Quang. Cảm giác về một dòng chảy âm thầm vẫn còn đó - dòng chảy của ký ức, của lý tưởng, của văn chương và nghệ thuật gắn bó với vận mệnh dân tộc. Quan trọng hơn, nó khơi dậy một ý thức, rằng: Văn học, nghệ thuật cách mạng không phải là một “chương cũ” để trưng bày, mà là một mạch sống cần được tiếp tục nuôi dưỡng, làm mới, và truyền lại. Tuyên Quang - Tân Trào - Với núi rừng trầm mặc, với những con người bình dị, đã và đang giữ vai trò của một nguồn suối đầu nguồn. Nước từ đó chảy đi, qua bao ghềnh thác, bao khúc quanh của lịch sử, để rồi hòa vào con sông lớn của văn hóa dân tộc. Và khi con sông ấy còn chảy, khi còn có những con người cầm bút, cầm đàn, cầm cọ... với một trái tim hướng về Tổ quốc, thì Tân Trào vẫn còn đó - không chỉ trên bản đồ, mà trong tâm thức của văn học, nghệ thuật Việt Nam.
M.C
10-02-2026
10-02-2026
10-02-2026
10-02-2026