Con chữ nhọc nhằn nơi vành đai biên giới

Thứ hai, ngày 09-02-2026, 10:22| 873 lượt xem

Ghi chép của Nguyễn Thị Tuyên

 tích này nếu nếu so sánh với các trường có điều kiện tốt thì đã là một kì tích nhờ sự nỗ lực, cố gắng từ đội ngũ giáo viên trong nhà trường.
Hôm chúng tôi lên, nhằm đúng ngày mưa. Đường vào rất khó đi. Hôm trước chuyến đi, bao nhiêu trăn trở vì lý do cá nhân, vì thời tiết và cả sợ say xe nữa. Nhưng rồi chúng tôi vẫn quyết định lên đường nhờ sự động viên của cô giáo Lý Thị Mai Hương. Dưới làn mưa như trút nước, rừng núi mịt mùng trong giá lạnh. Hình ảnh các thầy giáo Phú Lũng xắn quần dưới mưa, đứng cách trường ba mươi km, chờ chúng tôi lên, khiến ai nấy đều xúc động. Các thầy đón chúng tôi bằng tất cả sự chân tình. Chúng tôi nhoai theo con đường, bên các thầy giáo, trong hơi lạnh se sắt, để lên với trường. Lúc nhìn lại năm thầy giáo, với năm chiếc xe máy đã bê bết bùn đất, mới thấu hiểu sự hi sinh lớn lao mà đội ngũ giáo viên ở đây đã trải qua.  
Đặt chân đến trường THCS Phú Lũng, điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là ngôi trường nhỏ bé trên sườn đồi ấy lại vô cùng sạch và đẹp. Mọi thứ đầy đủ và ấm áp. Cảnh quan ngôi trường là nhân chứng không lời cho tâm huyết của thầy cô nơi đây gây dựng nên. Sau bữa cơm “gia đình” do các cô giáo nấu, mưa đã ngớt từ bao giờ, bầu trời le lói chút nắng hanh hao. Những dãy núi đá tai mèo nơi một vùng phên dậu Tổ quốc như cũng bừng sáng lên. Cô giáo Vân, bảo: “May hôm nay các anh chị lên đây trời ấm hơn nhiều”. Vậy mà ngồi trong căn phòng nhà trường, cái rét len lỏi, xâm nhập đến tê dại. Thời gian trôi nhanh. Nắng tắt sớm. Hết nắng, rét vẫn như ngọn roi quất vào da thịt. Nhưng lúc ấy, sân trường trở nên náo nhiệt khi các em học sinh nhà trường tham gia một buổi ngoại khoá. Tôi nhìn qua cửa sổ và bỗng ngạc nhiên khi những đứa trẻ ở đây không hề nhút nhát như trong tưởng tượng. Chúng gần gũi, thân thiện và tự tin. Những gương mặt rạng ngời, trên tay ôm bó hoa rừng do chính tay các em kiếm được, hối hả tiến về phía chúng tôi và trao tặng. Những lời chúc hồn nhiên, ngọng nghịu: “Chúc cô khoẻ”, “Chúc cô có nhiều tiền”..., khiến mắt tôi cứ nhoè đi. Có lẽ, trong cuộc đời tôi, chưa bao giờ tôi có được khoảnh khăc ấy, một khoảnh khắc hạnh phúc, ấm áp và thân thương. 

Tác giả và các em học sinh trường THCS Phú Lũng. Ảnh: P.V


Buổi ngoại khoá đặc biệt ấn tượng, bởi sự tham gia của cả bà con các bản trong xã. Họ đi xem “biểu diễn nghệ thuật”, có cả Bí thư chi bộ, các đồng chí bộ đội biên phòng, lực lượng công an, lãnh đạo địa phương. Tôi quan sát ở phía cuối sân trường, có hai bố con, với dáng người nhỏ xíu, quần áo còn nhem nhuốc bùn đất. Nghe anh công an kể, đó là hai bố con trong một gia đình thuộc hộ nghèo. Hôm nay, anh cũng cùng con đến nghe hát. Người bố nom khắc khổ, nhưng khuôn mặt đôi lúc chợt giãn ra theo lời bài hát do học sinh trong trường biểu diễn. Có lúc tôi lại nom thấy anh mỉm cười khi nhìn con lên nhận quà.
Khi buổi ngoại khoá kết thúc, tôi đã đến nói chuyện với hai bố con anh. Anh ít nói, chỉ mỉm cười, thỉnh thoảng mới trả lời câu hỏi. Thằng bé nép mình vào bố, ánh mắt lanh lợi, nhưng chất chứa một nỗi buồn xa vắng.  
 - Nhà con cách trường bao xa?
- Con không biết. Xa lắm!
- Vậy con đi bao lâu mới đến trường?
- Một tiếng! Con đi từ 6 giờ. 
Một bé nói xen vào: 
- Có hôm trời còn tối lắm! Nhà con và bạn ấy ở giáp bờ rào biên giới.
 Tôi bị ám ảnh với những lời kể hồn nhiên của học sinh Phú Lũng, Bạch Đích. Tôi cũng hiểu vì sao các thầy cô dám “hy sinh tuổi xuân bám trường, bám bản” như vậy. Mọi thứ sẽ bắt đầu từ những ánh mắt trong veo và đáng yêu như thế. Có những thầy giáo, cô giáo đã lên với Phú Lũng, lên với Bạch Đích và ở lại, gắn bó với dải đất biên cương từ hơn hai mươi năm nay. Trong số đó có cô giáo Vũ Thị Thảo, quê Vũ Thư, Thái Bình. Cô Thảo lên đây khi tuổi mới đôi mươi, rồi xây dựng gia đình và ở lại với bản làng. Cô kể, ngày mới lên, điện còn chưa có. Sau này có điện thoại nhưng đúng như cảnh phim “Mùa xuân ở lại”, muốn liên lạc với bên ngoài, phải đứng trên ngọn đồi, tay giơ cao điện thoại hóng từng tý sóng. Ngày đầu Thảo chưa quen với cái rét cắt da cắt thịt, có hôm xuống 0 độ, rồi cả tuyết rơi phủ trắng trên các triền núi, trên mái nhà và trên con đường đi. Sợ rét. Sợ đêm. Sợ cả sự cô đơn vắng lặng. Sợ cả những chông chênh tuổi đời con gái nơi heo hút mưa ngàn. Nhưng điều cô Thảo và đội ngũ giáo viên ở Phú Lũng sợ hơn cả là cảnh thiếu nước sinh hoạt. Khó khăn thế nhưng chưa bao giờ các cô nghĩ đến bỏ nghề. 
- Nhìn bọn trẻ, không nỡ chị ạ. 
Khó khăn về vật chất, về địa lí các cô không ngại. Điều các cô lo lắng là học sinh bỏ học giữa chừng. Cô vẫn nhớ như in những ngày dắt theo hai con, vượt qua từng cung đèo dốc, đến từng nhà vận động học sinh đến lớp. Lặng lẽ công việc như vậy từ năm học này đến năm học khác. Bao lứa học trò Phú Lũng lớn lên, toả đi muôn nẻo. Mái tóc và nếp nhăn của cô Thảo cũng đã hằn in qua vết thời gian. Gần hai mươi năm cô đến với mảnh đất xa xôi này, rồi ở lại, gắn bó với nó như một duyên nợ. Khi tôi hỏi về ý định chuyển trường về gần thành phố, hoặc về quê cũ Thái Bình (nay là tỉnh Hưng Yên), cô Thảo chỉ cười và quả quyết: 
- Em quen sống trên này rồi. 
Trong những câu chuyện bám trường, bám lớp ở trường THCS Phú Lũng, thuộc xã biên giới Bạch Đích, tôi ấn tượng với câu chuyện của thầy Nguyễn Quốc Khánh, Hiệu trưởng nhà trường. Thầy có thâm niên dạy học trên non cao, với thời gian hai mươi năm có lẻ. Năm 2002, ngay sau khi ra trường, thầy đặt chân lên Phú Lũng, với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ. Tuy nhiên, dù có nhiệt huyết và hoài bão bao nhiêu, nhưng khi lên đến điểm trường, lòng thầy không khỏi bùi ngùi, chán nản. Nhìn ở đâu cũng một màu xám lạnh của mây ngàn, đá núi. Dân cư thưa thớt, ngôi trường xao xác với vài dãy lớp tạm bợ. Đêm nằm trong căn phòng tồi tàn, gió thổi lạnh đến buốt xương. Nhiều lúc cũng nghĩ đến việc bỏ nghề, nhưng ý chí đã thắng cái cảm xúc ban đầu. Nhìn các em học sinh đến lớp trong mùa đông, với manh áo mỏng, đôi chân trần nứt nẻ, lòng thầy không nỡ rời xa. Thầy trăn trở và muốn làm điều gì đó cho tương lai con em đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây. Vậy là thầy chấp nhận ở lại, chấp nhận gian khổ, đồng hành cùng các em trên hành trình gian khó.
Chính mảnh đất nhọc nhằn, khô khát này thầy Khánh đã tìm thấy tình yêu của mình với công việc dạy học. Đã hơn hai mươi năm trôi qua, tình yêu với nghề trong thầy mỗi ngày một lớn lên, sâu đằm hơn. Và, Bạch Đích lại ươm mầm cho một đôi lứa tìm thấy sự đồng cảm của nhau. Đấy là việc cô giáo mầm non từ làng hoa Ngọc Hà (Hà Nội) lặn lội lên vùng đất biên cương xa xôi. Họ đồng cảm với nhau, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình, sinh con đẻ cái và lại tiếp tục gắn bó chặt chẽ với Phú Lũng. Suốt chục năm đi qua, nhưng chưa khi nào cả hai vợ chồng thầy có ý định rời Phú Lũng, rời Bạch Đích để tìm đến một nơi dạy học mới, an nhàn hơn. Dường như, nơi này đã trở thành quê hương, xứ sở, chẳng dễ gì thay đổi được. 
- Đời em ở đây thôi, chả muốn di chuyển đi đâu nữa chị ạ. 
Câu chuyện của cô giáo Vũ Thị Thảo và thầy Nguyễn Quốc Khánh khiến tôi bất chợt nhớ đến buổi dự giờ ngữ văn của thầy Hồng vừa diễn ra hôm trước. Hôm ấy thầy Hồng dạy thơ Đường luật, một thể thơ không dễ cảm. Vậy mà thầy và trò thực hiện một giờ học nhẹ nhàng, tự nhiên, không gượng gạo, chẳng phô diễn. Các em học sinh tự tin trình bày, tự tin nhận xét rất hồn nhiên như cây cỏ nơi này. Các thầy, cô giáo ở Phú Lũng đã gieo vào đá những con chữ tuy nhọc nhằn, nhưng tươi mới. Con chữ sẽ nảy mầm, lớn lên, giống như lời bài hát: “Hy sinh tuổi xuân, bám trường bám bản. Cho trẻ vùng cao viết tiếp những ước mơ… Gánh cái chữ băng rừng lội suối, giữa non xanh mây vờn đỉnh đèo cao, rừng đại ngàn đã đi vào giấc ngủ; thương học trò còn chưa ấm, chưa no...”.
Đêm xuống. Tôi nằm thao thức trong căn phòng do nhà trường sắp xếp. Thời tiết trong phòng đang là 90, ấm hơn mọi ngày. Nghe đâu đó mùa xuân đang trở về trên những cánh đào trổ hoa đằm thắm, dọc trên các triền núi đá tai mèo. Đã bớt cái lạnh của mùa đông còn xót lại nơi vùng đất còn quá nhiều gian truân. Trời đã đổ mưa, nhưng vẫn không làm bớt đi sự khô khát. Ở các ngôi trường như Phú Lũng, hay các điểm trường khác, như: Tả Lủng, Sà Phìn, Thài Phìn Tủng… trên suốt dặm dài núi non vùng biên cương của tỉnh Tuyên Quang, mùa này rất hiếm nước. Các thầy, cô giáo buộc phải tiết kiệm từng giọt nước. Quanh năm chỉ có nước mưa hứng được, dùng cho ăn uống, sinh hoạt, ngoài ra rất hiếm có nguồn nước đào được trong tự nhiên. 
Có dịp đi qua các ngôi trường vùng biên giới của tỉnh Tuyên Quang, tôi chợt nhận ra rằng, sau bao khó khăn, thiếu thốn và cả sự khắc nghiệt, nhưng các thầy, cô giáo vẫn chọn ở lại, bám trường, bám lớp, thắp sáng ước mơ cho những ánh mắt trẻ thơ đầy hi vọng. Nó giống như sau mùa đông ảm đạm, nụ hoa xuân bung nở, đá núi sẽ lại có thêm những mùa quả ngọt.


                                                                           N.T.T

Tin tức khác

Emagazine

Được mùa lúa bản Dao

19-03-2026| 1.701 lượt xem

Bản Dao đón Tết

15-03-2026| 1.450 lượt xem

Bà cháu

10-03-2026| 1.405 lượt xem

Bảo tồn để phát triển

11-02-2026| 1.274 lượt xem

Cam sành Hàm Yên mùa thu hoạch

17-08-2024| 5.099 lượt xem