Thơ Bác Hồ viết ở Tuyên Quang

Thứ ba, ngày 18-06-2024, 09:28| 5.711 lượt xem

Bùi Thị Mai Anh

Mái đình xưa. Ảnh của Việt Trường

 

 

Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945 và trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ đã ở, làm việc trên đất Tuyên Quang gần sáu năm, tại hơn ba mươi hai địa điểm khác nhau, gắn liền với những sự kiện quan trọng của Đảng, Bác Hồ, tới lịch sử dân tộc ta.

Trong di sản văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thơ ca là lĩnh vực nổi bật. Với khoảng hai trăm năm mươi bài thơ, trong đó có hơn một trăm bài thơ

chữ Hán - một con số thật có ý nghĩa với một đời thơ, đủ khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà thơ, sau này được in trong các tập thơ tiêu biểu: Thơ Hồ Chí Minh, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh...

Thơ ca của Chủ tịch Hồ chí Minh có sự  kết hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và hiện đại; giữa chất thép với chất tình cộng với sự trong sáng giản dị và sự hàm súc, sâu sắc. Người sáng tác thơ ca chủ yếu từ khi về nước (1941) cho tới cuối đời.

Trí tuệ Hồ Chí Minh còn ở chỗ, Người còn đề ra một tuyên ngôn cho thơ ca và văn học cách mạng:

                  “Nay ở trong thơ nên có thép

                  Nhà thơ cũng phải biết xung phong”.

Ở chiến khu Việt Bắc (chủ yếu ở các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên và Tuyên Quang), Bác làm khá nhiều thơ cả chữ Hán lẫn chữ quốc ngữ. Đó là những bài thơ chúc Tết hàng năm, thơ tặng các cụ cao niên, các lão du kích, thơ tặng các cháu thiếu niên nhi đồng nhân dịp Trung thu, thơ viết về những khoảnh khắc tuyệt đẹp của thiên nhiên chiến khu Việt Bắc, của tâm hồn thi sĩ hòa quyện tâm hồn chiến sĩ…

 Nhân dịp kỷ niệm một trăm ba mươi tư năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin giới thiệu với bạn đọc một số bài thơ được Bác viết tại Tuyên Quang.

Trung Thu năm 1952, mặc dù rất bận với công việc của cuộc kháng chiến đang rất gần ngày toàn thắng, Bác vẫn gửi thơ tặng các cháu thiếu niên nhi đồng, với tình cảm dạt dào, thắm thiết, ngôn ngữ giản dị, mộc mạc mà vẫn ân cần, khích lệ:

                  “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

                  Tùy theo sức của mình”:

                  THƠ TRUNG THU

                  “Ai yêu các nhi đồng

                  Bằng bác Hồ Chí Minh

                  Tính các cháu ngoan ngoãn

                  Mặt các cháu xinh xinh

                  Mong các cháu cố gắng

                  Thi đua học và hành

Tuổi nhỏ làm việc nhỏ

Tùy theo sức của mình

Đi tham gia kháng chiến

Để gìn giữ hòa bình

Các cháu hãy xứng đáng

Cháu bác Hồ Chí Minh”.

                  (Ngày 25-9-1952)   

Thơ chúc Tết các năm 1949, 1950, 1951,1952, 1953, 1954, đều được Bác viết tại các địa điểm của ATK Tuyên Quang: hang Bòng, Lũng Tẩu (Sơn Dương), Kim Quan (Yên Sơn), Bó Củng (Kim Bình, Chiêm Hóa)… Qua những bài thơ chúc Tết, Bác đã dùng những câu thơ mộc mạc, giản dị thay thư động viên các đoàn thể, đồng bào, đồng chí. Nhiều bài gọn, nhiều câu đã trở thành những mục tiêu hướng đến, những châm ngôn của cuộc kháng chiến, gửi gắm tình cảm dành cho đồng bào, đất nước, thể hiện ý chí quyết tâm cách mạng, tiến tới giành thắng lợi vẻ vang.

         “Người người thi đua.

         Ngành ngành thi đua.

         Ngày ngày thi đua.

         Ta nhất định thắng.

         Địch nhất định thua”.

                                      (Thơ chúc Tết xuân Kỷ Sửu - 1949)

“Kháng chiến nhất định thắng lợi”.

(Thơ chúcTết xuân Canh Dần - 1950)

         “Toàn dân hăng hái một lòng

Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời”.

(Thơ chúc Tết xuân Tân Mão - 1951)

         “Chiến sĩ thi giết giặc

         Đồng bào thi tăng gia

         Năm mới thi đua mới

         Thắng lợi ắt về ta”

 (Thơ chúc Tết xuân Nhâm Thìn - 1952)

         “Mừng phát động nông dân,

         Mừng hậu phương phấn khởi.

         Mừng tiền tuyến toàn quân

         Thi đua chiến thắng mới.

         Mừng toàn dân kết đoàn,

         Mừng kháng chiến thắng lợi”.

(Thơ chúc Tết xuân Quý Tỵ - 1953)

                “Quân và dân ta nhất trí kết đoàn,

Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công”.

 (Thơ chúc Tết xuân Giáp Ngọ - 1954)

Thơ chúc mừng, động viên của Bác đầy chất công dân mà người người đều thuộc, bởi vì thơ rất gần gũi với nhiệm vụ, công việc của họ, mà tình cảm người viết thì vô cùng thân mật, đầm ấm như những người thân trong gia đình nói với nhau… Thơ chúc Tết của Bác giản dị, súc tích, lắm câu đã như phương ngôn, tục ngữ…

Ở Tuyên Quang, có ba bài thơ hay nhất cũng được đông đảo bạn đọc trong cả nước biết, được đưa vào các chương trình dạy học của các bậc học trong cả nước, đó là bài Nguyên tiêu, Đi thuyền trên sông Đáy và Vô đề, trong đó có hai bài được viết bằng chữ Hán, một bài viết bằng chữ quốc ngữ.  Có một số bài thơ của Bác cũng rất hay: Cảnh khuya, Tin thắng trận, Cảnh rừng Việt Bắc... nhưng không được Người viết ở Tuyên Quang, mà ở Định Hóa, Thái Nguyên (điều này được các nhà nghiên cứu xác nhận và thông tin từ các bảo tàng, khu di tích cung cấp).

Bài Nguyên tiêu ra đời vào dịp Tết Nguyên Tiêu năm Mậu Tý (1948), Bác Hồ và một số cán bộ Trung ương đi kiểm tra chiến dịch ở khu rừng Việt Bắc trên một chiếc thuyền trên sông Phó Đáy, cùng đi có nhà thơ Xuân Thủy.

Xong việc kiểm tra, khi ra về trời đã khuya, trăng rằm tỏa sáng vằng vặc trên bầu trời. Khung cảnh thiên nhiên thật nên thơ, chuyện quân sự đã bàn xong, có thể thanh thản ngắm cảnh đẹp trong đêm trăng. Mọi người đề nghị Bác làm thơ. Bác không từ chối và đọc một bài thơ tứ tuyệt chữ Hán lấy tựa đề là Nguyên tiêu:

                   NGUYÊN TIÊU

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên

Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên

Yên ba thâm xứ đàm quân sự

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Đồng chí Xuân Thủy đã dịch nhanh và đọc cho mọi người trên thuyền cùng nghe:

              RẰM THÁNG GIÊNG

         Rằm xuân lồng lộng trăng soi

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân

         Giữa dòng bàn bạc việc quân

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Theo lời kể lại, đồng chí Xuân Thủy đã dịch bài Nguyên tiêu của Bác ba lần, nhưng bản dịch này được coi là bản dịch hay nhất, sát với tứ thơ của bài Nguyên tiêu nhất, và bản dịch này cũng được sử dụng trong trường học nhiều nhất.

          Bài thơ Đi thuyền trên sông Đáy được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác năm 1949, trong một lần Bác từ Khấu Lấu (thuộc xã Tân Trào) xuôi thuyền về huyện lỵ Sơn Dương thăm một lớp học của cán bộ kháng chiến.

Bài thơ cho thấy sự hòa quyện tâm hồn của thi sĩ Hồ Chí Minh và vị Tổng Tư lệnh kháng chiến Hồ Chí Minh trong một đêm trăng trên dòng Phó Đáy lịch sử:

        ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG ĐÁY

         Dòng sông lặng ngắt như tờ

Sao đưa thuyền chạy, thuyền chờ trăng theo

         Bốn bề phong cảnh vắng teo

Chỉ nghe cót két tiếng chèo thuyền nan

         Lòng riêng, riêng những bàn hoàn

Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng

         Thuyền về, trời đã rạng đông

Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi.

Năm 1950, trong thời gian Bác sống tại địa điểm Khấu

Lấu - Vực Hồ, thôn Bòng, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, Bác đã sáng tác bài thơ chữ Hán: “Vô đề”:

          VÔ ĐỀ

Sơn kính khách lai, hoa mãn địa,

Tùng lâm quân đáo, điểu xung thiên.

Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,

Huề dũng giai đồng quán thái viên.

Dịch thơ:

          KHÔNG ĐỀ

Đường non khách tới hoa đầy,

Rừng sâu quân đến, tung bay chim ngàn.

Việc quân, việc nước đã bàn,

Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau.

                      (Bản dịch của Xuân Thủy)

Như vậy, có thể thấy, mặc dù rất bận rộn với công việc chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhưng Bác vẫn luôn giành thời gian để động viên đồng bào, chiến sĩ, các đối tượng nam phụ lão ấu, khích lệ tinh thần hết lòng cho kháng chiến của nhân dân, đặc biệt, hồn thơ của Bác vẫn luôn sẵn sàng để có những tác phẩm tuyệt hay.

Trở lại với bài Nguyên tiêu, đây là bài thơ xuân, thơ trăng hay nhất của Bác Hồ. Năm 2003, nhân dịp năm mươi nhăm năm nhà thơ Hồ Chí Minh làm bài thơ Nguyên tiêu, Hội Nhà văn Việt Nam đã đề nghị lấy ngày Rằm tháng Giêng hằng năm, làm Ngày thơ Việt Nam. Đó là sự tôn vinh đối với bài thơ và nhà thơ Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc một bài thơ bất tử, một xác nhận Nguyên tiêu là bài thơ tiêu biểu được làng thơ Việt Nam chính thức đưa lên đỉnh cao thơ ca dân tộc.

Giá trị tư tưởng và nghệ thuật của Nguyên tiêu đã và sẽ mãi mãi vang vọng cùng non sông, đất nước và hiện hữu như một áng thơ tuyệt mỹ trong tâm hồn mỗi người dân Việt. Từ đó đến nay, vào ngày Rằm tháng Giêng hằng năm, trên khắp mọi miền đất nước nói chung, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang nói riêng, đều diễn ra nhiều hoạt động phong phú như kéo lá cờ Thơ, ngâm thơ, đọc thơ, bình thơ, sáng tác thơ, giao lưu giữa nhà thơ với công chúng, xem thư pháp thơ, diễn thơ… Tất cả thể hiện một tình yêu với thơ, một tâm hồn thơ, đó là nét độc đáo trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt trong dịp Tết đến xuân về, trong dịp Tết Nguyên tiêu - ngày rằm đầu tiên của năm mới.

Có một điều thú vị, không ít độc giả nhầm lẫn, cho rằng sông Đáy mà Bác Hồ nhắc tới, trong bài thơ “Đi thuyền trên sông Đáy” không phải ở Tuyên Quang. Tuy nhiên, theo Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở): “Sông Phó Đáy là một phụ lưu bên tả ngạn của sông Lô, có thượng lưu và trung lưu chảy trên địa bàn vùng núi và Trung du phía Bắc, còn hạ lưu chảy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Sông Phó Đáy, còn gọi là Tiểu Đáy bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chảy qua các huyện Yên Sơn, Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang, huyện Lập Thạch, Tam Đảo, Tam Dương, Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh Phúc và nhập vào sông Lô phía trên cầu Việt Trì. Bên kia sông Lô, tại ngã ba sông là địa phận tỉnh Phú Thọ. Từ ngã ba sông Phó Đáy và sông Lô đi tiếp về phía hạ lưu của sông Lô chưa đến hai ki lô mét là ngã ba sông nơi sông Lô hợp lưu vào sông Hồng. Sông Phó Đáy có nhiều phụ lưu nhỏ. Đoạn trên địa bàn Tuyên Quang dài tám mươi tư ki lô mét”.

Sông Phó Đáy ở Tuyên Quang còn được gọi tắt là sông Đáy.

Còn sông Đáy “là dòng sông chảy từ phía tây Hà Nội, xuyên qua tỉnh Hà Nam rồi thành ranh giới giữa Ninh Bình và Nam Định trước khi đổ ra biển Đông tại cửa Đáy. Dòng sông này chảy song song bên hữu ngạn hạ lưu sông Hồng”. (Wikipedia).

          Như vậy, sông Đáy và sông Phó Đáy là hai con sông khác nhau hoàn toàn. Sông Phó Đáy (chủ yếu là đoạn qua Tuyên Quang) được nhắc đến trong bài thơ “Đi thuyền trên sông Đáy” và bài “Nguyên tiêu” của Hồ Chí Minh với tên gọi sông Đáy. Những bài thơ viết về cảnh thiên nhiên, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của vị Chủ tịch nước: nỗi lo lắng cho dân cho nước, tình yêu thiên nhiên, yêu con người, tinh thần lạc quan cách mạng là những bài thơ có giá trị nhất.

Về phong cách thơ Hồ Chủ tịch: nếu những bài thơ tiếng Việt mộc mạc, giản dị, dễ hiểu, mang phong vị thơ ca dân gian, nhưng cũng rất sâu sắc, có giá trị tuyên truyền rất hiệu quả thì những bài thơ viết bằng chữ Hán của Người hầu hết đều là tứ tuyệt (ngũ ngôn, thất ngôn) lại mang màu sắc cổ thi, hàm súc, uyên thâm, man mác hơi thơ Đường, thơ Tống. Thơ tứ tuyệt của Bác hay, sâu sắc. Nhà văn Trung Quốc Quách Mạc Nhược từng nhận xét: “Thơ của Hồ Chủ tịch đặt bên những bài thơ Đường, không biết bài nào hay hơn...”.

Tuyên Quang là nơi nhiều lần Bác đón sinh nhật và có những vần thơ nói về tuổi tác với tình cảm, trách nhiệm của Người đối với non sông đất nước và đồng bào, đồng chí.

Bác Hồ kính yêu của chúng ta có thói quen mỗi dịp sinh nhật, Người hay làm thơ nói về tuổi tác với tình cảm, trách nhiệm của Người đối với non sông đất nước và đồng bào, đồng chí. Hoặc trước những lời chúc của mọi người, Bác thường đáp lại bằng những bài thơ hóm hỉnh, nhẹ nhàng mà sâu sắc.

Năm 1949, Bác Hồ ở tại nhà ông Hà Văn Tung tại Bản Chương, xã Hùng Lợi (Yên Sơn). Sắp đến kỷ niệm sinh nhật Người, một số cán bộ đề nghị tổ chức lễ kỷ niệm sinh nhật. Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp lại bằng bài thơ “Không đề”:

         Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà

         Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già

         Chờ cho kháng chiến thành công đã

         Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta”.

Lúc này, cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn ác liệt, nên Bác không muốn tổ chức lễ mừng sinh nhật của mình. Bài thơ là hiện thân của sự giản dị, khiêm tốn rất mực ở Người. “Chưa nghĩ đến nhà” là thái độ dứt khoát khước từ những gì mang đến lợi ích cho cá nhân mình. Câu thơ thứ hai chuyển sang một chút hóm hỉnh, tươi vui, gợi mở thái độ lạc quan của Bác trước tuổi tác của mình để mọi người yên tâm về cái sự ngày rộng tháng dài đang còn phía trước: “Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già”.

Vẫn với tinh thần lạc quan cách mạng, ngày 19-5-1950, Chính phủ tổ chức lễ chúc thọ mừng Bác Hồ tròn sáu mươi tuổi tại Văn phòng Chủ tịch phủ (Thác Dẫng, thôn Lập Binh, xã Bình Yên, Sơn Dương). Bác Hồ ứng khẩu thành thơ:

         “Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,

         So với ông Bành vẫn thiếu niên.

         Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe,

         Trần mà như thế kém gì tiên”.

Bài thơ ngắn gọn, tự nhiên gợi đến sự tươi trẻ, vui vẻ, khỏe khoắn và tràn trề tinh thần lạc quan của Người. Trong khi mọi người hướng về Bác chúc thọ thì Bác vui vẻ tự so tuổi mình với tuổi ông Bành tổ (sống tám trăm năm, theo truyền thuyết) và thấy như vậy thì mình cũng chỉ như còn “thiếu niên”. “Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe” với Bác là tiêu chí của bản thân để làm việc, vạch ra con đường đấu tranh đánh đuổi kẻ thù xâm lược, giành tự do, độc lập cho dân tộc. Bài thơ thể hiện phẩm chất lạc quan yêu đời, sống tích cực, sống hăng say của Bác Hồ trong kháng chiến gian khổ.

Cùng với chủ đề trên, năm sáu mươi ba tuổi cũng ở tại Tuyên Quang, Bác làm bài thơ “Sáu mươi ba tuổi”. Bác phát triển thêm vần thơ tự sự rèn luyện sức khỏe và nuôi tinh thần minh mẫn, tự nói về mình nhưng cũng là nói với mọi người lời khuyên nhẹ nhàng. Qua đó, khiến cho mọi người yên tâm về Bác, cũng tự chỉnh đốn lại bản thân, nếu bất chợt có chút gì nao núng trước khó khăn gian khổ.

         Chưa năm mươi đã kêu già

Sáu mươi, mình vẫn nghĩ là đương trai

         Sống quen thanh đạm nhẹ người

Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung.

Làm thơ đáp lại tấm lòng ân nghĩa của nhân dân và đồng chí, nhưng tâm hồn và tư tưởng của Bác bao giờ cũng hướng đến động viên, cổ vũ nhân dân và chiến sỹ quyết tâm đuổi giặc cứu nước. Nhờ thế, từ thơ mừng sinh nhật, Người đã khéo léo chuyển sang thơ kêu gọi đồng bào kháng chiến một cách tự nhiên, thổi vào đó cả ước mơ và hy vọng của một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục, quả là một sự tài hoa hiếm có.

Nhìn chung, phong cách nghệ thuật trong thơ của Bác vô cùng phong phú và đa dạng ở các thể loại nhưng chúng lại nhất quán với nhau. Các tác phẩm được viết ở Tuyên Quang nói trên đều có thể xác định mục đích rõ ràng, tư tưởng sâu sắc, cách viết chân thực, sống động,... Bởi vì, các sáng tác của Người luôn hướng tới cuộc sống, niềm vui, ánh sáng nên chúng có sức hấp dẫn lớn, có sức tác động lên nhiều đối tượng trong quần chúng và đặc biệt là có sức sống bền lâu.

Tháng 5/2024

B.T.M.A

Tin tức khác

Emagazine

Được mùa lúa bản Dao

19-03-2026| 690 lượt xem

Bản Dao đón Tết

15-03-2026| 591 lượt xem

Bà cháu

10-03-2026| 579 lượt xem

Bảo tồn để phát triển

11-02-2026| 540 lượt xem

Cam sành Hàm Yên mùa thu hoạch

17-08-2024| 4.370 lượt xem