Tạ Bá Hương


Sớm ấy trời mưa khá to. Mưa trắng mặt. Sau những ngày tiết trời oi ả, cơn mưa như làm dịu đi sự khô khát của mặt đất. Cơn mưa đổ xuống như sự tích tụ, dồn nén bao ngày. Tôi ngồi trong phòng làm việc, khép lại cửa sổ, tiếng mưa ngoài trời cũng bớt gắt gỏng hơn. Bất chợt có tiếng chuông điện thoại. Người gọi đến từ số máy của nhà thơ Cao Xuân Thái. “H. ơi, ông Thái mất rồi, mất lúc hơn mười giờ trưa nay”. Giọng bà Điển, vợ ông, như nghẹn lại. Bà chỉ nói có vậy, rồi cúp máy. Tôi đón nhận tin nhà thơ Cao Xuân Thái mất trong nỗi bàng hoàng. Vẫn biết dạo này ông ốm nặng hơn, sự sống chắc cũng không còn kéo dài được bao nhiêu, nhưng sao tôi vẫn thấy phần nào đột ngột. Mấy hôm trước, lướt facebook, trên trang cá nhân của nhà thơ, thấy ảnh ông đang điều trị trong phòng cấp cứu của bệnh viện tuyến tỉnh. Nhìn hình ảnh ông nằm trên giường bệnh, dây dợ cắm xung cái cơ thể người gầy guộc, tiều tụy mà thương ông quá. Suốt hơn mười năm kẽo kẹt với bệnh tật, đã khiến sức khoẻ ông kiệt quệ rồi. Nhưng dường như có một phép màu nào đó, sau mỗi lần phẫu thuật, sau mỗi lần nhập viện cấp cứu, ông lại vực dậy, lại tiếp tục chiến đấu để giành giật sự sống. Hành trình khó nhọc, ông luôn bình thản đón nhận, nhưng không thoả hiệp. Hầu như cứ vài tháng, bà Điển, vợ ông, lại đưa ông vào nhập viện. Hơn mười năm, kể từ năm hai nghìn mười hai, sau thời điểm ông nghỉ hưu, căn bệnh ác tính bắt đầu xuất hiện trong cơ thể ông. Nó lớn dần lên, khiến ông đau đớn. Năm lần phẫu thuật cắt bỏ một phần nội tạng, ông giống như một chiến binh trải qua các trận đấu sinh tử và chiến thắng luôn thuộc về ông.
Vậy mà lần này thì ông đành chịu buông xuôi. Chẳng có phép màu nào và cơ hội nào cho ông nữa. Ngày ông ra đi, bầu trời vần vũ mưa. Mưa vẫn rì rào đổ xuống, trắng xoá một bên trời. Cây di lăng cổ thụ đứng trơ vơ ở cuối quảng trường Nguyễn Tất Thành đang oằn mình chống chọi với những đợt gió tràn qua. Nhìn mưa, bất chợt tôi lại nhớ đến câu thơ của ông:
Hoa di lăng sau bão
Vẫn thơm đằm bến xưa
Thương người đi lẻ bóng
Buồn một bờ sông mưa
Câu thơ hay, vụt sáng, chất chứa nhiều nỗi niềm. Giờ đây, khi nhớ lại, tôi bỗng giật mình, vì dường như những câu thơ ấy nó vận vào người ông. Cây di lăng, với thân gốc xù xì, cỗi cằn, vươn lên trong sự khắc nghiệt của thời tiết, nhưng vẫn âm thầm lách rễ vào khô khát, tích tụ từng mạch nguồn đất đai mà chững chạc vươn mầm. Để rồi, đến cuối mùa hạ, trên cái nền lá xanh biêng biếc, từng chùm hoa vàng bung nở ra như nắng. Qua dông bão, mùi thơm của loài hoa di lăng vẫn đằm sâu trên bến sông Lô, chứng kiến biết bao nhiêu sự thăng trầm của đời người. Với nhà thơ Cao Xuân Thái, ông gắn bó suốt nhiều năm bên thành Tuyên, gắn bó và đi qua nhiều mùa hoa di lăng nở. Cây di lăng vẫn còn đó nơi góc quảng trường, như một chứng tích về thời gian, nhưng ông lại trở thành “người đi lẻ bóng” trong một ngày trời mưa tầm tã.
Nhà thơ Cao Xuân Thái được ví như những cánh chim đầu đàn của văn học Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang cũ. Ông sinh tại Khuôn Kèn, Thái Lan, cầm tinh con chuột, năm nay vừa bước sang tuổi bảy mươi tám. Không hiểu cuộc đời đưa đẩy thế nào mà trước đây cả gia đình ông đều phiêu dạt sang tận nước bạn để sinh sống. Ông Sinh ra ở đó. Sau này, nghe theo tiếng gọi của Đảng, Nhà nước, gia đình ông quyết định hồi hương. Chuyện hồi hương tôi đã từng nghe ông kể lại. Thời điểm đó ông mới chỉ là cậu bé, gầy guộc vì đói ăn. Hành trình trở lại Tổ quốc là cái hành trình đầy ám ảnh với cậu bé Thái. Trong cái đoàn người dắt díu nhau về lại đất đai quê hương. Không ít người đã nằm lại vì sốt rét, vì bệnh tật và cả đói khát nữa. Cuối cùng thì ông và gia đình cũng về được đến quê hương. Quê ông ở tỉnh Ninh Bình, một vùng chiêm trũng, vốn đất chật, người đông. Mãi đến những năm đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ trước, theo khẩu hiệu: “Chiến sĩ khai hoang, phát triển kinh tế, văn hoá miền núi”, gia đình ông dời bỏ quê cũ, lên Tuyên Quang lập nghiệp. Làng ông ở gọi là làng Thái Bình, cách làng Ao Vệ của tôi vài cây số đường. Thời mới lớn, tôi từng nghe người làng nhắc đến tên ông. Họ nhắc đến ông, bởi ông là một nhà thơ, công tác dưới tỉnh. Thời đó, danh xưng nhà thơ được những nông phu quý trọng lắm. Tôi cũng chỉ nghe người làng nói thế, nhưng chưa có dịp nào được gặp ông và trong ý nghĩ non nớt của tuổi trẻ, tôi cũng chưa thể hình dung ra nhà thơ bằng xương, bằng thịt nó sẽ như thế nào.
Trong muôn nẻo của cuộc sống đời thường, mọi thứ rồi cũng nhanh chóng quên đi. Chuyện người làng tôi nhắc đến nhà thơ Cao Xuân Thái rồi cũng quên đi. Mãi sau này, khi tách tỉnh Hà Tuyên thành tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, tôi nghe người ta bảo, ông đã đưa cả gia đình lên miền biên viễn Hà Giang sinh sống. Ông vẫn làm thơ, công tác tại Hội Văn học nghệ thuật tỉnh. Trên miền cao nguyên đá, với chất liệu độc đáo và phong phú, tên tuổi nhà thơ Cao Xuân Thái càng được khẳng định trong lòng độc giả cả nước. Thơ ông hay hơn, sâu lắng hơn, xuất hiện nhiều hơn trên các báo, tạp chí lớn của Trung ương. Ngay cả báo Nhân Dân cũng từng viết về ông như thế này: “Chính miền cao nguyên đá đã “bầu” lên tên tuổi của nhà thơ Cao Xuân Thái”. Do đó, ông nhanh chóng trở thành người đầu tiên là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Trong khi tên tuổi của ông được nhiều người biết đến, thì tôi mới chỉ là người tập tọe bước chân vào nghiệp phu chữ. Tôi mới chỉ viết theo cảm xúc đơn thuần, một số bài cũng mới bắt đầu đăng tải trên báo Tân Trào và báo Tuyên Quang, nhưng mờ nhạt. Tôi thuộc nhóm tác giả “chưa qua nổi cầu Móc Giằng”. Câu nói ấy ám chỉ những người hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn khá non nớt, thành tựu chưa có gì, tác phẩm chưa vượt qua giới hạn ở địa giới tỉnh nhà.
Đầu những năm hai nghìn, một lần đạp xe xuống thị xã Tuyên Quang chơi, gặp nhà thơ Đinh Công Thuỷ, anh kéo tôi sang bên kia cầu Nông Tiến, nơi có trại sáng tác văn học, nghệ thuật được mở tại Nhà khách Công đoàn. Dịp ấy chẳng hiểu sao lại có cả văn nghệ sỹ của Tuyên Quang và Hà Giang cùng tham gia trại. Vừa bước chân vào hành lang Nhà khách, nhận ra nhà văn Trần Bé cũng vừa trong phòng đi ra. Tôi hỏi về nhà thơ Cao Xuân Thái, anh Bé chỉ tay vào trong phòng, bảo:
- Vào đi, chú Thái đang ở trong ấy.
Trong ánh sáng đỏ quạch của ánh điện yếu ớt, một người đàn ông có khuôn mặt khắc khổ, nước da màu đồng hun đang ngồi lặng lẽ trên chiếc ghế gỗ. Mái tóc buông dài, che khuất một phần khuôn mặt. Ông ngồi đó hút thuốc. Những sợi khói màu trắng đục bay lên, khiến căn phòng như vừa được phủ lên một lớp sương mỏng. Tôi rón rén bước lại gần và tự giới thiệu. Nghe xong, ông à lên một tiếng, rồi kéo tôi đến ngồi xuống chiếc ghế được kê ngay cạnh ông. Đó là lần đầu tiên tôi được gặp ông, gặp một nhà thơ Cao Xuân Thái bằng xương, bằng thịt. Hoá ra nhìn ông cũng rất giống một nông phu, với vẻ lam lũ và phong sương. Dịp đó ông tặng tôi tập thơ của ông, viết về mảng đề tài thiếu nhi. Tập sách vừa được Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành, sách do Nhà nước đặt hàng, in ba vạn bản, được cấp cho các đơn vị trường học thuộc địa bàn miền núi trong cả nước. Tập sách tuy mỏng, nhưng lại chứa đựng nhiều kiến thức và hàm lượng văn học. Chỉ nêu ra một ví dụ thôi. Ở bài thơ đố về dây bí xanh, với nụ hoa mà ông ví như nụ nắng, làm câu thơ trở nên giàu sức gợi:
Như con rắn xanh
Bò lan bò toả
Cõng nắng trên lưng
Vừa đi vừa đẻ.
(Dây bí)
Suốt buổi chiều hôm đó, tôi ngồi với ông, nghe ông nói chuyện về thơ, về cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số trên cái miền biên viễn xa xôi. Ông bảo, thơ ông đều hình thành qua chất liệu từ chính hiện thực nơi nhọc nhằn ấy. Suốt một phần đời nhiệt huyết của mình, ông dành cho vùng cao nguyên đá. Đá cho ông sức bền bỉ và khát vọng của con người trước cuộc đời, trước thiên nhiên. Đá cho ông một tâm hồn đồng điệu, sẻ chia. Đá cho ông biết lược bỏ những hạt lép, bông von trên cánh đồng ngôn từ, để tìm ra những hạt chữ chắc mẩy. Những hạt chữ trải qua thời gian vẫn sáng lên, lấp lánh.
Không có đá tôi đâu thành thi sỹ
Dẫu viết ngàn trang, dẫu nói ngàn lời
Tôi thấm hết nghĩa tình nơi cực Bắc
Gương mặt quê hương, đá núi, đời người.
(Đá Đồng Văn)
Những tên đất, tên làng nơi biên cương cực Bắc điệp trùng hiện lên trong mỗi tác phẩm thơ, bút ký của một tâm hồn thơ, vừa dữ dội, gồ ghề, vừa mang vẻ đẹp đượm buồn, nhưng giàu chất suy tưởng.
Xuống chín thang
Gặp Nho Quế thác ghềnh
Lại khúc khuỷu dốc đèo Sơn Vĩ
Tà Ngày, Phìn Lò… ngang trời gió hú
Ngô trổ cờ ngàn ngạt dọc đường biên.
(Sơn Vĩ ngang trời)
Nhớ hồi còn học ở trường Viết văn Nguyễn Du, tôi từng một mình đi xe máy lên Hà Giang để gặp ông. Ông nhẫn nại đưa tôi đi thăm cơ quan Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, nơi ông đang nhận vị trí Chủ tịch Hội, rồi đưa tôi về nhà ông để nghỉ lại. Trong cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông vùng cao, bữa rượu được bày ra tới tận khuya. Vẫn chỉ là câu chuyện văn chương, chuyện cuộc sống đời thường. Câu chuyện chỉ có tôi và ông trong căn nhà nhỏ nơi góc phố. Bất chợt ông hỏi:
- Muốn lên Hội làm việc không, gửi hồ sơ lên đây, chú giúp.
Chuyện việc làm sau khi ra trường là vấn đề mà tôi đang rất quan tâm. Nghe ông nói vậy, tôi định bụng sẽ lên với ông, nhưng sau đó lại thôi. Hình như duyên nợ với vùng cao, với miền biên viễn trong tôi chưa đủ lớn để mình đón nhận nó. Sau này, khi nghỉ hưu, ông chuyển về sinh sống tại thị xã Tuyên Quang, thẻo đất mà ông từng gắn bó một phần tuổi trẻ ở đó. Nhà ông cách nhà tôi không xa. Vậy nên tôi thường có nhiều thời gian qua chỗ ông chơi. Tôi vẫn gọi ông bằng chú, xưng cháu. Hai chú cháu quý mến nhau không chỉ cả hai cùng là dân văn nghệ, mà còn có sự đồng cảm về nguồn gốc quê hương. Quê tôi và ông đều ở Ninh Bình, cùng là dân khai hoang, rồi làng tôi với làng ông cách nhau không xa, chỉ một thôi đường ngắn. Tôi ở Thái Hòa, ông ở Thái Sơn. Nghe đâu mấy nữa xã Thái Sơn sẽ nhập vào xã Thái Hoà, tôi và ông vô tình lại trở thành người cùng xã. Chưa kịp mừng vì sắp trở thành người cùng xã thì ông đã ra đi trong một ngày mưa gió đầy trời đang trút xuống.
Trong cuộc sống này, có những cuộc gặp gỡ rồi cũng có thể khiến chúng ta quên đi nhanh chóng. Nhưng cũng có những cuộc gặp gỡ để lại cho chúng ta một sợi dây liên kết bền chặt. Từ ngày ông về lại căn nhà bên bờ sông Lô, gia đình tôi và gia đình ông trở nên thân thiết hơn. Ông quý bọn trẻ con nhà tôi, nên thường có gì ăn đều bảo vợ chồng tôi cho chúng đến chơi, hoặc đôi khi ông lại rủ đám trẻ đi câu. Ngoài nghiệp viết, công việc đi câu mang lại nhiều cảm xúc cho ông. Lúc còn khoẻ, cứ vài hôm ông lại gọi:
- Cho bọn trẻ ra đây câu với ông. Mồi và cần câu ông chuẩn bị xong rồi đấy.
Trên một cái ao nhỏ, phía sau khu đô thị Vincom, người ta vẫn thấy một ông già, với dáng người lọm khọm ngồi ở đó, lặng lẽ buông cần câu. Cá trong chiếc ao nhỏ này chỉ có loài rô phi, đòng đong, chứ chẳng có cá to. Vậy mà ông vẫn bền bỉ ngồi lặng hàng giờ, như thể mọi thứ xung quanh đều không có cách nào tác động được vào tâm trí của ông. Cứ say sưa như thế, nhưng mỗi lần đi câu về, thành quả mang lại chả đáng bao nhiêu. Số thành quả ấy ông nhẫn nại ngồi mổ, làm sạch, gọi người đến để cho, chứ không ăn. Ai có hỏi, ông chỉ bảo:
- Tôi đi câu bóng mình.
Trọn một đời dành cho thơ, cho công việc sáng tạo văn học, nhà thơ Cao Xuân Thái đã cháy hết mình với nghiệp chữ. Gia tài mà nhà thơ để lại cũng khá đồ sộ, với mười chín đầu sách, bao gồm cả thơ và bút ký. Một số tập sách tiêu biểu của ông, như: Ngược miền thông reo, Một rẻo Mê Công, Thương lắm những ngày xa, Nơi cửa trời, Vườn bà, Âm điệu tháng hai, Dưới chân Mã Pì Lèng…v.v… Ông đã từng đoạt nhiều giải thưởng văn học ở Trung ương, đặc biệt là tập bút ký “Một rẻo Mê Công” của ông đã đoạt giải thưởng Văn học Asean, trở thành tác giả thứ hai ở Tuyên Quang vinh dự được nhận giải thưởng danh giá này. Ngẫm ra mới thấy, hành trình sáng tạo nghệ thuật bao giờ cũng là hành trình đơn độc, nhọc nhằn và gian nan nhất. Ông nhận thức được điều đó. Vậy nên, ông luôn có trách nhiệm với từng con chữ mà mình viết ra. Có lần tôi đến chơi, thấy ông đang đánh trần ngồi viết. Mồ hôi chảy ròng ròng. Ông viết trên giấy chứ không dùng máy tính. Nhìn bản thảo của ông, khiến tôi hoa cả mắt. Trên giấy, chỉ vài khổ thơ viết bằng mực xanh, nhưng số chữ tẩy xóa, thêm bớt bằng mực đỏ thì chi chít, chiếm gần hết cả trang giấy. Ông đang lược bỏ đi những hạt chữ lép, để giữ lại những hạt chữ mẩy tròn.
Tôi đùa:
- Nhìn chú như đang đi cày.
Ông bảo:
- Làm thơ cốt phải đưa được cái tình vào chữ.
Cái tình của ông không chỉ gửi gắm trong văn chương mà còn được thể hiện ở ngay trong cuộc sống thường ngày. Đúng như lời nhận xét của nhà văn Đỗ Bích Thuý, người được ông lôi ra “ở cái xó núi” Vị Xuyên và được ông dìu dắt trong những năm đầu đến với nghiệp viết: “Chú Thái là người thơ hiền lành nhất thế gian. Hiền lành, tử tế, không bao giờ nói xấu ai, không ghét ai, hay muộn phiền, hay nói những câu nghe rất nhụt chí”. Ấy vậy mà cuộc đời ông lại trải qua nhiều dông bão, nhiều mất mát và đắng cay. Thời niên thiếu thì phiêu dạt, đói khổ. Thời mặc áo lính, bàn chân ông đi qua những cánh rừng Trường Sơn vời vợi mây ngàn. Lúc ra quân, tuy may mắn không để lại sau những trận đánh một phần xương thịt của mình, nhưng chất độc da cam/dioxin đã kịp ngấm vào cơ thể ông. Rồi bệnh tật đeo bám ông suốt hơn mười năm trời. Nỗi đau thể xác lẫn tinh thần cứ như cái vòi bạch tuộc, vươn ra quấn chặt lấy cuộc đời ông mà không thể nào gỡ ra được. Chơi với ông nhiều năm, nhưng tôi chưa từng thấy ông kêu ca, hay muộn phiền vì điều đó. Có lẽ cái phần đời dông bão đổ tràn xuống cuộc đời ông, ông đành cất kĩ ở trong lòng và gắng gượng chịu đựng, gắng gượng vượt qua. Chỉ duy nhất một lần tôi thấy ông khóc, khi ông đọc thơ của mình cho cái gã phu chữ như tôi nghe:
Mặc ai hào nhoáng thảnh thơi
Câu thơ tôi viết cho vơi nhọc nhằn
Lạnh đêm rượu đắng lên tăm
Mảnh trăng con mắt đăm đăm cuối trời.
(Tiếng đêm)
Nước mắt ông bất chợt lăn dài trên đôi gò má phong sương. Hẳn là chạm vào miền kí ức nào đó, khiến ông xúc động. Thì ra những câu thơ ông viết để chữa lành và làm vơi đi nỗi nhọc nhằn mà bản thân ông phải gánh chịu trên cái hành trình người. Bây giờ thì nỗi nhọc nhằn ấy ông đã trút bỏ. Nhớ lại cái hôm ông mất, vì lí do khách quan, nên tôi không thể đến để tiễn ông đoạn đường cuối. Sau hôm ông nằm xuống, hai vợ chồng tôi trở lại căn nhà ông, thắp cho ông nén nhang. Qua làn khói mơ hồ cuộn bay trong không gian trầm lắng, thì thầm tiếng kinh kệ, tôi như thấy bóng dáng của ông, cái bóng dáng guộc gầy, khuôn mặt xương xương và chùm râu dài buông thõng. Đôi mắt ông đượm buồn, ánh mắt nhìn xa xôi. Lúc ấy, ngoài trời bất ngờ đổ trận mưa rào, cơn mưa như tức tưởi. Phía xa kia, nơi góc phố quảng trường, cây di lăng vẫn đứng đó, nhạt nhòa trong mưa rơi. Chỉ ít thời gian nữa, trên tán lá dày và xanh, những chùm hoa vàng như nắng sẽ bung nở một mùa hoa mới. Nhưng năm nay, năm đầu tiên ông không còn ở lại để chứng kiến một mùa hoa trôi đi.
T.B.H