Trở về đất mẹ

Thứ năm, ngày 24-04-2025, 09:55| 869 lượt xem

Bút ký của Tạ Bá Hương

 

 

 

Bà Nguyễn Thị Nghị. Ảnh của Nguyễn Cường

                                                                

 

 

 

 

Ngày đưa ông về quê, thời tiết đang cữ tháng ba. Cái rét nàng Bân vẫn còn chưa chịu lùi lại để nhường chỗ cho những ngày nắng ấm. Hoa gạo bên góc làng cứ vòi vọi đâm lên trời, từng cánh hoa nhỏ xuống như vết máu bầm. Đón được ông về, bà vui lắm. Thế là nỗi canh cánh trong lòng bấy lâu nay giờ đã được vợi đi phần nào. Năm nay bước sang tuổi chín mươi, cũng chưa biết là sẽ đi theo ông lúc nào. Dạo trước, tuổi già, bà thường đau yếu liên miên. Cái chân, cái tay, rồi các khớp xương đau nhức cả. Bà thường nằm một chỗ, mọi sinh hoạt cá nhân đều phải nhờ con cháu trong nhà đỡ đần cả, chứ một mình bà không thể nào tự chăm sóc bản thân được. Thế nhưng, có một điều kì lạ là, trước thời điểm đón được phần xương cốt của ông về quê, bà tự nhiên đứng dậy đi được. Tuy bước chân chậm chạp, nặng nhọc, nhưng không cần ai đỡ. Bà tự đi bằng chính đôi chân của mình. Có lẽ, niềm vui và cả nỗi nhớ ông đang âm ỉ cháy lên trong lòng bà, nó trở thành chất xúc tác quan trọng, giúp bà khỏe ra. Con cháu trong nhà thấy vậy đều mừng rỡ khôn siết. Thế nhưng, sao trong sâu thẳm của đôi mắt mờ đục kia, chỉ thấy ánh nhìn xa vắng. Hôm xương cốt của ông được đưa về nhà, người ta không nhìn thấy một giọt nước mắt nào của bà. Bên linh cữu của ông, được phủ lên màu đỏ lá quốc kỳ, với ngôi sao vàng năm cánh, bà ngồi phủ phục xuống, như muốn tìm lại hơi ấm của người chồng đã rời xa bà suốt hơn năm mươi năm qua. Cả một quãng người dài đằng đẵng ấy, một mình bà vò võ chờ ông trong niềm hi vọng mong manh. Nước mắt của người đàn bà đau khổ, từng khóc thầm trong hiu quạnh. Nước mắt mặn mòi đổ ra, những ngọn gió đêm, hay những giọt nắng cháy đã lặng lẽ lau khô đi. Bà không còn nhớ nổi mấy mươi năm qua, đã có bao nhiêu giọt nước mắt như vậy đổ xuống cuộc đời bà.

Bà có họ tên đầy đủ là Nguyễn Thị Nghị, sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi ba, vợ của liệt sĩ Nguyễn Xuân Hạnh.

Bây giờ tuổi đã cao, nhiều sự kiện trong đời diễn ra, bà đều như quên đi cả, chả còn nhớ được bao nhiêu. Tuy vậy, cái ngày ông rời bà, rời quê ra đi thì bà vẫn còn nhớ như in. Nó trở thành dấu mốc quan trọng để bà luôn nhớ về ông. Đó là năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám, lúc ấy đất nước còn đang trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bom đạn cày xới lên trên khắp cơ thể đất đai Tổ quốc. Cũng giống như bao lớp người đàn ông thuở ấy, ông sẵn sàng chia tay vợ con, chia tay mảnh đất thấm đẫm bao kỉ niệm để lên đường cầm súng, chống giặc. Ông bà có với nhau bốn mặt con, lẽ ra ông nên ở bên cạnh bà để cùng gánh vác gia đình, chăm lo con cái. Vậy mà, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông đành dứt áo ra đi. Việc ấy bà còn không nỡ cản ông. Trong lòng bà lúc bấy giờ chỉ nghĩ rằng, Tổ quốc là trên hết. Khi Tổ quốc bị xâm lăng, trách nhiệm đứng lên cầm súng giết giặc là của cả dân tộc, chứ đâu chỉ có mình ông. Vậy nên bà chấp nhận gian khổ, hi sinh, một mình vò võ chờ chồng, rau cháo nuôi con. Nhìn bốn đứa trẻ gầy guộc như cái rãi khoai, lòng bà cũng không khỏi xa xót. Đặc biệt, lúc này, ngoài bốn mụn con, trong bụng bà còn một sinh linh nữa đang âm ỉ hình thành. Nó mới chỉ đang nằm trong bụng mẹ được vài tháng tuổi, là giọt máu của ông, nên bà tự hứa với lòng mình là sẽ gắng gượng sinh nó ra, nuôi nấng nó lớn lên. Ngày chia tay bà để ra chiến trường, ông dặn:

- Nếu đẻ con ra, dù là gái hay trai đều đặt tên là

Nam nhé.

Ông chỉ dặn dò có vậy, rồi đi miết. Bà bảo:

- Sở dĩ ông nhà tôi dặn đặt tên con út là Nam vì ông biết mình sẽ vào Nam chiến đấu.

Tên Nam không chỉ là kỉ niệm của ông với chiến trường mà còn là cái tên gợi nhắc ông về gia đình, quê hương yêu dấu. Cùng với đồng đội của mình, ông đã trải qua nhiều mặt trận nóng bỏng. Dấu chân người lính như ông từ Tuyên Quang đã xuôi vào tận tỉnh Bình Thuận. Vừa cầm súng chống giặc, ông vừa tham gia vận chuyển quân nhu cho bộ đội. Dù cuộc chiến ác liệt, nhưng ông vẫn thường viết thư về thăm bà, hỏi han con cái và bà con làng xóm. Sau ngày ba mươi tháng tư, thống nhất đất nước, cả dân tộc vui mừng trong chiến thắng. Những người lính lần lượt trở về quê hương. Ngay cả nơi miền quê của ông bà, nay thuộc xã An Tường, thành phố Tuyên Quang, đã có biết bao người trở về. Có người trở về lành lặn. Cũng có người trở về thiếu khuyết một phần cơ thể. Bà ngày đêm ngóng tin tức về ông. Bà vẫn hi vọng, ông sẽ trở về. Bà đợi từ ngày này sang ngày khác. Đã bảy năm ông rời quê, ra mặt trận, ông vẫn chưa một lần trở về với bà. Sau này, khi nhận giấy báo tử, ghi: Liệt sĩ Lê Xuân Hạnh, hi sinh ngày mùng mười, tháng ba, năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm. Còn địa điểm ông hi sinh thì bà chỉ nhớ loáng thoáng là tại chiến trường miền Trung. Mãi sau này bà mới biết thông tin chính xác là ông hi sinh vào thời điểm bộ đội ta vừa tiến hành giải phóng Tây Nguyên xong, ông và đồng đội của ông nhanh chóng hành quân xuôi về Nam, qua tỉnh Bình Thuận. Đến đây, ông và đồng đội của mình gặp ổ phục kích của địch. Cuộc chiến nổ ra ác liệt, bất ngờ. Ông và đồng đội đã chiến đấu dũng cảm, nhưng do sự chênh lệch về quân số, nên bộ đội ta hi sinh nhiều. Lá thư cuối cùng ông viết là vào năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, đúng cái năm mà ông hi sinh. Tức là cũng vào cữ tháng ba này, cách đây năm mươi năm. Dịp ấy, hoa gạo đỏ bầm như máu, nở dọc các chiến trường hành quân. Cái chết của ông là ngày mùng mười tháng ba, chỉ còn cách một tháng nữa là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vậy là ông không còn cơ hội nào để về lại nhìn mặt đứa con gái út mà ông chưa một lần biết mặt.

Nhận giấy báo tử, bà như đổ gục xuống. Bảy năm vò võ đợi chờ, hi vọng, cuối cùng thì ông vẫn không trở về. Người thiếu phụ mới ngoài ba mươi tuổi sẽ phải sống những tháng ngày tiếp theo như thế nào đây? Cuộc đời bà là chuỗi ngày vất vả. Suốt từ khi sinh ra đến giờ, bà chưa một ngày được nhàn nhã. Lấy chồng, bà hi vọng cuộc đời bà sẽ có một bến bờ hạnh phúc mới. Nhưng ở với nhau bảy năm, trong căn nhà siêu vẹo, tuy bữa đói, bữa no, nhưng ở đó luôn tràn ngập niềm vui và tiếng cười hạnh phúc. Cuộc đời bà giống như vừa bước sang một trang mới, rũ bỏ tháng ngày đau khổ và đói rách. Bà bảo:

- Đời tôi phải viết được tiểu thuyết đấy anh ạ.

Bà kể cho tôi nghe về cuộc đời bà. Cha mẹ chết từ khi bà còn nhỏ. Bà phải đi ở đợ, làm thuê làm mướn để kiếm cơm qua ngày. Cứ có ai thuê gì thì bà làm nấy. Dấu chân lang bạt khắp nơi. Quê bà ở dưới Đoan Hùng, thuộc tỉnh Phú Thọ. Sau này, trên bước đường lưu lạc, bà lên với Tuyên Quang, rồi gặp ông. Hai mảnh đời bất hạnh, đói khổ đã bù đắp cho nhau, nương tựa vào nhau để xây dựng nên hạnh phúc mới. Người con cả Lê Xuân Hùng ra đời trước. Rồi đến Lê Bích Nhung, Lê Bích Ngọc, Lê Xuân Hà cũng lần lượt được sinh ra. Nhà thêm bốn miệng ăn, trở thành gánh nặng cơm áo. Thời điểm bấy giờ, đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu, miền Bắc mới vừa kịp bắt tay vào xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam đang chìm trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. Do vậy, các làng mạc miền Bắc bị tàn phá, người nông dân buộc phải gắng gượng làm lụng, vừa giải quyết cái ăn hàng ngày, vừa đảm bảo lương thực, thực phẩm chi viện cho chiến trường miền Nam. Những đứa trẻ nheo nhóc. Đám con của ông bà cũng nheo nhóc như vậy. Thế nên, từ ngày ông hi sinh, bà một mình buộc phải vất vả gấp đôi. Cái nghèo, cái đói cứ bám lấy cuộc đời bà triền miên. Tuy nghèo đói, nhưng bà vẫn chịu đựng được. Điều mà bà đau đáu nhất là làm sao tìm thấy phần mộ của ông. Trên giấy báo tử chỉ ghi ông hi sinh ở mặt trận Bình Thuận, nhưng cái địa danh ấy bà cũng không tỏ rõ nó ở chỗ nào. Cả đời chỉ quanh quẩn với ruộng đồng, đã bao giờ bà dám bước chân ra khỏi lũy tre làng đâu. Nơi ông nằm trở nên xa vời quá. Ngay cả thông tin về ông cũng ít ỏi quá. Hơn nữa, điều kiện nghèo túng, bà không có điều kiện để đi tìm lại mộ phần của ông. Mãi sau này, khi con cái lớn lên, trưởng thành, gia đình bà mới có điều kiện đi dọc dài đất nước, với hi vọng tìm thấy mộ ông, đưa ông về nằm trên quê để tiện đường hương khói.

Hành trình đi tìm mộ ông - liệt sĩ Lê Xuân Hạnh là hành trình vô cùng gian nan. Hôm tôi đến chơi, có gặp anh Lê Xuân Hà, người con thứ tư của bà vừa từ Cộng hòa Liên bang Đức trở về để đón bố từ Bình Thuận ra Tuyên Quang. Anh nghẹn ngào bảo:

- Hễ nghe thông tin, dù mong manh về mộ phần của bố là anh em chúng tôi sẵn sàng lên đường ngay.

Lúc ông mất, anh Hà khi đó mới hai tuổi. Thế nhưng, trong ký ức của anh vẫn còn mường tượng ra vóc dáng của cha mình. Ông vẫn thường bế ẵm anh qua những cánh đồng làng hun hút gió, hay dỗ dành anh những lúc anh quấy khóc. Tình yêu và nỗi nhớ anh dành cho bố cứ lớn dần theo năm tháng. Sau này lớn lên, anh cùng với các anh chị đã đi nhiều nơi để tìm lại phần mộ của bố. Những chuyến hành trình như vậy không khác nào “mò kim đáy bể”. Nơi mà lặn lội đi tìm nhiều nhất của gia đình anh là Quảng Trị. Suốt nhiều năm tìm kiếm, phần mộ của bố anh vẫn bặt vô âm tín. Nhưng anh không nản chí, bởi anh tin rằng, linh hồn ông vẫn trở về, chỉ lối cho anh và các thành viên trong gia đình sớm tìm thấy phần mộ của ông. Niềm tin ấy như sợi dây gắn kết giữa người sống và người chết, để một ngày bỗng vỡ òa cảm xúc. Ấy là vào năm hai nghìn không trăm hai mươi ba, người anh trai họ của ông được tìm thấy phần mộ tại tỉnh Bình Thuận, khi người anh trai này đã ngã xuống trong một trận đánh ác liệt năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm. Tại nghĩa trang này, người ta thông tin lại là có liệt sĩ Lê Xuân Hạnh nằm ở đó. Cả gia đình anh Hà đều mừng vui không xiết, nhất là bà Nghị. Hơn năm mươi năm qua, bây giờ bà mới có được thông tin chính xác vị trí ông nằm lại. Bấy giờ sức khỏe tuy không tốt, nhưng bà vẫn nằng nặc yêu cầu con cái sớm cho bà vào đó, được trực tiếp đưa bàn tay gầy guộc, nhăn nheo của mình sờ lên phần mộ của ông. Trước yêu cầu của bà, cả gia đình không nỡ từ chối, đành ngồi lại họp bàn, lên phương án tốt nhất để đảm bảo sức khỏe cho bà trên hành trình xuôi về Bình Thuận.

Anh Hà bảo:

- Đưa mẹ tôi đi vào đó mà cả gia đình cứ lo ngay ngáy.

- Chuyến đi thuận lợi chứ anh?

- Rất may là mọi thứ đều thuận lợi cả.

Biết tin tìm thấy mộ ông, bà như khỏe hẳn ra. Bà vực dậy, đi lại quanh nhà để con cái yên tâm. Khi ngày giờ được ấn định, bà lên chuyến máy bay từ sân bay Nội Bài, đáp xuống sân bay Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận trong một buổi chiều nơi thành phố biển đầy nắng gió. Mộ phần ông được quy tụ tại nghĩa trang liệt sĩ Hồng Sơn, một nghĩa trang nằm rìa Quốc lộ 1A, thuộc huyện Hàm Thuận Bắc. Nơi đây có hàng nghìn ngôi mộ xây giống nhau, nằm thẳng hàng, ngăn nắp. Bà hình dung ra những người lính khi còn sống luôn xếp thẳng hàng lúc hành quân. Đến lúc nằm xuống nơi đất mẹ, họ vẫn ở bên nhau, thẳng hàng, thẳng lối như vậy. Trong cái buổi chiều nắng gắt ấy, bóng bà nhỏ bé, liêu xiêu, đôi chân rờ rẫm bước trên đất bỏng, lần tìm mộ phần của ông trong cái nghĩa trang dài hun hút. Ông nằm đây cùng đồng đội đã hơn năm mươi năm qua, lạnh lẽo dưới cái màu xám đục của đất, của cát. Nhưng linh hồn ông cũng được khuây khỏa phần nào, bởi mộ phần của ông luôn được đồng đội, các cơ quan chức năng và người dân Bình Thuận thường xuyên nhang khói, quét dọn. Nước mắt sau hơn năm mươi năm gặp lại, cứ trào ra, mặn chát, mặn hơn cả nước biển nơi này. Bà xúc động, cứ ngồi chết lặng trong buổi chiều hè oi ả. Đôi tay khô gầy lặng lẽ đặt lên đá lạnh, cái màu đỏ của đá trên ngôi mộ ấy lại giống như những giọt máu người.

Bà bảo với tôi:

- Thương lắm anh ạ. Cả nghĩa trang bao nhiêu là mộ.

Sau chuyến đi của bà và các con vào rẻo đất duyên hải miền Trung, phải đến hai năm sau, ý nguyện di dời mộ phần của ông về Tuyên Quang mới thực hiện được. Thời điểm ấy cũng là đang cữ tháng ba. Tháng ba, mùa hoa gạo nở đỏ bầm trên khắp các làng mạc, núi đồi. Thứ hoa ấy nhắc về những ngày đói giáp hạt khi xưa. Trong dân gian từng có câu: “Tháng ba, ngày tám”, mang ý nghĩa là rằng, tháng ba tức là khoảng thời gian vào tháng ba âm lịch hàng năm, lúc đó lúa chưa tới vụ thu hoạch, rau màu mùa lạnh đã tàn mà mùa hạ chưa tới, cây trái chỉ mới ứ nụ, gạo trong nhà đã vơi cạn, báo hiệu cái đói đang cận kề. Chỉ có hoa gạo là sẵn, nhưng hoa gạo không là lương thực nuôi sống con người. Thứ hoa ấy đối với bà, nó còn là kỉ niệm, là thời khắc mà ông hi sinh khi chỉ còn một tháng nữa là cả dân tộc hòa vui trong không khí của ngày đại thắng. Cả mười năm có lẻ, bà và các con đau đáu đi tìm mộ ông. Bây giờ tìm thấy phần mộ ông rồi, bà và các con của bà không thể để ông nằm ở rẻo đất duyên hải miền Trung cùng với các liệt sĩ khác nữa, mà phải đưa ông về quê nhà. Đó mới là nơi quê hương, xứ sở gần gũi, là nơi ông được sinh ra, lớn lên và có với bà năm mặt con. Nơi đó còn là núm nhau của ông được chôn xuống đất, là nơi mồ mả tổ tiên, anh em dòng họ và cả bà con lối xóm đã nằm xuống, sau khi kết thúc một hành trình người trên cõi tạm. Và, nhằm đúng vào tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm này, sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết với chính quyền sở tại, phần mộ của ông đã được đưa về quê nhà an táng.

Khỏi phải nói cảm xúc của bà trong dịp ấy. Nó vừa buồn tủi trong nỗi mất mát, vừa vui mừng khi trách nhiệm của bà đã làm trọn với ông. Cả một đời bà là sự hi sinh cao cả. Bà hi sinh vì chồng, vì các con. Sự hi sinh ấy không thể nào đong đếm hay định lượng được. Mấy chục năm qua, cả tuổi trẻ của bà lăn lộn với công việc đồng áng, gom góp từng hạt thóc gầy guộc trên đồng đất làng mà nuôi dạy con cái. Năm người con của bà sau này đều tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm ổn định, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thế là đời bà đã mãn nguyện rồi. Giờ bà lại có thêm niềm mãn nguyện nữa là trời còn cho sống để chứng kiến cái ngày đưa ông về quê nhà. Hôm ấy, phần xương cốt của ông được đựng trong một chiếc tiểu sành, trên phủ lên lá quốc kỳ màu đỏ, với ngôi sao năm cánh. Sau khi tiến hành làm lễ cho ông xong, gia đình và các cơ quan chức năng đưa ông đến an nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh. Trong đoàn người đưa tiễn ấy có cả lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; các sở, ban, ngành; lãnh đạo thành phố và bà con lối xóm. Nom ai cũng bùi ngùi xúc động, chia sẻ về sự hi sinh anh dũng của người lính Cụ Hồ - liệt sĩ Lê Xuân Hạnh, và cả sự mất mát, sức chịu đựng phi thường của người vợ - bà cụ Nghị trong suốt mấy chục năm qua.

Những nén nhang thắp lên, bập bùng cháy đỏ trên phần mộ của ông tại quê nhà, khiến lòng bà như ấm lại. Chín mươi tuổi đời, đôi chân trần của bà đã bước qua gần một thế kỷ đời người, với biết bao nhiêu thăng trầm, cay đắng. Cũng may là con cháu đều trưởng thành, bà thấy lòng mình không có phần nào hổ thẹn với ông. Bà làm tất cả sức lực của mình vì sự kỳ vọng của ông. Ngày ra đi, ông bảo, sau khi nước nhà độc lập, không còn bóng dáng quân thù, ông sẽ trở về, cùng bà gánh vác gia đình, lo cho con cái. Thế mà sự kỳ vọng ấy mãi mãi ông sẽ không thể nào thực hiện được. Mình bà chấp nhận cam chịu nỗi vất vả để lo toan cái phần việc mà ông san sẻ lại cho bà. Bà bảo, số phận ông trời bắt thế thì mình phải thế, có cưỡng lại cũng không được. Bây giờ thì bà toại nguyện rồi. Những lúc cơ thể khỏe mạnh, bà lại nhờ con cháu đưa lên phần mộ của ông, thắp cho ông nén nhang, ngồi tâm sự với ông cho vơi đi nỗi buồn của tuổi già. Mấy hôm nay, khi phần mộ của ông đã xong đâu vào đấy cả, bà có linh cảm là ông đang ở rất gần bà. Có đêm, bà mơ thấy ông, vẫn dáng người nhỏ nhắn, khắc khổ, nhưng ánh mắt thì tươi lắm. Ánh mắt ấy cứ chăm chăm nhìn bà, vừa âu yếm, vừa như xa xôi, vời vợi.

Hôm tôi đến thăm bà cũng đúng vào dịp cái rét nàng Bân đang ào ạt ùa về. Thấy tôi, bà lập cập ra mở cửa. Bà nắm chặt lấy tay tôi, bàn tay của bà nhăn nheo, khô gầy mà ấm áp. Bà bảo, dạo này gặp rét, khớp xương cứ đau nhừ cả ra. Ngồi với bà trong buổi chiều căm căm rét, những câu chuyện bà kể cho tôi nghe lại trở thành những bài học quý giá về đức hi sinh, dâng hiến đời người cho giá trị tốt đẹp của dân tộc và cuộc sống tươi đẹp, hồi sinh hôm nay. Và, tôi hiểu rằng, không có sự hi sinh nào là vô nghĩa cả, nếu sự hi sinh ấy đều vì cái chung, vì sự trường tồn của Tổ quốc.

                                                                          T.B.H

Tin tức khác